Công lao của Bảo Đại trong việc củng cố chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Trương Nhân Tuấn

26-7-2026

Hai bài trước, tôi nói về công lao của Bảo Đại trong việc thu hồi Nam Kỳ và Hoàng triều Cương thổ từ tay người Pháp. Tiếp nối chủ đề này, người ta không thể không nhắc đến công lao của các chúa Nguyễn, rồi sau đó là các triều vua nhà Nguyễn, trong việc khám phá, chiếm hữu và khai thác quần đảo Hoàng Sa một cách liên tục trong thời gian dài mà không gặp sự phản đối của bất kỳ quốc gia nào.

Công lao của Bảo Đại trong việc sáp nhập Hoàng triều Cương thổ vào lãnh thổ Việt Nam

Trương Nhân Tuấn

23-7-2026

Hoàng triều cương thổ là tên gọi chung cho một vùng đất gồm các tỉnh Kon tum, Pleiku, Darlac (Ban mê thuột), Langbiang (Lâm viên, nay là Đà lạt) và Đồng nai thượng (Province du Haut Donnai, tức là tỉnh Di Linh-Djiring nay là Lâm đồng) thuộc Cao nguyên Trung phần của Việt nam.

Trạm khí tượng Hoàng Sa là của Việt Nam

Nguyễn Đính

18-3-2026

Thông điệp Ngày Khí tượng Thế giới năm 2026 được Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) đưa ra là “Quan trắc hôm nay, bảo vệ ngày mai” nhấn mạnh vai trò quan trọng của quan trắc khí tượng thủy văn; tôn vinh những nhà khí tượng, thuỷ văn, hải dương, khí hậu học, các dự báo viên thời tiết, kỹ sư, kỹ thuật viên vệ tinh, chuyên gia máy tính xử lý và chia sẻ dữ liệu,… từ những nhà khoa học thượng thặng trên những con tàu vũ trụ trong không gian vô tận cho đến các quan trắc viên bình thường trên các hải đảo xa xôi để thu thập dữ liệu thời tiết khí hậu, đưa thông tin nhanh chóng đến hàng tỉ người trên thế giới.

Gạc Ma (14/3/1988 — 14/3/2026): Bài học nào trong một thế giới đang biến động dữ dội?

Lê Thân

13-3-2026

Ngày 14/3/1988, tại bãi đá Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa, lực lượng hải quân Trung Quốc đã nổ súng đánh chiếm, khiến 64 chiến sĩ Việt Nam hy sinh.

Nguyễn Ánh hay Hồ Chí Minh: Ai là người “bán nước”, ai là người “cõng rắn cắn gà nhà”?

Trương Nhân Tuấn

31-10-2025

Sử gia CSVN lên án Nguyễn Ánh “bán nước”, bằng chứng là Hiệp ước Versailles 1787 và vụ cắt đất Trấn Ninh. Hiệp ước Versailles Nguyễn Ánh hứa nhượng Đà Nẵng và đảo Côn sơn cho Pháp. Đất Trấn Ninh, sau khi lên ngôi Nguyễn Ánh cắt Trấn Ninh để ban thưởng cho vua Ai Lao đã có công giúp Nguyễn Ánh trong chuyện dẹp Tây Sơn.

Thực tế là gì?

Hiệp ước Versailles 1787 không được thi hành. Quan chức Pháp thấy là “không có lợi Pháp”, do đó khước từ. Tức là hiệp ước đơn thuần “vô giá trị”. Nguyễn Ánh không có nhượng “cục đất” nào cho Pháp cả.

Còn đất Trấn Ninh bị Pháp sáp nhập vào Ai Lao để dựng lên nước Lào. Điều không thấy ai nói là sau đó Pháp tách ra từ Lào (và Cambodge) vùng đất rộng lớn, gồm cao nguyên trung phần (bao gồm Darlac, Đà Lạt, Kon Tum v.v..) để sáp nhập vô Việt Nam, để “đền bù” cho Việt Nam vụ Trấn Ninh. Vụ này tôi có viết hôm trước.

Sử gia CSVN phê phán Nguyễn Ánh dựa trên “ý định nhượng đất cho Pháp”.

Vấn đề là việc phê phán của họ không dựa trên tinh thần khách quan, khoa học, mà lại dựa theo ý kiến của ông Hồ Chí Minh trong một “bài vè”, tựa đề “Lịch sử nước ta”. Trong bài có các câu:

“Gia Long lại dấy can qua,

Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài.

Tự mình đã chẳng có tài,

Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây.

Nay ta mất nước thế này,

Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,

Khác gì cõng rắn cắn gà,

Rước voi giầy mả, thiệt là ngu si…”

Đâu phải cái gì ông Hồ nói, hay làm cái gì thì những cái đó đều đúng hết đâu!

Ông Hồ bị sử gia Tây phương xếp chung “một giỏ” với những “đồ tể cộng sản” như Mao Trạch Đông, Pol Pot… Họ Mao trách nhiệm về cái chết của hàng trăm triệu người Hoa. Pol Pot trách nhiệm “diệt chủng” 1/4 dân Cambodge. Ông Hồ chỉ giết sơ sơ có 4 triệu người Việt mà thôi.

Thực tế cho thấy những gì mà ông Hồ nói về Gia Long đều là “vu khống”, vì không có bằng chứng.

Nguyễn Ánh có “rước Tây vào nhà không?”

Pháp chiếm 6 tỉnh Nam kỳ, sau đó chiếm Bắc kỳ, vì nhiều lý do mà không có lý do nào cho thấy có yếu tố “Nhà Nguyễn rước Tây vô nhà” hết cả.

Pháp chiếm Việt Nam “bằng vũ lực”. Pháp chiếm 6 tỉnh Nam kỳ bằng vũ lực. Pháp chiếm Hà nội bằng vũ lực. Pháp đánh quân Thanh để “bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của nước An Nam” bằng vũ lực. Cuộc chiến tranh với nhà Thanh khiến Pháp thiệt hại nặng nề. Chuyện này tôi cũng nói rồi.

Tôi có thể kết luận rằng ông tổ ngành “sử phịa” của Việt Nam là ông Hồ!

Giả sử rằng nhà Tây Sơn không bị Nguyễn Ánh tiêu diệt. Liệu nhà Tây Sơn có giúp Việt Nam giữ được “độc lập” hay không?

Theo tôi là không! Càng “cương” thì càng chết nhiều.

Cùng thời kỳ, những đế quốc sừng sỏ nhứt, từ Ấn Độ cho tới Trung Hoa, tất cả đều bị thực dân chiếm đóng làm thuộc địa. Trung Hoa bị các đại cường “phân liệt” thê thảm hơn hết. Vì đế quốc này giàu quá. Đây là thời kỳ “trăm năm nhục nhã” của đất nước Trung Hoa. Tất cả các nước trong khu vực, không ngoại lệ, từ Ấn Độ trải dài qua tới Trung Hoa, đều trở thành thuộc địa của nước ngoài.

Ngoại trừ Nhật, nước này thấy coi bộ “chống không lại” nên “thua trước cho cao cờ”. Bèn mở cửa cho nước ngoài (Mỹ) vào buôn bán. Mục đích của Mỹ, cũng như các đế quốc khác, là tìm một chỗ trú chân, trước để buôn bán, sau là nơi dưỡng quân. Mục đích của các đế quốc là “xẻ thịt” con heo mâp ú là Trung Hoa.

Việt Nam đã có thể trở thành một nước Nhật, nếu Hiệp ước Versailles 1787 được Pháp thi hành. Việt Nam được một đại cường hải quân bảo vệ, qua một hiệp ước “an ninh hỗ tương”, không khác gì các hiệp ước an ninh giữa Mỹ và các đồng minh NATO hay Nhật, Hàn, Phi… Nước nào lại không cắt đất cho Mỹ đóng quân? Nước nào không trả tiền để được Mỹ bảo vệ? Vụ này tôi cũng đã nói rồi.

***

Không có một bằng chứng nào cho thấy nhà Nguyễn “cõng rắn cắn gà nhà”. Nhưng có rất nhiều bằng chứng cho thấy ông Hồ và các hậu duệ cộng sản của ông đích thị là những kẻ “cõng rắn cắn gà nhà”. Ngoài ra còn có bằng chứng cho thấy ông Hồ và hậu duệ đã “bán nước có văn bản”.

Biết bao nhiêu tài liệu từ nguồn Trung quốc, từ Mỹ, trong các thư viện các nước Tây phương… từ nhiều thập niên trước, đã cho ta thấy vai trò của Trung quốc trong cuộc kháng chiến gọi là “đánh Pháp giành độc lập”.

Khởi đầu phải tính từ cột mốc tháng 8 năm 1945: Thời điểm Nhật đầu hàng Đồng minh. Sử sách CSVN khoe khoang là “Việt Minh đã thành công đánh pháp, đuổi Nhật, chạy đua với Đồng minh để cướp chính quyền“.

Sự thật là sau khi quân Đồng minh vào Việt Nam để giải giới quân Nhật, miền Bắc được ủy nhiệm cho quân Trung Hoa Dân quốc và miền Nam cho quân Anh. Quân Trung Hoa vô tới đâu là tước vũ khí của Việt Minh tới đó, rồi giao chính quyền địa phương cho quân Việt Quốc. Miền Nam thì Anh “trả chủ quyền của An Nam” lại cho Pháp. Tức là không có vụ “đánh Pháp, đuổi Nhật, chạy đua với Đồng minh” mà chỉ có vụ Việt Minh “chạy có cờ”.

Nhờ thuật “bôi trơn” (truyền lại cho tới ngày nay) ông Hồ được Trung Hoa ủng hộ, ép Pháp ký Hiệp ước sơ bộ. Vấn đề là khi ký nhận, ông Hồ nhìn nhận “nước của ông Hồ” thực tế chỉ là một “tiểu bang tự do” trong “liên bang Đông dương thuộc Pháp”. Tức là cái “chính danh” của ngày 2-9-1945 rốt cục chỉ là “làm tay sai” lại cho Pháp mà thôi!!! Vụ này ông Bảo Đại có phê bình như vầy: “Để sửa sai ông Hồ đã đưa đất nước vào biển máu“.

Rõ ràng y chang như vậy: Ông Hồ đã đưa đất nước vào biển máu.

Sau năm 1949, nhờ sự trợ giúp về quân sự lẫn nhân sự từ cộng sản Tàu, lực lượng ông Hồ ngày càng mạnh, trên vùng biên giới. Trận Điện Biên Phủ năm 1954, quân ông Hồ thắng quân Pháp hay là quân Tàu thắng quân Pháp?

Bàn cãi vụ này tới chiều chưa hết. Để biết ai thắng, ta nên quy chiếu về Hiệp định Genève 1954. Bên nào chủ động trong bàn Hội nghị Genève? Xin thưa một bên là Pháp (dĩ nhiên), bên kia là Trung Cộng. Châu Ân Lai đóng vai chánh, Phạm Văn Đồng ngồi cho có. Kết quả phân chia Việt Nam ở vĩ tuyến 17, là quyết định của họ Châu.

Tới đây tạm đặt một dấu chấm để nói về “quyền dân tộc tự quyết”, là nền tảng của tính “chính danh” trong cuộc “đánh Pháp giành độc lập” của phe Cộng sản Việt Nam.

Làm gì có chuyện “tự quyết”, bởi vì sau lưng ông Hồ có Trung Cộng ủng hộ, từ cây súng, viên đạn, hột gạo… Trên mặt trận thì cố vấn Tàu Cộng chỉ vẽ đánh thế nào, đánh ở đâu v.v… Trên bàn hội nghị thì có Châu Ân Lai thương nghị với Pháp. Tức là Trung Cộng thủ vai chánh, “quyết” mọi thứ với địch thủ là Pháp.

Trong khi Việt Nam đã được Pháp trả độc lập trước đó 5 năm rồi, qua Hiệp ước Elysée 1949.

Việt Nam đã độc lập rồi, năm 1951 nước Việt Nam này tham dự Hội nghị San Francisco 1951, với tư cách là “quốc gia độc lập có chủ quyền, có tuyên bố chiến tranh với Nhật“. Việt Nam là khách mời của Mỹ.

Chuyện “đánh Pháp giành độc lập” của ông Hồ thực tế chỉ là chuyện “thọc gậy bánh xe” của Trung Cộng. Mao Trạch Đông không muốn có một Việt Nam thân tư bản ở sát nách nước mình.

Cho đến năm 1958, ông Hồ và chính phủ ký công hàm 1958, trong đó tôn trọng và thực thi mọi yêu sách về lãnh hải 12 hải lý, trên những vùng lãnh thổ của Trung quốc. Vấn đề là yêu sách của Trung Quốc bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Công hàm Phạm Văn Đồng ký năm 1958. Ảnh trên mạng

Quan điểm của nhà nước CSVN đối với công hàm này là gì?

Đó là nhà nước CSVN chỉ nhìn nhận lãnh hai 12 hải lý mà thôi. Không có chuyện gì khác nữa.

Theo tôi đây là lập luận ngu xuẩn nhứt trong những lập luận ngu xuẩn khác của CSVN về chủ quyền biển đảo.

Khi công nhận hiệu lực 12 hải lý thì nhà nước CSVN đã mặc nhiên nhìn nhận hiệu lực của công hàm 1958.

Mọi bàn luận khác của học giả CSVN chung quanh chuyện này để phủ nhận công hàm 1958 trở thành chuyện hài.

Vấn đề là khi nhìn nhận hiệu lực công hàm 1958 rồi, thì công hàm này phải được rọi dưới luật pháp quốc tế.

Chiếu luật quốc tế về “hiệu lực các tuyên bố đơn phương”. Không cần giải thích dông dài. Khi Việt Nam đã nhìn nhận hiệu lực công hàm 1958. Việt Nam đã mặc nhiên nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Chiếu Luật quốc tế về Biển 1982, Việt Nam nhìn nhận hiệu lực công hàm thì Trung Quốc có quyền yêu sách hải phận các đảo Hoàng Sa và Trường Sa lên tới 200 hải lý.

Ngưng chuyện Hoàng Sa và Trường Sa ở đây.

Là gì? Là đích thị ông Hồ và hậu duệ ông Hồ đã chủ trương “bán nước”. Bán nước có văn tự hẳn hoi.

Học giả CSVN nghe ông Hồ dựng chuyện về Nguyễn Ánh rồi cả đàn hùa nhau “lật sử”, buộc Nguyễn Ánh về tội “bán nước”.

Ai bán nước có văn tự, Gia Long hay ông Hồ?

Cho tới cuộc chiến 54-75, có tới trên 300 ngàn quân Trung Cộng có mặt tại Việt Nam, giúp CSVN trong suốt cuộc chiến tranh “đánh Mỹ cứu nước”.

Theo luật quốc tế về việc thực thi quyền “dân tộc tự quyết”, khi một dân tộc gọi là “bị áp bức” nhờ tay một thế lực ngoại bang giúp đỡ để chống lại thế lực áp bức, quyền tự quyết của dân tộc này đã tiêu vong. Ta thấy quân Palestine khi chống Do thái, với danh nghĩa là sử dụng “quyền dân tộc tự quyết”, ta thấy có người ngoài nào trong hàng ngũ của họ hay không?

Tức là khi CSVN vịn vào quyền “dân tộc tự quyết” để “đánh Mỹ, giải phóng miền nam” mà trong hàng ngũ của họ lại có mặt 30 sư đoàn quân Tàu Cộng, thì CSVN không còn chánh nghĩa nào nữa cả.

Ngay cả khi quân Tàu chỉ đóng ở ngoài Bắc, thì theo luật và tập quán quốc tế, Trung Cộng vẫn là “một bên” can dự vào chiến tranh Việt Nam. Đây là lý do mà các nước EU không gởi quân giúp Ukraine tự vệ đánh lại Nga, ngay cả khi đạo quân này chỉ ở hậu phương không chạm súng với Nga.

Tức là gì?

Là không có chuyện “giải phóng miền Nam” mà chỉ có chuyện “xâm lược miền Nam”. Khi quyền tự quyết đã tiêu vong thì danh nghĩa “giải phóng” cũng thành mây khói.

Rốt cục lại, Gia Long hay Hồ Chí Minh, ai là kẻ “cõng rắn cắn gà nhà”?

Rắn Trung Cộng, rắn Liên Xô, rắn Bắc Hàn… có mặt cả đàn theo lời kêu gọi của ông Hồ và đảng CSVN.

Phê phán Gia Long thì phải lập luận theo “hệ quy chiếu thiên mạng”.

Phê phán ông Hồ thì phải quy chiếu theo luật lệ và tập quán quốc tế hiện hành.

Không phải ông Hồ Chí Minh và đảng CSVN “cõng rắn cắn gà nhà” thì còn ai vô đây?

Có người dân miền Nam nào muốn được mấy ông cộng sản giải phóng? Không có ai hết. Việt Cộng vô tới đâu dân chạy “chết mẹ” tới đó, biết chết trong bụng cá họ vẫn chạy. Ngay cả bây giờ, thà chết trong thùng đông lạnh người Việt Nam vẫn bỏ nước ra đi. Không có bấy nhiêu người muốn ở lại Việt Nam để “xây dựng đất nước” với đảng CSVN hết cả.

Không ai tin vào cộng sản bất cứ một chuyện gì hết cả, huống chi là chuyện lịch sử.

Đặc khu, phúc đức tổ tiên và dân khí

Người Việt

Trân Văn

30-10-2025

Tuần này, khu vực Đông Nam Á tiếp tục được hâm nóng bởi các cuộc đột kích vào những trung tâm buôn người kết hợp lừa đảo trực tuyến trên lãnh thổ Cambodia, Miến Điện.

Hãy thận trọng khi chia sẻ tin tức online để bày tỏ lòng yêu nước

Trần Đức Anh Sơn

9-10-2025

1. Hồi năm 2016, tôi nhận được đường link, do bạn bè trên Facebook gửi cho tôi (qua messenger, hoặc share trực tiếp trên tài khoản Facebook của tôi), dẫn tới bài viết sau: “Chàng trai chứng minh Hoàng sa của Việt Nam, khiến Trung quốc nghiêng mình thán phục”, do một người tên là Tue Anh Pham (ghi là Social Responsibility, ESG) đăng ngày 30/6/2016, nội dung như dưới đây (tôi dẫn nguyên văn, kể cả lỗi sai chính tả):

Trường Sa ngày 14-4-1975 (Phần 4)

Ký sự của Phạm Đình Trọng

30-4-2025

Tiếp theo phần 1 — phần 2 và phần 3

4. Bóng dừa của hôm qua. Bóng dừa của ngày mai

Trường Sa ngày 14-4-1975 (Phần 3)

Ký sự của Phạm Đình Trọng

30-4-2025

Tiếp theo phần 1 và phần 2

3. Lúc 4 giờ 36 phút sáng ngày 14-4-1975

Xuồng lướt nhẹ êm trên thềm san hô đang nông dần. Những mỏm san hô nổi trên mặt nước thềm san hô càng gần đảo càng lô xô nhiều hơn. Đáy xuồng đã sàn sạt trên cát san hô, không thể bơi xuồng được nữa. Lính bước ra khỏi xuồng, tháo hơi, dìm xuồng xuống vũng nước sát mép đảo. Vác đá san hô đè lên giấu xuồng chìm dưới nước. Cả mũi đi khom vượt qua bãi trống lắp xắp nước, đặt chân lên đảo nhận ra thảm cỏ mịn êm nhưng xác xơ vì cuối mùa khô. Vào đến cây dừa đầu tiên trên đảo, lính được lệnh mang hết vũ khí trên người và tìm chỗ cất giấu đồ dùng cá nhân trong bọc ni lông. Ép bụng xuống lớp cỏ khô, bò vào đảo, Cách nhận ra lá cỏ rất cứng và thoảng mùi thơm như có mật ở bãi cỏ đồng làng. Mấy con chim ngủ trên bãi cỏ thấy động vội bay vù lên cao kêu kéc! kéc! rồi lại nhẹ nhàng táp xuống vạt cỏ ngay cạnh chỗ nó vừa bay lên.

Được lệnh dừng lại chỗ mấy gốc dừa san sát, tán là đan nhau tạo ra vùng tối đậm trên đảo, Cách nhận ra mùi tanh của phân chim sống bằng cá biển. Một tổ ba người được mũi trưởng Hống cử bò sâu vào đảo trinh sát. Nằm lại trên lớp cỏ mỏng trong khóm dừa, Cách lại có cảm giác tròng trành như đang ở trên tàu. Lính đi biển gọi là trọng thái “say đất”. Nhờ có lớp cỏ mỏng trên cát và tán lá dừa trên cao, san hô không nóng bỏng như chỗ san hô trần trụi bị mặt trời thiêu đốt. Gió biển mơn man mát rượi. Không gian yên tĩnh đến hoang vắng. Cơn buồn ngủ ập đến và Cách thiếp đi. Cách bừng tỉnh dậy bởi những tiếng thét thất thanh rộ lên trong đảo “Việt Cộng! Việt Cộng!” Tán dừa, chòi quan sát, cột antel hiện lên trong quầng pháo sáng. Trong quầng pháo sáng rờ rỡ, Cách chợt nhận ra cả mũi chiến đấu nằm lồ lộ trên mặt cát. Đám cỏ mọc dày nhưng đã chết khô. Ngọn có khô lưa thưa không che được hàng lính nằm nối nhau trên có. Trống trải thế này thì lộ hết thôi!

Ấm ầm tiếng nổ của các cỡ súng rộ lên. Đạn rạch đỏ lừ và chiu chíu xé không khí ngay trên đầu Cách rồi lóp bóp cắm xuống nước ở mép đảo phía sau mũi chiến đấu. Tổ trinh sát bị lộ hay mũi của Quyền ở Nam đảo đụng độ? Tán dừa rải rác hiện ra lô xô, bồng bềnh chìm nổi trong quầng pháo sáng cho Cách cảm giác đảo khá rộng. Đảo rộng thì lính trên đảo phải đông, công sự nhiều và vững chắc. Thế mà ta chỉ có hai phân đội, hơn bốn mươi tay súng lên đảo! Trời lại sáng đến nơi rồi! Ở biển, ánh sáng ban ngày đến nhanh lắm. Bóng đêm là đồng minh, là sức mạnh của lính đặc công. Bóng đêm như bắt đầu rạn ra ở phía đông. Hai phân đội đặc công nhỏ bé, trần trụi phơi mình trên bãi san hô trống trải trong bóng đêm đang dần chuyển sang ngày.

Đánh tàu chiến Mỹ ở quân cảng Cửa Việt phải rút ra trong đêm nên phải kích nổ trước một giờ sáng. Ra biển Đông giành lại Trường Sa rồi ở lại nên sẽ nổ súng giữa ban ngày, ban mặt sao? Nhưng lính đặc công phơi mình trần trụi trên cát trống trải, trong tay chỉ có khẩu súng cá nhân và mấy gói thuốc nổ, làm sao đánh được quân cố thủ trong công sự giữa ban ngày?

Pháo sáng lại vọt lên. Tiếng la Việt Cộng! Việt Cộng! lại thất thanh. Các cỡ súng từ giữa đảo lại vãi đạn ra biển. Rồi mọi âm thanh bất thường lại tắt lịm trong nhịp thở sâu thẳm muôn đời của biển. Pháo sáng săm soi không thấy gì. Vãi đạn ra vừa để tự trấn an, vừa nghe ngóng phản ứng cũng không có động tĩnh gì. Hòn đảo lại lịm đi trong giấc ngủ muộn màng và mệt mỏi đêm về sáng.

Tiếng la hốt hoảng Việt Cộng! Việt Cộng chốc chốc lại rộ lên bộc lộ tâm thế người lính miền Nam giữ đảo. Quân cả sư đoàn, quân đoàn do những đại tướng, trung tướng dày dạn chiến trân đốc chiến. Súng đủ cỡ, đủ loại, đủ cả đại bác, xe tăng trên mặt đất, máy bay sấm sét trên trời mà Đà Nẵng, Nha Trang cũng vỡ trận thì số phận hòn đảo nhỏ nhoi chơi vơi giữa biển với dúm quân nhỏ bé trong mấy căn nhà tơ hơ trên cát làm sao trụ được trước đà tiến công như trẻ tre của Việt Cộng. Bất kỳ lúc nào Việt Cộng cũng có thể xuất hiện trên đảo. Âm thanh hốt hoảng Việt Cộng! Việt Cộng như là tiếng than Tuyệt vọng! Tuyệt vọng! nghe thật thảm thiết!

Sau dồn dập những đợt pháo sáng và ầm ầm vãi đạn, hòn đảo lại chìm trong tĩnh lặng mênh mông, như chìm vào giấc ngủ đang dang dở. Ở tư thế nằm bò trên cát san hô trong tĩnh lặng của đêm về sáng, nghe rõ được cả tiếng rào rạo rất khẽ và đều đều như tiếng cào cào gặm cỏ lá tre, trong Cách lại âm vang từ ngữ tiếng Việt yêu thương Việt Cộng! Việt Cộng! Cách bỗng thấy âm thanh tiếng Việt Cộng! Việt Cộng! gần gũi, thân thuộc quá. Tiếng Việt thân thuộc vô vàn yêu thương lại là kẻ thù, lại là mục tiêu phải tiêu diệt, lại là đích ngắm của khẩu súng trong tay Cách! Cách phải đánh bộc phá, xả đạn vào tiếng Việt thân thuộc đó! Sao cuộc đời nghiệt ngã, trớ trêu vậy!

Lại chợt nhớ đến lần Cách nép sát vỏ tàu chiến Mỹ neo trong quân cảng Cửa Việt nhìn lên tên Mỹ đứng trên sàn tàu, ngả người ra ngoài lan can, lia ánh đèn sáng loá như đèn pha xuống mặt nước cửa sông Thạch Hãn, miệng la Vi Xi! Vi Xi! Rồi các cỡ đạn thun thút vãi xuống sông. Cá giãy chết nổi lên trắng lờ lờ trên mặt nước và nghiêng mình loạng choạng bơi nhưng yếu ớt không thể bơi thẳng, phải lách mình lượn vòng tròn, lách đến cọ cả vào sườn Cách. Tiếng Vi Xi! Vi Xi! là tiếng nước ngoài xa lạ. Còn Việt Cộng! Việt Cộng! là tiếng Việt, là âm sắc, là ngữ điệu tiếng Việt vô vàn thương yêu của mọi người Việt Nam từ ngàn xưa đến muôn đời mai sau.

Cách bỗng thấy thật vô lý, thật đau lòng khi nghe tiếng người Việt giữ mảnh đất của cha ông người Việt để lại mà phải la lên hốt hoảng, thảm thiết, tuyệt vọng trước người Việt cũng có bổn phận giữ mảnh đất thiêng liêng đó. Có cách gì để người Việt ra Song Tử Tây trước giao lại cho người Việt ra sau giữ mảnh đất của cha ông mà không phải nã đạn vào nhau, không phải nã đạn vào tiếng Việt vô cùng gần gũi, thân thiết và cũng vô cùng thiêng liêng nhỉ?

Những người lính đặc công nước đột nhập lên đảo Song Tử Tây đêm nay có ai cùng suy nghĩ như Cách không? Nếu tất cả cùng nghĩ như Cách mới có thể tránh những người cùng nói tiếng Việt mà phải xả súng vào nhau, tránh được họng súng của người Việt xả đạn vào tiếng Việt thương yêu. Nhưng Cách biết rõ những người say chiến đấu như Quang đều đinh ninh rằng họ đang làm bổn phận đương nhiên của một dân với đất nước, đang thi hành sứ mệnh lịch sử đánh giặc cứu nước. Con người nào, ngôn ngữ nào trước họng súng của họ cũng là giặc, cũng là kẻ thù, cũng phải bị tiêu diệt không nương tay.

Đang miên man thì Cách được mũi trưởng cử đi bắt liên lạc với phân đội Hai ở Nam đảo. Lùi lại mép nước, Cách hạ thấp người, đi khom cho bóng dáng Cách lẫn vào bóng dáng những mỏm san hô lô xô nổi lên trên thềm san hô nông. Đến Nam đảo, vừa bò trên cát san hô mịn màng, Cách nhận ra những vệt lõm lờ mờ trên cát từ mép nước nối dài thành vệt vào trong đảo. Dấu chân! Lính giữ đảo đi tuần? Cách cúi sát mặt xuống cát. Lính đi tuần phải đi giầy và đi quanh đảo, dấu giày để lại phải song song với mép nước. Đây là dấu bàn chân trần, không phải dấu giày. Dấu chân đi từ biển vào đảo là cả phân đội Hai của Quyền đã vào đảo.

Cách yên tâm lần theo dấu chân trên cát. Trên nền cát phẳng trắng mờ, Cách thấy cộm lên những gờ tối thẫm. Đúng dáng nằm của lính đặc công! Cạch! Cạch! Cạch! Cách gõ ám hiệu trên báng AK. Cạch! Cạch! Tiếng đáp lại từ phía trước đúng mật khẩu rồi. Cách bò lướt lên gặp phân đội trưởng Cường. Gặp được cả Quyền, Cách được biết xuồng của Quyền bị lật. Khẩu cối tám hai bị biển nuốt mất. Bọc ni lông gói trang bị của lính cũng bị sóng biển giật khỏi tay. Bảy người bị sóng nuốt chửng lại lựa chiều sóng trồi lên mặt nước, thoát ra được. Giữ được thân xác, giữ được mạng sống nhưng trên người trần trụi, trong tay chẳng còn gì. Quyền còn khẩu AK quàng vào người nhưng còn mỗi băng đạn lắp ở súng. Cách đưa cho Quyền hai quả lựu đạn.

Cách vừa trở về phân đội Một thì hòn đảo nhỏ nhoi trong cơn sốt cao lại lên cơn co giật. Lại tiếng thét Việt Cộng! Việt Cộng! như tiếng kêu cứu tuyệt vọng! tuyệt vọng! Lại trắng trời pháo sáng. Lại rào rào mưa đạn trút vào bóng đêm. Đến lúc tổ trinh sát trở về mới biết trận vãi đạn cuối cùng trong đêm của hòn đảo Song Tử Tây như đàn ong bay túa ra khi tổ ong bị động vì chính tổ trinh sát đã đụng phải tổ ong.

Trinh sát bò đến bên căn nhà chìm, nền nhà tụt sâu thấp hơn mặt đảo đến gần một tầm người. Ép mình vào bức tường thấp nhô lên trên mặt cát, qua khoảng trống giữa tường và mái tôn, trinh sát đưa mắt nhìn vào trong nhà. Một ngọn đèn dầu vàng vọt đặt trên chiếc bàn sắt giữa nhà. Trên hai dãy giường lính sát hai bức tường dọc căn nhà, trinh sát đếm được mười bảy người lính ngủ trong tư thế sẵn sàng. Trong nhà khuất gió rất nồng nực nhưng chỉ có một người lính cởi trần, còn lại đều nai nịt bộ đồ lính trận, hai chân còn mang cả giầy. Súng để cạnh người. Số súng không để bên người thì khá lộn xộn. Khẩu trung liên để trên bàn sắt. Khẩu M79 treo trên tường. Giá súng chỉ có khẩu 12,7 ly và mấy khẩu AR15.

Rời căn nhà chìm, bò trên cát san hô sau nhà sờ thấy bia chủ quyền rồi đến khoảng đảo lõm lòng chảo. Phía bên kia lòng chảo lờ mờ mái nhà tôn trên doi cát kéo về Nam đảo. Đến bia chủ quyền là đã đến giữa đảo, đã đi hết phạm vi mũi Một đảm nhiệm. Tổ trinh sát bò ra mép nước trở về thì đột ngột đụng hai lính miền Nam đi tuần. Tia đèn pin chiếu thẳng vào mặt tổ trưởng trinh sát Lưỡng. Thay vì loạt đạn rát rạt hạ gục tổ trinh sát thì chiếc đèn pin rơi bịch xuống cát cùng tiếng ú ớ nghẹn trong cổ họng của một thân thể đang bị đông cứng cả người, cứng cả chân tay.

Thoát chết nhờ mấy giây bất động của người lính đi tuần, tổ trinh sát lăn người thoát ra khỏi vị trí bị phát hiện vừa bật đứng lên chưa kịp ra đòn hạ đối thủ vì còn ở khoảng cách vài mét thì những tia lửa loé lên từ nòng khẩu AR15 của người lính đi tuần thứ hai. Không khí như tấm vải bị đường đạn xé rách, mảnh vải bị xé tung lên, tạt vào mặt, lướt trên cơ thể người lính trinh sát trần trụi, như hơi thở của thần chết phả âm khí lạnh toát. Đạn găm toé lửa ở mỏm đá san hô chỗ tổ trinh sát bị phát hiện. Loạt đạn của đồng đội đã giải thoát người lính miền Nam đang bất động. Hai người lính đi tuần kịp nhảy xuống đoạn hào dẫn vào căn nhà chìm, đánh thức cả hòn đảo giật mình thức dậy trong cơn co giật dữ dội. Lần này trong tiếng súng, trong tiếng la hét có cả tiếng đập tấm tôn, tiếng đập thùng phuy sắt và tiếng la hét Việt Cộng! Việt Cộng càng dồn dập, thất thanh.

Điều thấy rõ ở những đợt pháo sáng, những lần vãi đạn và tiếng la cảnh báo Việt Cộng dù hốt hoảng nhưng cũng bộc lộ sự cảnh giác cao độ, bộc lộ ý chí giữ đảo của những người lính đang làm chủ đảo. Tiếng Việt Cộng dù thất thanh cũng là ngôn ngữ Việt Nam khẳng định người Việt Nam đang có mặt trên hòn đảo Việt Nam, khẳng định lãnh thổ Việt Nam. Tiếng súng là lời cảnh báo mọi tham vọng lãnh thổ với Trường Sa rằng dù hai nhà nước Việt Nam đối kháng nhau, hai sức mạnh Việt Nam đang dồn hết sức loại bỏ nhau là việc nội bộ của người Việt Nam, không liên quan, không làm suy suyển ý chí bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của người lính Việt Nam.

Tiếng la Việt Cộng là nỗi ám ảnh thường trực với những người lính miền Nam đang giữ Trường Sa. Mỗi lần hét Việt Cộng! Việt Cộng! là một lần họ tưởng tượng thấy bóng ma Việt Cộng lởn vởn trong đêm. Nổ súng trước để giành thế chủ động nhưng rồi chẳng thấy phản ứng gì, họ phải nhận ra rằng hình bóng Việt Cộng chỉ có trong tưởng tượng, chỉ có trong nỗi ám ảnh của họ mà thôi, chỉ là thần hồn nát thần tính. Đến lúc Việt Cộng xuất hiện thật, hai người lính đi tuần đã tận mắt nhìn thấy họ, nhờ may mắn chạy thoát vào căn nhà chìm và nói lại điều vừa tận mắt nhìn thấy.

Lại la hét báo động. Lại pháo sáng xăm soi. Lại nổ súng rát rạt, dù đạn vãi vô định nhưng tiếng súng đầy uy lực. Vẫn không có phản ứng gì thì lính trong nhà chìm lại cho rằng điều hai người lính đi tuần thấy cũng chỉ là sản phẩm của nỗi ám ảnh, chỉ là thần hồn nát thần tính. Bị ám ảnh cái gì thì sẽ tưởng tượng ra cái đó. Từ khi quân miền Nam bị mất Đà Nẵng, có đêm nào lính trên đảo Song Tử Tây không vài lần thấy bóng ma Việt Cộng lù lù trên đảo đâu. La hét. Quét pháo sáng. Xiết cò súng đến mỏi tay vẫn không thấy động tĩnh gì thì lại đành buông xuôi cho định mệnh vậy.

Trong yên tĩnh trở lại, các mũi chiến đấu lặng lẽ áp sát mục tiêu. Mũi bảy người của Cách trườn đến căn nhà chìm. Cách cùng hai người ém sát tường nhà. Bốn người dừng lại sau một gờ cát san hô, cách ba người phia trước chỉ hai tầm thân người. Hai mũi chiến đấu còn lại của phân đội Một, trong đó có Quang bò trong bãi dừa, giấu mình mép bãi dừa, đối mặt với bia chủ quyền và căn nhà chìm, đợi tiếng súng lệnh của khẩu ĐKZ.

Trời đã ràng rạng sáng. Đêm càng về sáng, không khí trên hòn đảo càng dịu dàng, mát mẻ. Bị mặt trời nung cả ngày, qua một đêm, cát san hô đã thải hết sức nóng, gần sáng cát lại mát lạnh. Trong nhà chìm khuất gió cũng không còn ngột ngạt hơi nóng. Đêm về sáng gió mang hơi thở đêm của biển mơn man hòn đảo và biển rì rầm hát ru đưa hòn đảo vào giấc ngủ sâu. Càng về sáng sự yên tĩnh càng thăm thẳm càng mang lại cho những người lính miền Nam sự yên tâm rằng họ đã qua thêm được một đêm an toàn. Ban đêm là của bóng ma Việt Cộng. Ban ngày là của những người lính đang làm chủ Trường Sa. Dưới ánh sáng mặt trời, dù biển mịt mù hơi nước, chòi quan sát giữa đảo cũng phát hiện được mọi mục tiêu trên biển từ ngoài mười hải lí, bảo đảm cho những người lính giữ đảo sự chủ động, tự tin ngăn chặn kẻ đột nhập vào đảo từ ngoài thềm san hô nông. Hoả lực trên đảo đủ mạnh quét sạch những kẻ mon men đặt chân lên thềm san hô. Ánh sáng bình yên, ánh sáng sự sống đang trở lại với Song Tử Tây.

Đúng lúc người lính miền Nam thả mình vào giấc ngủ sâu nhất sau một đêm chập chờn, khắc khoải thì chớp lửa lớn nhoáng lên từ giữa đảo cùng tiếng nổ rung chuyển làm cát san hô bay rào rào. Khẩu ĐKZ ở hướng chủ công Đông Bắc của phân đội trưởng Quế đã lên tiếng. Quả đạn ĐKZ đầu tiên thổi bay mái tôn ngôi nhà chìm cạnh bia chủ quyền. Cách giật kíp nổ quả pháo tay, thả vào căn nhà chìm đã tốc mái. Bốn người lính đặc công phía sau cũng lao lên, tới tấp thả pháo tay vào nhà.

Căn nhà chìm liên tiếp bùng lên những khối lửa. Một tấm tôn còn dính trên xà nhà vật vờ như lá cờ rách phất phơ trong chớp lửa. Trong ánh sáng đang ràng rạng trên đảo, cùng với những cột lửa khói cuộn lên, lính nhìn thấy cả những cơn lốc cát san hô. Những tiếng nổ rung chuyển. Tiếng cát bay ràn rạt như trong trận bão lớn. Những tiếng nổ trộn lẫn vào nhau, không phân biệt được đâu là tiếng nổ tấn công của lính miền Bắc, đâu là tiếng nổ chống trả của lính miền Nam. Tiếng nổ nào cũng mang đến cái chết. Mà trên đảo chỉ có người Việt với người Việt!

Căn nhà chìm biến mất trong lửa khói. Bỗng từ trong lửa khói một bóng người lao ra mép đảo liền bị mũi trưởng Hống phóng theo quật ngã và lôi đến trước phân đội trưởng Quế trong bãi dừa. Lạ thật, hàng chục quả pháo tay, mỗi quả nửa cân thuốc nổ dành cho gian nhà chìm nhỏ xíu mà trong nhà vẫn còn người sống sót. Thì ra gian nhà còn lối ngách được che bằng tấm bạt dẫn sang gian nhà chìm thấp hơn, mái tôn lợp ngang mặt đảo và gió vãi cát san hô phủ kín mái tôn nên tổ trinh sát không phát hiện được.

Người lính miền Nam bị bắt được phân đội trưởng Quế khai thác ngay, yêu cầu chỉ hầm ngầm, hầm chỉ huy. Thấy những người lính quần đùi, tay cầm khẩu AK, vẻ mặt bình thản, ánh mắt không vằn tia say máu chém giết và tiếng Việt của những người hỏi dù là tiếng quát nhưng vẫn là tiếng Việt thân thuộc như giúp cho người lính miền Nam có chút yên lòng. Người lính miền Nam từ tốn thưa với người chỉ huy quân miền Bắc:

– Thưa thầy Hai. Trên đảo không có lô cốt, hầm ngầm. Chỉ có hai nhà chìm. Chỉ huy ở nhà chìm lệch về phía Nam đảo và nhìn ra bia chủ quyền.

Trung uý phân đội trưởng Quế hòi quân số trên đảo và người chỉ huy. Người lính bị bắt đã đủ bình tĩnh, khai rành rẽ rằng trước năm 1975, đảo có một đại đội biệt động quân, hơn một trăm lính. Nhưng từ đầu năm 1975, đại đội biệt động quân phải rút về đất liền ném ra mặt trận. Thay bằng hai trung đội địa phương quân tỉnh Phước Tuy ra giữ đảo. Hiện nay trên đảo chỉ có 53 lính địa phương quân. Chỉ huy đảo là một thiếu uý và một chuẩn uý.

Nhà chỉ huy nhìn ra bia chủ quyền lệch về Nam đảo là mục tiêu của phân đội trưởng Cường, của mũi Quyền. Từ căn nhà chìm phía Nam đảo, đạn đang xối xả vãi ra. Đạn mười hai li bảy cày tung cát. Đạn AR15 vãi như mưa. Trong lúc quân miền Nam trong căn nhà chìm mé Nam đảo đang chống trả quyết liệt và quân miền Bắc ở hướng chủ công, lính đang rê mũi súng vào ngôi nhà chìm mé Nam đảo, đợi lệnh đồng loạt ra đòn quyết định thì từ đầu nhà chìm hướng Tây một tốp lính vọt ra chạy xuống mép đảo hướng về phía Tây Bắc, nơi trên thềm san hô nông nổi lên lô xô những mỏm san hô lớn kéo vào sát đảo, trong ánh sáng lờ mờ lúc rạng sáng đã nhận ra hai phuy dầu và chiếc bo bo nhôm gắn máy nằm trên cát san hô. Thuỷ triều đang lên. Nước biển đã lấn gần tới bo bo.

Tốp lính vọt ra từ nhà chìm mé Nam đảo đã đến chỗ bo bo và đang đẩy bo bo xuống nước. Một bóng lính đặc công nước từ Nam đảo bật lên vừa phóng theo tốp lính vừa quét những loạt đạn AK. Từ phía chiếc bo bo những chớp lửa vãi đạn chống trả loé lên, những loạt đạn rát rạt quất về phía người lính đặc công nước. Người lính quần đùi, tay ôm AK lăn đến gờ cát san hô. Một loạt đạn dài từ chiếc bo bo cày tung gờ cát san hô lên. Cát san hô tung lên, vãi trắng xoá trên người lính đặc công. Không thấy người lính đặc công bắn trả nữa.

Chiếc bo bo ở mép Tây Bắc đảo, ngay cạnh bãi dừa. Từ bãi dừa, Quang thấy rõ cuộc chiến diễn ra giành và giữ chiếc bo bo. Người lính đặc công chạy ra ngăn bọn lính cướp bo bo đã nằm bất động trên cát san hô, Chiếc bo bo đã được đẩy ra nổi trên mặt nước thềm san hô. Đám lính bám theo bo bo, đã có người ngồi trong bo bo. Quang quét loạt đạn AK vào tốp lính bám quanh chiếc bo bo. Tốp lính đổ rạp. Người chồng chất trên bo bo. Người sõng soài trên mặt nước thềm san hộ. Người nằm tênh hênh trên cát san hô mép đảo. Chiếc bo bo dập dềnh vô định trên mặt nước thuỷ triều đang lên. Từ bãi dừa, Quang phóng ào xuống định lôi chiếc bo bo về thì loạt đạn AR15 từ chiếc bo bo quất tới. Quang khựng lại và đổ vật xuống bãi san hô mép đảo. Lúc đó là bốn giờ ba mươi sáu phút sáng ngày mười bốn tháng tư năm một ngàn chín trăm bảy mươi nhăm.

Trong ánh sáng đã lan rộng khắp mặt biển, chứng kiến người lính của mình đổ gục gần chiếc bo bo và nghe tiếng nổ chát chúa của các cỡ đạn từ nhà chìm xối xả bắn ra, trung uý phân đội trưởng Quế quát người lính miền Nam bị bắt:

– Thạnh! Mày có thấy gì không? Mày có thấy cả đống xác chết ở chỗ chiếc bo bo không? Còn đối đầu nhau còn rải xác chết khắp đảo cũng không thay đổi được kết cục đã được định đoạt rồi. Cả dải đất miền Nam rộng lớn, các ông tướng của mày còn không giữ được thì làm sao bọn mày giữ được hòn đảo lẻ loi, nhỏ bé này. Mày bảo đảo trưởng của mày buông súng ra đây nói chuyện với tao bằng lời, bằng tiếng Việt. Nói với nhau bằng súng đạn, bằng máu như vậy đủ rồi. Súng đạn không giải quyết được gì mà chỉ dẫn đến cái chết cho cả hai phía như đống xác chết ở chỗ chiếc bo bo kia kìa. Chết vậy uổng lắm! Đau lắm! Tao giao nhiệm vụ, mở đường sống cho mày và mở đường sống cho cả đám đang vãi đạn ra tìm cái chết trong nhà chìm đấy. Mày làm đi.

Giao cho tổ ba người của Cách dẫn người lính miền Nam bò lại gần nhà chìm, trung uý Quế cũng bò sát bên Cách. Dừng lại sau gờ cát san hô cách nhà chìm chỉ một tầm người, đợi trong nhà chìm ngớt đợt xối đạn, người lính miền Nam nhỏm lên hướng vào nhà chìm, cất tiếng lúc đầu giọng người lính miền Nam còn run rảy, yếu ớt, mỏng manh. Ngay sau câu đầu tiên run rảy xưng tên, người lính nhận ra tiếng nói của anh bị gió bạt đi. Thoáng im lặng, tiếng người lính bỗng mạnh mẽ, vang động, rõ ràng và tha thiết:

– Tôi là trung sĩ Thạnh xin có lời trình thiếu uý đảo trưởng. Quý thầy, a.. a… quý anh giải phóng đã có mặt trên đảo, đã kiểm soát toàn bộ đảo. Nhà chỉ huy của thiếu uý đảo trưởng đã bị vây chặt, đã bị đặt thuốc nổ quanh tường. Quý anh giải phóng yêu cầu thiếu uý đảo trưởng buông súng, giao đảo cho quý anh giải phóng. Quý anh giải phóng sẽ không kích nổ những khối thuốc nổ lớn đã đặt quanh nhà thiếu uý đảo trưởng, bảo đảm an toàn cho thiếu uý đảo trưởng và binh sĩ của thiếu uý. Quý anh giải phóng yêu cầu thiếu uý đảo trưởng thực hiện ngay. Trung sĩ Thạnh trình thiếu uý đảo trưởng.

Dứt lời, người lính miền Nam quay lại nhìn trung uý Quế như muốn hỏi tôi nói vậy được chưa thưa quý anh giải phóng. Giọng miền Nam trầm, ấm và chứa chất cả nỗi xúc động của người lính miền Nam làm cho Cách khấp khởi hi vọng rằng lời kêu gọi buông súng sẽ được đáp ứng. Trung uý Quế cũng nhỏm người lên hướng vào nhà chìm, nói to:

– Tôi là chỉ huy quân giải phóng ra thu hồi quần đảo Trường Sa. Yêu cầu quân đang đồn trú trên đảo Song Tử Tây buông súng ra trình diện, bàn giao đảo cho quân giải phóng.

Trong nhà chìm vẫn im phắc. Cả tiếng gió, cả tiếng sóng cũng lặng đi. Trong lặng lẽ chờ đợi bỗng những bàn tay trần xoè năm ngón tay giơ lên ngang đầu nối nhau ra khỏi nhà chìm.

Thay tiếng súng, tiếng Việt cất lên ở đảo Song Tử Tây sáng ngày 14-4-1975 đã chấm dứt mọi tiếng nổ súng đạn, đã dập tắt mọi cột lửa khói. Không có mảnh vải trắng buộc ở đầu súng giơ cao, chỉ có hai bàn tay trắng giơ lên trên đầu những người lính đi ra từ ngôi nhà chìm. Hai người đi đầu là thiếu uý đảo trưởng và chuẩn uý đảo phó.

Rất muốn biết tên tuổi, mặt mũi thiếu uý đảo trưởng, chuẩn uý đảo phó và những người lính miền Nam lần đầu tiên Cách giáp mât, rất muốn biết trung uý phân đội trưởng Quế ứng xử thế nào với những người lính miền Nam buông súng giao lại đảo cho lính miền Bắc nhưng khi vừa nhìn thấy người lính đầu tiên giơ hai tay lên cao ra khỏi nhà chìm, Cách vội phóng xuống mé Tây Bắc đảo nơi Quang nằm úp mặt xuống cát san hô dưới những tia nắng đầu tiên khi mặt trời vừa nhô lên trên mặt biển. Thuỷ triều đã lên cao. Đầu Quang chìm trong nước biển dập dềnh, tóc loã xoã trong nước như một cụm rong rêu.

(Còn tiếp)

Trường Sa ngày 14-4-1975 (Phần 2)

Ký sự của Phạm Đình Trọng

30-4-2025

2. Đêm Trường Sa

Như mọi đêm xuất quân vào trận đánh của đặc công, ba phân đội đặc công nước trung đoàn 126 trên ba con tàu nhỏ thuộc trung đoàn vận tải 125 rởi cảng Đà Nẵng ra Trường Sa cũng là đêm cuối tuần trăng, đêm đầu tháng ba âm lịch. Chỉ khác là trước đây xuất quân đều vào nhá nhem tối. Lần này lính bước chân xuống tàu xuất trận ra Trường Sa vào rạng sáng.

Ba giờ sáng ngày 11 tháng 4 năm 1975, lịch ta là ngày 1 tháng 3 năm Ất Mão, lính lặng lẽ tập hợp trên cầu cảng. Trước lúc rạng sáng là lúc bóng đêm dày đặc nhất. Ba giờ sáng, bóng đêm đậm đặc nhưng không một ánh đèn le lói. Đèn trên cảng, đèn trên tàu đều tắt hết. Không liên lạc vô tuyến điện. Tắt máy phát sóng vô tuyến điện trên tàu. Khi nào có lệnh mới được bật máy phát sóng. Không một tiếng người. Chỉ có tiếng gió và tiếng sóng. Từng phân đội hàng ngang, mũi chiến đấu hàng dọc từ trên cầu cảng lần lượt lặng lẽ xuống con tàu nhỏ không có số hiệu.

Con tàu đã từng chở nhiều chuyến vũ khí từ cảng dã chiến là bãi bần, bãi sú bờ biển Thuỷ Nguyên, Hải Phòng phóng ra biển quốc tế, chạy về phía Nam rồi trà trộn vào những con tàu đánh cá của ngư dân miền Nam cặp vào những bến bãi bí mật ở Quảng Ngãi, Phú Yên, Phước Tuy, Cà Mau. Không số hiệu nhưng trong biên chế của trung đoàn vận tải 125, đó là những con tàu 673, 674, và 675. Những con tàu đã quen những hành trình bí mật. Lính đặc công nước cũng đã quá quen với bóng đêm trên sông biển. Ba con tàu âm thầm chở vũ khí từ Bắc vào Nam giờ lại âm thầm chở lính từ Đà Nẵng ra Trường Sa. Mỗi phân đội hai mươi hai người xuống một con tàu trước đây chở năm mươi tấn vũ khí. Ngoài con tàu chở hàng hậu cần, lính hậu cần bảo đảm đời sống cho lính chiến cũng san quân số ra ba con tàu.

Lưới đánh cá lờ mờ trắng giăng ngang, giăng dọc trên sàn tàu như cành lá nguỵ trang rung rinh trên đầu, trên vai người lính bộ binh. Lính lách qua những vầng lưới, chui tọt xuống hầm hàng trước đây xếp vũ khí. Đi đánh tàu chiến Mỹ ở quân cảng Cửa Việt, lính bơi vo vài chục hải lý giữa mênh mông biển rộng, trời cao. Nay lính ra trận phải chui xuống hầm tàu kín mit, chật chội. Thành sắt. Đáy sắt. Trần sắt. Vốn tháo vát, khéo xoay xở, trong chiếc hầm sắt chật chội, lính soi đèn pin vẫn tìm được chỗ mắc võng tầng tầng, lớp lớp. Võng Cách mắc trên võng Quang. Hơi người nồng nực. Hơi dầu mỡ ngột ngạt. Hơi nóng hầm hập. Tiếng máy tàu thình thịch rung cả nhịp tim, gõ vào màng não. Không gian chật chội chao đảo, ngả nghiêng.

Trong hầm tàu lúc nào cũng tối âm âm, không thể nhận biết thời gian. Sau ba bữa lương khô trong hầm tàu, lính biết rằng đã qua được một ngày. Trong người đang cồn cào, cảm giác đang mơ hồ, phiêu diêu, lơ lửng thì được lệnh từng mũi chiến đấu lần lượt ra khỏi hầm hàng. May quá, tàu đã ra xa bờ và bóng đêm đã chùm xuống con tàu. Lính ngước nhìn sao trời và hít căng lồng ngực không khí phóng khoáng, mát lạnh của biển để có lại cảm giác thật, để biết chắc chắn rằng mình đang có mặt trên con tàu, trên biển cả. Nằm, ngồi trên nắp hầm hàng đón ngọn gió biển ùa tới thổi tung mái tóc, táp hơi nước mát lạnh vào má, vào cánh tay thì phần cơ thể tiếp xúc với tấm thép sàn tàu lại nhận ra sức nóng của thép. Thép tàu bị mặt trời nung cả ngày, đến đêm vẫn còn nóng âm ỉ. Không nằm được, đành gấp tấm tăng thành nệm dày cách ly với sàn thép nóng, ngồi nhìn vào bóng đêm trên biển.

Bất chợt gió mạnh lên. Đang sung sướng đón những cơn gió mát ùa đến thì mưa sầm sập trút xuống. Mưa đuổi, lại phải chui xuống lò nung dưới hầm hàng. Mưa như gõ trống trên sàn tàu ngay sát đầu. Mưa làm cho sức nóng thoát ra khỏi tấm thép sàn tàu, toả sức nóng vào hầm. Hầm tàu càng ngột ngạt. Mưa kèm theo gió. Gió dồn sóng biển dựng lên. Chiếc hộp thép lèn chặt người bị tung lên ngọn sóng rồi ném xuống chân sóng. Mấy năm vùng vẫy, ngụp lặn trên ngọn sóng, lần đầu tiên Cách bị say sóng. Người Cách như một cái ống rỗng đang bị lôi lộn ngược từ trong ra ngoài. Ruột gan muốn đẩy cả lên cổ. Trong ruột có gì muốn nôn hết ra cho nhẹ để ruột gan lại lộn trở vào nằm yên chỗ cũ mà không làm sao nôn được. Đầu váng vất và nặng trịch như có khối đá trong đầu. Người rã ra.

Có bóng đêm xoá hình bóng, linh được thoát khỏi hầm tàu thì mưa lại dồn lính xuống hầm. Ngày lại đến. Lại phải giấu mình dưới sàn tàu. Trong hầm tàu lúc nào cũng tối âm âm nên Cách không còn phân biệt thời gian sáng trưa chiều tối. Đã hai lần Quang hỏi Cách có ăn gì không, Cách đều lắc đầu. Trong hầm tàu lại chộn rộn lên khi từng mũi chiến đấu lại được lần lượt thay nhau lên boong tàu vận động chân tay và hít thở không khí nhẹ nhõm trên biển thì Cách biết rằng lại qua thêm một ngày, bóng đêm lại trùm xuống biển, lính mới được ra khỏi hầm hàng, lẫn vào bóng đêm. Thế là tàu đã chạy được ba ngày, hai đêm rồi. Đêm thứ ba sẽ là đêm tiếp cận đải. Đến giờ Cách mới thấy đói. Nhưng khi Quang rót nước ở bi đông vào túi gạo sấy và đưa cho Cách, ngửi mùi gạo sấy nhạt thếch, Cách lại buồn nôn.

Quang đưa Cách lên boong tàu. Không gian thoáng đãng, khí trời trong lành làm cho Cách tỉnh táo và khoẻ khoắn ra. Quang xin cho Cách một ca cháo nóng ở nồi cháo của thuỷ thủ tàu. Cháo ngon quá. Cách húp một hơi hết ca cháo. Nhưng vừa ăn xong, Cách lại nôn thốc nôn tháo ra hết. Suốt từ lúc say sóng, Cách cứ muốn nôn mà không nôn được nên trong người cứ nôn nao khó chịu. Có lẽ vì trong bụng không có gì để nôn. Giờ có cháo, nôn được rồi. Tuy tiếc ca cháo nhưng thấy người dễ chịu hẳn cũng đáng để đánh đổi ca cháo.

Trời đêm đen thẫm, nặng trĩu, không một vì sao. Gió mát lạnh. Nhưng cơn mưa đầu mùa đã giăng mịt mù trên biển. Trời này sẽ còn mưa nữa. Mưa đi liền với gió mạnh, sóng lớn và lại phải chui xuống hầm ngột ngạt, lại say sóng đến mệt lử. Thôi kệ! Hãy cứ biết trời đang tạnh ráo, biển đang dịu dàng, êm ả. Đang được ở trên boong tàu. Đang được hít thở khí trời tươi rói. Cách đứng dậy, vươn vai, thở thật sâu và bảo Quang:

– Khoẻ rồi! Khoẻ rồi! Chiến đấu được rồi!

Quang bảo:

– Mày nhịn đói suốt từ hôm qua đến giờ, lấy sức đâu mà chiến đấu. Nếu không ăn được cơm gạo sấy thì cố ăn gói lương khô.

Cách lắc đầu:

– Tao cũng thấy đói nhưng lương khô và cơm gạo sấy thì không sao nuốt nổi. Có cố nuốt cũng lại nôn ra thôi. Thấy đói là cơ thể đã quen dần với sự nhồi lắc trên tàu, đang trở lại bình thường. Để cơ thể làm quen được với sự vần vò của sóng, trở lại bình thường hẳn đã, ăn vào mới giữ lại được.

Quang đi vào gian buồng thuỷ thủ ở cuối tàu. Lát sau Quang ra, đưa cho Cách ca mì ăn liền nóng hổi. Ngửi mùi mì nóng đã thấy tỉnh cả người. Vào đến Đà Nẵng, lính miền Bắc mới biết đến món cao lương mĩ vụ mì ăn liền. Anh nào cũng thích thú và luôn thèm thuồng mùi thơm phức và dù mùa hé nóng nực vẫn thích ca mì nóng ăn vào toát mồ hôi. Cách ăn hết ca mì còn thòm thèm nhưng lại xin nữa sao tiện. Lại còn say sóng nữa. Lại nôn hết ra thôi. Thôi, ăn tạm thế đã.

Quang mang ca đi trả trở về, trải cuộn bạt trùm nắp hầm hàng ra. Hai người nằm xuống tấm bạt trên nắp hầm hàng. Cách nghe mồ hôi dấp dính túa ra khắp người và nhận ra cơ thể đang hồi phục, hoạt động nhịp nhàng trở lại. Cách muốn gác đùi lên đùi Quang nhưng thấy Quang như đang trầm tư suy nghĩ nên Cách không dám phá dòng nghĩ ngợi của Quang. Chợt Quang bảo:

– Tao vừa nghe mấy tay thuỷ thủ nói rằng còn một ngày, một đêm nữa tàu sẽ đếnmục tiêu. Như vậy bọn mình còn phải chui xuống hầm hàng giấu mình một ngày dài nữa. Tao lo sức khoẻ của mày ngày mai còn gay go đấy.

Cách vắt chân đè lên đùi Quang như hai đứa trẻ chăn trâu nằm trên bãi cỏ quê nhà, nói:

– Đúng là ở trong hầm tàu người lử ra, như không còn chút hơi sức nào. Nhưng chui ra khỏi cái lò hơi ngạt ấy là người sẽ tỉnh lại và cầm đến khẩu súng là người sẽ khoẻ ra. Đáng ngại là cái chân của mày biết đâu lại dở chứng.

Quang giơ chân phải lên cao, liên tiếp gập và duỗi chân trên cao để chứng tỏ cái chân nổi nhọt đã lại vận động bình thường:

– Êm rồi. Đúng là do ý chí quyết định. Nếu tao chịu thua cái nhọt, quyết định theo cái nhọt chứ không theo ý chí của mình thì giờ chắc vẫn đang nằm trong viện quân y mùng năm tháng tám ở Thuỷ Nguyên, Hải Phòng.

Quang hạ chân xuống, Cách liền đặt tay lên chỗ đùi nổi nhọt của Quang cảm nhận được cái tròn lẳn, săn chắc của một bắp đùi mạnh mẽ. Không cùng trung đội, tiểu đội, chỉ cùng đại đội, Quang vẫn là thằng bạn thân nhất của Cách trong đại đội. Bố mất sớm nhưng vẫn còn để lại ấn tượng cho Quang về người cha đau ốm quặt quẹo. Tất cả gánh nặng gia đình trút lên vai mẹ Quang. Dù bố còn sống, mẹ đã phải lo toan, cáng đáng mọi việc trong gia đình. Bố mất, mẹ càng cơ cực hơn. Vất vả lo cơm áo nuôi bốn chị em Quang. Thời nghèo đói khốn cùng, thiếu từ cái kim, sợi chỉ. Mọi nhu cầu cuộc sống đều phân phối nhỏ giọt từ trên xuống, đều chia chác theo thế lực. Có thế, có lực thì giành được phần hơn. Nhà không có người đàn ông phải chịu thua thiệt mọi bề. Hai chị đi lấy chồng. Quang đi bộ đội. Giờ ở nhà chỉ còn mẹ và đứa em gái.

Có lần Quang đã khoe với Cách là đứa em gái giống mẹ từ con người đến tính cách. Dáng người cao dỏng, thon thả. Nhanh nhẹn. Tháo vát. Chịu thương chịu khó. Đặc biệt là đức nhường nhịn. Nó lại hơn mẹ ở chỗ được học hành chu đáo. Ở miền quê nghèo, con gái được học hết trung học phổ thông là của hiếm. Quang chia sẻ với Cách về tình cảm Quang dồn cho mẹ và đứa em gái. Mỗi lần nhận được thư nhà, Quang đều cho Cách xem. Thường là thư của đứa em gái. Cũng có đôi lần mẹ Quang trực tiếp viết. Chắc mẹ phải cố gắng lắm mới viết được nửa trang giấy vở học trò bằng thứ chữ do phong trào bình dân học vụ cho mẹ từ thời mẹ còn trẻ. Người đọc phải vừa đọc vừa đoán mới nhận ra điều mẹ viết. Cách đọc thư của mẹ Quang cũng xúc động như đọc thư của mẹ mình.

Chiều ngày 13 tháng 4, căn cứ vào thời gian vật vã trên tàu, vốn quen ước lượng không gian bằng thời gian, dù trong hầm hàng kín mít, lính vẫn xôn xao kháo nhau rằng tàu đã đến đảo Song Tử Tây. Cách lẻn chui ra khỏi hầm hàng, núp ở mũi tàu xác định hướng rồi nhìn về phía Đông. Quả nhiên thấy một vệt xám nhỏ trên mặt biển.

Bữa tối vẫn là lương khô ăn trong hầm tàu. Ở biển, ngày đến sớm và bóng đêm đến rất chậm. Bóng đêm đã đậm đặc trong hầm tàu, lính được lệnh mang trang bị cá nhân lên sàn tàu. Bóng đêm đã trùm xuống biển. Con tàu không còn rung và không còn nghe tiếng máy tàu là tàu đã tắt máy, thả trôi, chỉ giữ lái để sóng đẩy con tàu từ từ rút ngắn khoảng cách với đảo. Cuối tuần trăng. Mặt trăng mỏng manh, mòn vệt vừa chợt hiện ra mơ hồ trên cao đã biến mất. La bàn và hải đồ giúp con tàu gióng hướng trôi về phía đảo và xác định được vị trí hòn đảo còn chìm sâu hơn ba cây số trong đêm tối.

Chợt từ trong bóng đêm phía đảo vút lên cao những đường sáng trắng. Những đường sáng dừng lại và bùng vỡ ra thành những quầng sáng leo lét, những chiếc đèn trời treo lơ lửng trên cao. Từ nơi vừa vọt lên những quầng pháo sáng lại rạch ngang mặt biển những đường lửa đỏ lừ. Lẫn trong tiếng sóng nhận ra cả tiếng đạn nổ lục bục.

Đòi hỏi của cách đánh đặc công là chân phải đến, mắt phải thấy, tai phải nghe, tay phải sờ được mục tiêu. Trinh sát đặc công phải nhiều lần luồn vào căn cứ giặc, đếm từng hàng rào, từng chòi lính gác, thuộc từng mô đất, từng doi cát, sờ tận tay chỗ gài thuốc nổ. Lần này mới chỉ xác định được trên bản đồ mục tiêu đảo Song Tử Tây còn cách ba kilomet. Còn lực lượng đang giữ đảo như thế nào, bố trí ra sao thì lính miền Bắc ra giành lại đảo hoàn toàn mù tịt.

Điều hệ trọng nhất cũng chưa biết là lính miền Nam còn có mặt trên đảo không hay đã rút chạy, bỏ đảo hoang cho nước khác đến chiếm đảo rồi? Lính miền Bắc đụng độ với lính miền Nam ở Trường Sa thì cũng chỉ là việc nội bộ của người Việt, là cuộc nội chiến người Việt với người Việt từ trong đất liền đã lan ra tới Trường Sa xa tít ngoài biển Đông. Nhưng nhân cơ hội quân Việt Nam Cộng Hòa giữ đảo đang tan rã, quân nước ngoài đã lên chiếm Song Tử Tây thì quân miền Bắc Việt Nam lên giành lại đảo sẽ phải đụng độ với đội quân nước ngoài, sẽ là chiến tranh giữa hai quốc gia, sẽ là sự kiện quốc tế lớn, nghiêm trọng và phức tạp, là điều tối kỵ. Cuộc chiến trong đất liền chưa ngã ngũ, lính đặc công nước đã bí mật, gấp gáp ra Trường Sa là để tránh điều tối kỵ đó.

Bây giờ những chùm pháo sáng giật mình ngơ ngác, những loạt đạn hốt hoảng từ Song Tử Tây vãi ra biển đã cho những người lính đặc công miền Bắc biết rằng những người lính của đội quân đang tan rã còn đang có mặt trên đảo. Cả đại quân đang ầm ầm sụp đổ thì số phận nhúm quân nhỏ nhoi, lẻ loi, đơn độc giữa biển cả cũng đã được định đoạt rồi. Chờ sự định đoạt bi thảm đến trong thấp thỏm, bất an, chốc chốc lính miền Nam trên đảo lại giật mình bắn những chùm pháo sáng run rảy để nhìn thấy sự định đoạt số phận đến, lại xối xả vãi những loạt đạn ra biển để tự trấn an rồi lại nín thở đếm từng phút, chờ đợi sự định mệnh của lịch sử đến với họ.

Con tàu lại được chỉnh lái lảng ra xa. Hai mươi mốt người lính dồn lại thành vòng tròn quanh đại đội trưởng Quế trên sàn tàu nghe phương án chiến đấu. Đại đội trưởng Quế ngồi trên gót chân, quỳ gối xuống sàn tàu, một tay cầm đèn pin chiếu xuống tấm bản đồ phóng lớn hình đảo Song Tử Tây, một tay chỉ trên bản đồ. Ngồi sát bên phân đội trưởng Quế, Cách căng mắt nhìn hình ba con tàu ở ba phía Đông Bắc, Nam và Tây Nam đảo và dỏng tai lên nghe phân đội trưởng Quế triển khai đội hình chiến đấu. Quang và Cách trong đội hình phân đội Một do phân đội trưởng, trung uý Quế chỉ huy rời tàu vào đảo từ phía Đông Bắc. Quyền trong đội hình phân đội Hai do phân đội trưởng trung uý Cường chỉ huy tiếp cận đảo từ phía Nam. Phân đội Ba của trung uý Minh được giữ lại làm lực lượng dự bị trên con tàu là sở chỉ huy của trung tá Mai Năng ở phía Tây Nam đảo.

Trung uý Quế nhắc lính nhớ ám hiệu để nhận ra nhau. Đảo nhỏ, rộng chỉ hơn trăm mét, dài vài trăm mét. Hướng vào đảo khác nhau, đặt chân lên đảo là đối mặt, đối súng, nòng súng chĩa vào nhau ngay. Đêm tối không nhận ra nhau, quân ta rất dễ nã đạn vào quân mình. Lên đảo, phân đội Một sẽ chủ động bắt liên lạc với phân đội Hai. Lệnh nổ súng là tiếng nổ của khẩu ĐKZ ở hướng Đông Bắc của phân đội Một. Nhiều tình huống được phân đội trưởng Quế nêu ra. Cả tình huống bất lợi nhất là sóng dữ, xuồng cao su bị lật hoặc bị hoả lực trên đảo ngăn chặn, xuống không vào đảo được thì lính đặc công nước lại phát huy kỹ năng chiến đấu cá nhân trên sóng nước, bơi vo vào đảo, bám đảo chiến đấu. Ta đang ở thế chủ động và tinh thần áp đảo. Quân giữ đảo đang bị động, suy sụp và hoàn toàn không còn sĩ khí. Dù tình huống nào, quân miền Bắc cũng nắm quyền chủ động và chắc thắng.

Dù ngồi sát và chăm chú nghe những điều trung uý Quế nói nhưng Cách vẫn chưa thoát khỏi trạng thái lơ mơ, bồng bềnh. Cách chỉ nghe rõ được mỗi câu “Các đồng chí rõ chưa?” khi trung uý Quế chốt lại lời cuối cùng. Không nghe rõ từng lời nhưng hiểu được đội bố trí hình các hướng và mục tiêu của từng hướng, Cách muốn bật ra tiếng “rõ” nhưng họng khô khốc, không cất được thành lời. Cũng chỉ lác đác vài tiếng “rõ” thều thào, âm thanh vừa thoát ra khỏi miệng lính đã bị gió ào ạt tạt đến thổi bạt đi, chìm vào tiếng sóng. Phần lớn lính vẫn còn đang lử lả. Người lính bên cạnh Cách còn bò ra mép sàn tàu nôn oẹ. Cách thấy trí não mình đang tỉnh ra, đang hăm hở và chân tay đang muốn vận động. Có lẽ người lính nào cũng vậy thôi, đang rũ rượi vì một nỗi buồn, đang mệt mỏi vì sự cố bất thường trong cơ thể nhưng cầm đến khẩu súng bước vào cuộc chiến là bước vào sống chết, trước hết phải giành lấy sự sống cho mình thì mọi phiền muộn riêng tư, mọi uể oải của cơ thể cũng biến mất.

Trong lúc con tàu thả trôi vào sát thềm san hô nông thi lính làm những việc chuẩn bị cuối cùng trước khi vào trận. Mỗi người được phát hai gói mì ăn liền. Một thùng nước sôi được thuỷ thủ trên tàu khiêng ra đặt giữa sàn tàu cùng một túi ni lông đũa tre. Lính múc nước sôi đổ vào ca mì ăn liền, cầm đũa tre lùa mì vào miệng và sì soạp húp nước mì nóng, hít hà khoan khoái, thoả mãn. Không khí xôn xao, chộn rộn hẳn lên. Không còn ai ỉu xìu hoặc vật vờ vì say sóng nữa. Những ca mì ăn liền nóng hổi làm dịu lại nỗi cồn cào, lử lả của những người lính sau ba ngày, ba đêm trên con tàu nhỏ vật vã trên sóng.

Cách ăn hết ca mì thì Quang lại kiếm đâu được quả chanh khá to. Quang bóc vỏ chanh và tách ra hai múi chanh đưa Cách:

– Này, vitamine xê đây. Mấy ngày không có rau xanh, trong người cũng hốc háo như mấy ngày không thấy bóng đàn bà. Múi chanh là rau xanh đấy còn đàn bà phải đợi đến ngày về lại Đà Nẵng. Ăn tạm múi chanh đi cho đỡ háo.

Quang tách từng múi chanh, chia cho mấy người chung quanh. Mùi vị đàn bà chưa biết thế nào còn mùi vị múi chanh lúc này quả thật thú vị, tuyệt vời. Chưa bao giờ Cách được ăn múi chanh ngon đến thế. Giọt nước mang vị chua dịu, êm ái thấm vào họng đang khô cứng. Họng hết khô, môi mềm lại và Cách cũng hình dung ra môi đang chuyển từ màu tái nhợt nhạt sang màu hồng hào vốn có. Cảm giác trống trếnh và hốc háo cũng mất luôn. Đi nhận thêm trang bị, Cách thấy người chỉ còn hơi hiu hiu. Còn cảm giác đầu nặng, chân nhẹ nên bước đi chưa chắc chắn nhưng Cách thấy rõ bước đi đang mạnh mẽ, vững vàng dần.

Được nhận thêm lựu đạn, thủ pháo, yếm bơi. Lính bắt đầu nai nịt. Lại hiện ra hình ảnh quen thuộc người lính đặc công nước âm thầm ra vào quân cảng Cửa Việt. Đầu trùm mũ bơi. Áo ngắn tay. Quần đùi. Yếm bơi trước ngực để mang lựu đạn, thủ pháo, dao găm. Ở Cửa Việt, lính đặc công chân trần đạp trên cát. Ở Đà Nẵng ra Trường Sa, lính được phát đôi bí tất mới dày cùng với sợi dây buộc bí tất. Không phải chỉ chống lại góc cạnh đá san hô sắc lẻm như đá tai mèo, bí tất dày còn giúp lính cảm nhận được chỗ đặt chân và bàn chân có độ bám vào những mỏm san hô gập ghềnh.

Hai tay ôm khư khư bọc ni lông căng phồng như nhện ôm trứng, Cách đứng bên mạn tàu đợi đến lượt xuống xuồng cao su. Trong bọc ni lông là súng, đạn, thủ pháo, tăng, võng, lương khô, túi cứu thương cá nhân, dép cao su, ca, bi đông nhôm đầy nước, bát tráng men, cả đôi đũa tre . . . Lính đặc công ôm bọc ni lông đứng bên lan can tàu như đàn nhện ôm trứng bám trên lưới nhện. Chợt tiếng Quang dội lên và chìm nổi trong tiếng gió vù vù cùng khuỷu tay Quang thúc mạnh vào sườn Cách:

– Tao đi trước đây, Cách!

Chuyển khẩu cối 82 xuống xuồng rồi Quang bám thang sắt tụt xuống. Chiếc xuồng cao su nhanh chóng mất hút vào bóng đêm.

Cách xuống xuồng thứ ba, xuồng cuối cùng. Không nhìn thấy mặt biển, chỉ nghe tiếng sóng ầm ào. Sợi cáp ni lông níu chiếc xuồng vào con tàu. Chiếc xuồng cao su vừa dềnh lên, hụp xuống. theo tàu, vừa bị sóng giằng ra xa nhưng được sợi cáp ni lông buộc vào tàu níu lại, chiếc xuồng liền bị sóng lật dựng đứng lên rồi ném lại tàu. Đây là đận gay go nhất của lính biển, là cung đoạn thử thách lớn nhất trên đường vào đảo.

Ở Trường Sa, đảo nào cũng nổi lên trên thềm san hô rộng và nông, còn chìm dưới mặt nước biển trên dưới một mét nước. Nước nông, tàu không thể vượt qua thềm san hô rộng để cập vào đảo, đành neo lại ngoài thềm san hô nông. Lính phải chuyển trang bị, vũ khí xuống xuồng cao su vượt qua bức tường sóng sôi sục chỗ mép thềm san hô, vào đảo.

Những triền núi nước nhấp nhô rùng rùng chuyển động mang sức mạnh của biển đang hăm hở trườn đến đảo bất ngờ húc phải mép thềm san hô nông, núi nước dựng lên thành bức tường nước sôi sục và trắng xoá. Bức tường nước đổ ập trở lại phía biển và bị dội ra biển thì triền núi nước sau trườn đến chặn đứng khối nước của triền núi nước trước đang dội ra biển. Những xung đột của những núi nước chuyển động ở mép thềm san hô không khi nào dứt, tạo ra những ngọn sóng trắng xoá cao ngất ngưởng, ầm ầm sôi sục bao quanh đảo.

Những bức tường sóng lừng lững như vách núi dựng lên, ngăn chặn và nuốt chửng những vật thể nhỏ bé dưới ngọn sóng. Chiếc xuồng cao su mỏng manh vật vờ lao vào bức tường nước, chui vào hàm sóng nếu không biết chèo chống liền bị nhấn chìm, bị lật úp tức thì. Xuồng lật. Vũ khí đã văng khỏi xuồng thì đành gửi lại đáy biển. Người không có kỹ năng chống chọi với sóng dữ sẽ bị sóng ném vào ngầm đá san hô, bị cạnh sắc đá san hô cứa nát người, thân xác bị sóng đẩy ra biển mênh mông, đưa vào miệng những loài cá dữ.

Vượt được bức tường sóng bao quanh đảo ở mép thềm san hô chỉ trông vào hai yếu tố. Một là sóng không dữ quá. Sóng dữ quá thì neo tàu cũng bị sóng lôi đi, tàu không thả neo được, không thể thả được xuồng xuống biển. Tàu thả được neo thì vượt qua bức tường sóng chỉ còn là kỹ năng chèo chống chiếc xuồng cao su của lính đặc công nước. Cách vừa bước xuống xuồng cao su, một ngọn sóng táp nước lạnh vào mặt làm cho Cách tỉnh táo hẳn. Cách kéo sợi cáp ni lông cho xuồng áp sát tàu ở dưới thang sắt, đón cả mũi chiến đấu xuống xuồng.

Bảy người đã san đều và ngồi cân bằng trong xuồng. Sức nặng bảy người làm cho xuồng đằm lại, bớt chao đảo và ổn định di chuyển theo sự chèo chống của bảy người lính đặc công nước. Sợi cáp ni lông neo xuồng vào tàu được thả ra. Chiếc xuồng cao su tách ra khỏi con tàu hướng vào đảo. Bức tường sóng trắng xoá và sôi sục ngay trước mũi xuồng. Chỗ bắt đầu bãi san hô nông đấy. Bảy người lính đặc công nước chỉ quen ra vào cửa sông Thạch Hãn lần đầu ra Trường Sa đã đưa chiếc xuồng qua trót lọt bức tường sóng mép thềm san hô trong đêm tối. Qua được bức tường sóng dựng quanh đảo là đã giành được phần thắng trong cuộc chiến với sức mạnh biển cà, cuộc đổ bộ vào đảo đã thành công. Chỉ còn cuộc chiến với con người trên đảo.

(Còn tiếp)

Trường Sa ngày 14-4-1975 (Phần 1)

Ký sự của Phạm Đình Trọng

30-4-2025

Lời dẫn: Phần lớn người dân Việt Nam ở trong nước chìm đắm trong tuyên truyền áp đặt đều nhận thức rằng, cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc ngày 30.4.1975 là cuộc kháng chiến cứu nước hào hùng chống Mỹ xâm lược. Người dân đều nhìn nhận cuộc chiến tranh đó với cảm hứng tự hào của người chiến thắng. Người viết sử, viết báo, viết văn và làm nghệ thuật đều thể hiện cuộc chiến tranh thảm khốc tương tàn đó bằng cảm hứng anh hùng ca.

Trung Quốc đưa quân lên bãi đá Việt Nam tuyên bố chủ quyền ở Trường Sa

RFA

Trường Sơn

25-4-2025

Quân nhân Trung Quốc căng cờ trên đá Hoàng Ân thuộc quần đảo Trường Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Ảnh: Global Times

Thông tin về vụ việc này được Trung Quốc công bố trùng với dịp nước này cử quân sang Việt Nam diễu binh.

Tiến về đâu thế hả ông?

Vương Trọng

28-3-2025

Nghe đồn rằng, hiện nay có một thế lực đang chuẩn bị để sắp tới quyết định thành lập các “Đặc khu kinh tế”. Cũng nghe đồn có một vị khá to tuyên bố rằng: “Lần này thì chỉ bàn Tiến, không bàn Lùi”!

Máu Gạc Ma và ly trà sữa Trung Hoa

Lê Đức Dục

16-3-2025

Ngày 14-3-2025, cộng đồng mạng Việt Nam đã phát hiện ứng dụng của thương hiệu trà sữa Chagee hiển thị hình ảnh bản đồ chứa “đường lưỡi bò” phi pháp, vi phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam.

Tháng Hai, khởi động mới từ biên ải…

Lê Đức Dục

7-2-2025

Hai hôm nay, chuyến đi dâng hương cho các anh hùng liệt sĩ hy sinh trong cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc tại Vị Xuyên (Hà Giang) của Tổng bí thư Tô Lâm thực sự được cộng đồng quan tâm và ca ngợi.

Vài hiểu lầm của công chúng về vấn đề pháp lý của Hoàng Sa

Đặng Đình Mạnh

20-1-2025

Ngày 19/01/2024 đánh dấu 50 năm tròn Trung Cộng nổ súng xâm chiếm Hoàng Sa của Việt Nam. Nhân dịp này, đã xuất hiện nhiều bài viết kỷ niệm về sự kiện và tưởng niệm các binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh trong việc bảo vệ lãnh thổ.

Ai bảo ông Tô Lâm đã thay đổi?

Đặng Bích Phượng

19-1-2025

Mấy hôm trước, thằng cháu hỏi, ‘cô có bị canh không’?

Một chị bảo, cảnh sát khu vực hỏi ngày mai là ngày gì mà ở trên cứ hỏi ‘cô có nhà không’?

Hóa ra ngày mai, tức hôm nay, là 19/1, là ngày cách đây gần 60 năm, Trung Quốc chiếm Hoàng Sa.

Hoàng Sa và lời nhắc hãy luôn coi chừng Trung Quốc!

Lê Đức Dục

19-1-2025

Đúng 14 năm trước, cũng sáng này, 19-1-2011 mình từ Quảng Trị vào Đà Nẵng, bảo chú Võ Quang Sơn: “Mi chở anh tới trụ sở Sở Nội Vụ Đà Nẵng với”.

51 năm Hải chiến Hoàng Sa (19/1/1974 – 19/1/2025)

Cù Mai Công

18-1-2025

MỘT BUỔI HẦU CHUYỆN NHÂN CHỨNG HOÀNG SA

0g đêm 16 rạng 17-1-1974, 25 tháng Chạp, còn vài ngày nữa tết. Vùng Ông Tạ đang tràn ngập không khí đón tết Giáp Dần 1974 thì ít nhất bốn cư dân vùng Ông Tạ lặng lẽ cùng chiến hữu lướt sóng Biển Đông tiến ra Hoàng Sa, bước vào cuộc Hải chiến Hoàng Sa 19-1-1974 bi hùng.

‘Cơ chế 3+3’: Thêm một chiếc vòng kim cô?

Blog VOA

Hoàng Trường

19-12-2024

Tô Lâm và Tập Cận Bình bắt tay tại một buổi lễ ở Đại Sảnh Đường Nhân Dân, Bắc Kinh, 19 tháng Tám, 2024. Hình minh họa. Nguồn: AP

Kẻ thù và giao thiệp

Tuấn Khanh

4-11-2024

Trung Quốc vừa lời trả với tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam về chuyện các tàu hải cảnh nước này đã tấn công tàu cá ngư dân Việt ở gần Hoàng Sa, đánh đập, bắt cóc, giam thuyền và người. Theo đó, Trung Quốc nói rất trịch thượng là: “Việt Nam cần giáo dục ngư dân của mình không xâm phạm vùng biển của nước khác”.

Biển Đông: Các đảo tiền đồn ngày càng lớn của Việt Nam ở Trường Sa khiến Trung Quốc lo ngại

SCMP

Tác giả: Alyssa Chen

Cù Tuấn, dịch

27-10-2024

Tóm tắt: Theo các chuyên gia, bất chấp các cuộc đối thoại cấp cao, các cuộc đối đầu trên biển giữa Bắc Kinh và Hà Nội không chỉ dai dẳng mà còn có khả năng leo thang trong tương lai

***

Các bước tiến của Việt Nam diễn ra nhanh chóng và lặng lẽ.

Theo tổ chức nghiên cứu Sáng kiến thăm dò Biển Đông có trụ sở tại Bắc Kinh, chỉ trong năm tháng qua, Việt Nam đã cải tạo được hơn 2km vuông (0,8 dặm vuông) tại quần đảo Trường Sa đang có tranh chấp.

Hà Nội kiểm soát 11 trong số 29 thực thể trong quần đảo này, nơi mà Bắc Kinh cũng tuyên bố chủ quyền và được Trung Quốc gọi là Nam Sa.

Theo một số ước tính, nếu Việt Nam duy trì tốc độ xây dựng đảo ở Biển Đông, nước này có thể vượt qua Trung Quốc.

Cho đến nay, phản ứng của Trung Quốc vẫn khá im ắng – đặc biệt khi so sánh các tranh chấp chủ quyền với Philippines trên cùng vùng biển này.

Nhưng các nhà phân tích hàng hải cho rằng, Bắc Kinh có thể sẽ quan ngại về điều này, và trong khi hai bên có kênh liên lạc mở để giải quyết tranh chấp, những khác biệt cơ bản giữa hai nước dự kiến sẽ vẫn tồn tại.

Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) có trụ sở tại Washington, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, cũng đã ghi nhận những nỗ lực mở rộng đảo của Việt Nam.

Trong một báo cáo hồi tháng 6, cho biết, Hà Nội đang trên đà vượt qua các kỷ lục trước đó về xây dựng đảo trong năm nay. Báo cáo cho biết, từ tháng 11 đến tháng 5, Việt Nam đã có thêm khoảng 692 mẫu Anh (khoảng 2,8km vuông) tại 10 thực thể khác nhau ở quần đảo Trường Sa, một dấu hiệu cho thấy sự gia tăng mở rộng lãnh thổ.

Hu Bo, giám đốc SCSPI cho biết: “Hà Nội đã liên tục mở rộng các thực thể chiếm đóng tại quần đảo Trường Sa kể từ thập niên 1970… và đã có sự tăng tốc đáng kể về cả tốc độ và quy mô của những sửa đổi này, kể từ đợt mở rộng mới nhất bắt đầu hồi tháng 10 năm 2021”.

Hu Bo cho biết, Việt Nam – quốc gia chiếm đóng nhiều thực thể nhất trong số các quốc gia có yêu sách ở quần đảo Trường Sa – đã tích cực cải tạo đất trên 11 thực thể đó và không có dấu hiệu ngưng lại.

“Những nỗ lực cải tạo đất trên đảo của Việt Nam có khả năng vượt quá quy mô các hoạt động trước đây của Trung Quốc trong khu vực”, Hu nói và nói thêm rằng, Bắc Kinh nên công khai giải quyết vấn đề với Hà Nội, vì “các cuộc phản đối riêng tư là vô nghĩa”.

Chen Xiangmiao, nghiên cứu viên cộng tác tại Viện Nghiên cứu Biển Đông Quốc gia, có trụ sở tại Hải Nam, cho biết, Việt Nam muốn tận dụng hoạt động xây dựng đảo để tăng cường kiểm soát quần đảo Trường Sa, vì có khả năng sẽ thiết lập sự hiện diện liên tục của các tàu thực thi pháp luật trên biển và mở rộng việc triển khai các cơ sở quân sự tại đây.

“Trước đây, Hà Nội duy trì số lượng hạn chế các căn cứ ở Trường Sa, và chúng chỉ có khả năng tiếp nhận các tàu nhỏ. Tuy nhiên, với những nâng cấp gần đây đối với các cơ sở cảng của mình, Việt Nam đang sẵn sàng duy trì sự hiện diện liên tục của lực lượng thực thi pháp luật hàng hải, điều này sẽ tăng cường đáng kể quyền kiểm soát của mình đối với toàn bộ khu vực Trường Sa”, Chen cho biết.

Trong số nhiều rạn san hô do Việt Nam kiểm soát, rạn san hô Barque Canada (tên Việt: Bãi Thuyền Chài) nổi bật là tiền đồn lớn nhất của Việt Nam và là thực thể lớn thứ tư ở quần đảo Trường Sa. Malaysia cũng tuyên bố chủ quyền đối với rạn san hô này và lo ngại về việc xây dựng tiền đồn của Việt Nam tại đây.

Báo cáo của AMTI lưu ý rằng, rạn san hô Barque Canada có diện tích 1,66km vuông hồi tháng 5 và là tiền đồn duy nhất do Việt Nam kiểm soát có thể chứa đường băng dài 3km (1,86 dặm) đủ khả năng hạ cánh cho hầu hết các máy bay quân sự của Việt Nam.

Theo SCSPI, rạn san hô này có diện tích 2,66km vuông và một đường băng đang được xây dựng nhanh chóng trên đó, với hơn 410 mét đường băng đã được quan sát cho đến nay.

“Những vụ nâng cấp gần đây đối với các tiền đồn đã nâng cao năng lực của Việt Nam trong việc tiếp nhận các tàu lớn – từ hàng ngàn đến gần 10 ngàn tấn – cho thấy tiềm năng của họ đối với việc neo đậu tàu quân sự trong tương lai“, Chen cho biết. Ông nói rằng các công trình phòng thủ đang được xây dựng, được trang bị doanh trại, pháo binh và các cơ sở quân sự khác.

Quần đảo Trường Sa không nằm dưới sự kiểm soát của bất kỳ quốc gia nào mà nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Malaysia, Brunei, Việt Nam và Philippines, cũng như nằm trong phạm vi đường chín đoạn rộng lớn của Trung Quốc, quốc gia tuyên bố chủ quyền đối với phần lớn tuyến đường thủy này.

Ông Chen cho biết, những nỗ lực của Việt Nam nhằm chiếm đóng “bất hợp pháp và vĩnh viễn” các thực thể này sẽ đặt ra thách thức đáng kể cho Trung Quốc vì chúng có khả năng thúc đẩy các hành động tương tự từ Philippines và các quốc gia có yêu sách khác.

“Các tàu Việt Nam có thể mạo hiểm đi vào các vùng biển xung quanh các đảo và rạn san hô do Trung Quốc kiểm soát hoặc cố gắng thiết lập sự hiện diện trên một số thực thể chưa bị chiếm đóng ở quần đảo Trường Sa”, ông Chen nói.

“Những hành động này có thể dẫn đến leo thang tương tác và cạnh tranh trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam, gây ra những lo ngại đáng kể cho chính quyền Trung Quốc”.

Ông Chen cho biết, những bất ổn xung quanh việc nâng cấp các đảo tiền đồn của Việt Nam sẽ trở nên phức tạp hơn nữa.

Cho đến nay, Trung Quốc đã đưa ra phản ứng ôn hòa đối với các nỗ lực cải tạo đất của Việt Nam trên vùng biển này, trái ngược với lập trường quyết đoán hơn đối với Philippines. Các chuyên gia cho rằng, sự khác biệt trong cách tiếp cận của Bắc Kinh liên quan đến lòng tin chính trị lẫn nhau giữa hai quốc gia xã hội chủ nghĩa.

Trung Quốc duy trì trao đổi chặt chẽ với ban lãnh đạo cấp cao mới của Việt Nam sau một cuộc cải tổ quyền lực. Tuần này, tướng quân đội Lương Cường  được bầu làm chủ tịch nước mới để kế nhiệm Tô Lâm, người đã giữ chức Chủ tịch nước ngay cả sau khi được bổ nhiệm chính thức làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản cầm quyền hồi tháng 8.

Ông Lương Cường đã được Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tiếp đón trong tháng này và họ đã tái khẳng định cam kết tăng cường quan hệ giữa hai nước. Ông Tô Lâm đã đến thăm Trung Quốc hồi tháng 8, trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên sau khi nhậm chức và cam kết giải quyết tranh chấp trên biển giữa hai nước thông qua đối thoại.

Luo Liang, trợ lý nghiên cứu viên tại Viện Nghiên cứu Biển Đông Quốc gia, cho biết, vẫn còn quá sớm để nhận định định hướng chính sách đối ngoại của chính quyền mới tại Việt Nam, “tuy nhiên, khả năng thay đổi triệt để lập trường đối với Trung Quốc có vẻ không cao”.

Theo ông Luo, các hành động của Việt Nam đã vấp phải nhiều cuộc đàm phán và phản đối thông qua các kênh ngoại giao nội bộ của Bắc Kinh.

“Nhưng sự tương tác thường xuyên giữa các quan chức cấp cao và các kênh liên lạc cởi mở, thông suốt giữa Trung Quốc và Việt Nam đã giúp giải quyết hiệu quả các bất đồng trên biển, giúp giảm thiểu tác động bất lợi đến quan hệ song phương”, Luo cho biết.

Theo ông Luo, bất chấp những nỗ lực này, những bất đồng cơ bản về Biển Đông vẫn tiếp tục là một thách thức.

Hồi năm 2013, Trung Quốc đã bắt đầu một chương trình xây dựng đảo lớn của riêng mình tại quần đảo Trường Sa. Trung Quốc đã xây dựng cả cơ sở hạ tầng dân sự và quân sự, bao gồm đường băng quân sự, trạm radar, bến cảng và nhà ở cho quân đội.

Bắc Kinh cho biết, chúng được xây dựng trên các thực thể do họ kiểm soát và hành động trên là “hợp pháp và chính đáng”.

Theo một phó giáo sư tại Quảng Châu chuyên về Biển Đông và yêu cầu được giấu tên, những hành động kiên quyết của Việt Nam trong việc bảo vệ các yêu sách của mình có thể làm phức tạp thêm những nỗ lực trong tương lai của Trung Quốc nhằm khẳng định quyền lợi của mình ở Biển Đông.

Các cuộc đối đầu trên biển giữa Bắc Kinh và Hà Nội không chỉ dai dẳng, mà còn có khả năng leo thang trong tương lai, học giả này cho biết, trích dẫn một sự cố trong tháng này, trong đó Việt Nam cáo buộc Trung Quốc tấn công 10 ngư dân Việt Nam, khiến ba người bị gãy chân, tay. Cuộc đối đầu cũng dẫn đến thiệt hại cho tàu đánh cá Việt Nam và tàu Trung Quốc đã tịch thu số cá đánh bắt được của họ.

Bắc Kinh bác bỏ cáo buộc này, tuyên bố các tàu thuyền Việt Nam đang đánh bắt cá bất hợp pháp trong khu vực. Trung Quốc cho biết, họ đã phản ứng một cách chuyên nghiệp và kiềm chế để ngăn chặn các tàu thuyền, và không có thương vong nào xảy ra.

Sau khi tham dự một diễn đàn khu vực tại Lào, Thủ tướng Trung Quốc Lý Cường đã tới Việt Nam để thảo luận với Tổng bí thư Tô Lâm và Thủ tướng Phạm Minh Chính, tạo cơ hội cho Bắc Kinh hàn gắn quan hệ.

Trong văn bản tuyên bố, Bắc Kinh và Hà Nội cam kết “kiềm chế không thực hiện các hành động làm phức tạp tình hình và mở rộng quy mô tranh chấp”.

Ngoài ra, hai bên đã nhất trí khởi xướng các dự án phát triển hàng hải chung ở những khu vực ít nhạy cảm và cải thiện tương tác giữa các lĩnh vực quốc phòng và an ninh.

“Cường độ và mức độ nghiêm trọng của cuộc đụng độ tiếp theo giữa Trung Quốc và Việt Nam có thể vượt qua các sự cố trước đó. Tuy nhiên, các cuộc đối thoại cấp cao có thể tạm thời ổn định và hạ nhiệt, nhưng vẫn chưa giải quyết được vấn đề cốt lõi“, các học giả tại Quảng Châu cho biết.

Tô Lâm và Phạm Minh Chính giảm nhẹ vụ ngư dân Quảng Ngãi bị hành hung?

RFA

Trần Hiếu Chân

14-10-2024

Thủ tướng Trung Quốc Lý Cường dự cuộc họp với Tổng bí thư – Chủ tịch Tô Lâm tại Hà Nội hôm 12/10/2024. Nguồn: LUONG THAI LINH / EPA POOL / AFP

Vừa ăn cướp, vừa la làng!

Đoàn Bảo Châu

7-10-2024

Một trò bẩn của bạn “vàng” mà người Việt Nam rất quen thuộc. Đã đâm tầu của Phi, xong lại đổ vạ.

15 năm và cuộc khởi hành về biển đảo

Lê Đức Dục

23-8-2024

Như biển cả nối nhau bởi từng cơn sóng, những chương trình của Tuổi Trẻ khởi đi từ sự tin yêu và niềm biết ơn với người lính canh giữ thềm lục địa đã tạo ra những cơn sóng khác, lay động tâm hồn người Việt. Đó là tình yêu Tổ quốc.

Về vụ Trung Quốc công bố đường cơ sở bổ sung ở Vịnh Bắc Bộ

Trương Nhân Tuấn

15-3-2024

Phần đường cơ sở Trung Quốc vừa bổ sung (màu đỏ). Ghi Chú của nhà nghiên cứu Phan Văn Song

Vụ Trung Quốc công bố hệ thống đường căn bản bổ túc trong Vịnh Bắc Việt gây “giật gân” trong giới nghiên cứu và báo chí hải ngoại, khiến Bộ Ngoại giao Việt Nam phải lên tiếng “chữa lửa”. Nhứt là BBC, trang này đăng ý kiến nhiều chuyên gia, có ý kiến đọc qua “té ghế”. Vụ này tôi nói rồi, hôm kia.

Nửa sự thật vụ Gạc Ma

Nguyễn Thông

14-3-2024

Lời giới thiệu từ Tiếng Dân: Liên quan đến sự hèn hạ của lãnh đạo CSVN khi nói về ông “bạn vàng phương Bắc” mà tác giả Nguyễn Thông chỉ ra trong bài viết bên dưới; hôm qua, bà Đặng Bích Phượng viết: “Các chiến sĩ hải quân hy sinh dưới làn đạn của lính Trung Quốc, lại bị Bộ Ngoại giao Việt Nam biến thành thủy thủ bị nạn – khốn nạn và hèn hạ ngoài sức tưởng tượng các cụ ạ.

Vụ Gạc Ma: Con tàu HQ-505 ủi bãi để giữ đảo Cô Lin giờ ở nơi đâu?

Lê Đức Dục

14-3-2024

Tàu HQ 505. Ảnh: Lê Đức Dục/ tư liệu

Trong trận Gạc Ma, hai tàu HQ-604 và HQ-605 bị chìm nhưng thuyền trưởng Vũ Huy Lễ đã cho HQ-505 ủi bãi lên đảo Cô Lin, nhờ đó chúng ta đã giữ được Cô Lin đến hôm nay.

Gạc Ma 1988 liệu đã phải là cuộc xâm lược cuối cùng?

RFA

TS Đình Hoàng Thắng

10-3-2024

Một cuộc tập trung ở Hà Nội năm 2016 tưởng niệm cuộc hải chiến Gạc Ma. Nguồn: AFP

Tuyên bố 36 năm ngày mất một phần quần đảo Trường Sa

10-4-2024

Sau lễ kỷ niệm 60 năm thành lập Hải Quân Trung Quốc (PLAN) ngày 23/4/2009, cùng ngày Trung Quốc đã đưa một đoạn phim lên YouTube về trận đánh 14/3/1988: “Trung Quốc nổ súng chiếm Trường Sa”. Thật ghê rợn khi thấy những họng súng của Hải Quân Trung Quốc xé nát Gạc Ma trong khi những người lính Việt Nam hoàn toàn không có khả năng tự vệ, co cụm giữa trận địa trong “Vòng Tròn Bất tử”, họ chỉ đơn giản chờ đợi một cái kết không thể nào tránh khỏi.