Ngày Gạc Ma 14.3.1988

Phạm Đình Trọng

14-3-2019

Tháng một, năm bảy mươi tư (1974) giặc đánh chiếm cả quần đảo Hoàng Sa của tổ tiên ta

Tháng ba, năm tám mươi tám (1988) giặc tung hạm đội mạnh phong tỏa quần đảo Trường Sa

Tàu khu trục tên lửa, tàu pháo ba mươi bảy li, pháo một trăm li

Tàu đổ bộ chở quân rập rình quanh đá Xu Bi, đá Huy Gơ, đá Ga Ven, Chữ Thập, đá Châu Viên, đá Gạc Ma.

 

Mưu đồ giặc đã phơi bày chẳng cần giấu diếm

Giặc cần có thế đứng cả hai chân Hoàng Sa – Trường Sa để làm chủ biển Đông.

Thời khắc Trường Sa ngày mười bốn tháng ba, năm tám mươi tám

Như thời khắc Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Móng Cái ngày mười bảy tháng hai, năm bảy mươi chín (1979)

 

Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh

Không thể nhân nhượng với kẻ xâm phạm lãnh thổ thiêng liêng

Nhưng những bãi đá Trường Sa giặc rình rập đánh chiếm

Chỉ có bảy mươi hai người lính công binh

Trong tay không có súng

 

Rạng sáng ngày mười bốn tháng ba, năm một ngàn chín trăm tám mươi tám

Từ tàu đổ bộ, giặc Tàu Cộng tràn lên bãi đá Gạc Ma

Giặc xả súng vào những người lính Việt Nam trong tay chỉ có xà beng, cuốc, xẻng

Giặc cướp lá cờ chủ quyền Việt Nam rồi rút lẹ về tàu đổ bộ.

 

Sau khi trở thành những tấm bia sống hứng lưỡi lê và đạn AK của giặc Tàu Cộng

Những người lính Việt Nam sống sót trên Gạc Ma lại trở thành những tấm bia sống

Của pháo ba mươi bảy li, pháo một trăm li từ hạm tàu giặc bắn tới

Những người lính Việt giữ mảnh đất của tổ tiên người Việt mà như những tử tù trên pháp trường đất giặc

 

Thủy triều lên

Đá Gạc Ma chìm dưới lênh đênh nước biển

Không còn bóng một người lính Việt Nam trên ngọn sóng hoang vu

Từ trên tàu đổ bộ, giặc Tàu Cộng liền trở lại làm chủ Gạc Ma từ trưa ngày đau thương 14.3.1988

 

Người lính ra trận giữ đất hương hỏa của ông bà tổ tiên nhưng không được cầm súng

Vì lệnh miệng của cấp trên truyền xuống

Không nổ súng để không mắc mưu khiêu khích của giặc

Ông cấp trên trí trá giải thích lệnh không được cầm súng.

 

Tháng ba, năm tám mươi tám

Những người lính giữ Trường Sa không được cầm súng

Sáu dải đá san hô trong quần đảo Trường Sa của tổ tiên người Việt bị giặc Tàu Cộng đánh chiếm

Đá Gạc Ma, đá Chữ Thập, đá Châu Viên, đá Xu Bi, đá Huy Gơ, đá Ga Ven.

Không được cầm súng

Sáu mươi tư người lính Việt Nam trở thành sáu mươi tư tấm bia sống cho giặc Tàu Cộng giết hại.

 

Lệnh không nổ súng là lệnh đầu hàng

Lệnh dâng đá Gạc Ma, đá Chữ Thập, đá Châu Viên, đá Xu Bi, đá Huy Gơ, đá Ga Ven cho giặc Tàu Cộng

Lệnh phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân, phản bội lịch sử

Lệnh ô nhục của kẻ bán nước ô nhục

 

Lời nói gió bay

Tưởng lệnh miệng vô bằng sẽ trốn không bị nhân dân hỏi tội, không bị lịch sử phán xét

Nhưng Trường Sa tháng ba, năm một ngàn chín trăm tám mươi tám

Gạc Ma ngày mười bốn tháng ba năm tám mươi tám đau thương

Là bằng chứng không thể chối cãi của lệnh trói tay người lính

Bắt người lính phải đầu hàng giặc.

Giao mạng sống người lính cho giặc

Giao biển đảo của tổ tiên cho kẻ thù của sâu thẳm lịch sử Việt Nam.

Việt Nam học cách sống dưới cái bóng của Trung Quốc

Nikkei Asian Review

Tác giả: Sebastian Strangio

Dịch giả: Châu Minh Dũng

6-3-2019

Nhiều binh sĩ Việt Nam thiệt mạng trong chiến tranh biên giới năm 1979 với Trung Quốc đã an nghỉ tại nhiều nghĩa trang quân sự vẫn còn rải rác ở miền bắc Việt Nam. Nguồn: Sebastian Strangio

Bốn thập niên trôi qua, cuộc chiến biên giới năm 1979 do Trung Quốc phát động đã chính thức bị “lãng quên” ở Hà Nội.

Tuyên Bố Nhân Kỷ Niệm 40 Năm Ngày Trung Quốc Gây Cuộc Chiến Tranh Xâm lược Việt Nam

Lời giới thiệu: Sau khi đi dâng hương ở Đài Liệt sĩ Hà Giang và Đền Thờ Anh hùng, Liệt sĩ Chống Quân Trung quốc Xâm lược ở Vị xuyên, nhân kỷ niêm 40 năm cuôc chiến tranh Biên giới, chúng tôi nhận được đề nghị của một số anh chị em, nên ra một tuyên bố nhân sự kiện này.

Hoàng Sa 1974! Geneva 1954!

Lê Thiên

20-2-2019

Hành tung tập đoàn đảng trị 65 năm bán nước!

Sau 45 năm Tàu Cộng mở cuộc bắn giết 74 chiến sĩ Hải quân Việt Nam Cộng Hòa nhằm cướp đoạt Hoàng Sa của Việt Nam ngày 19/01/1974, năm nay 2019, lần đầu tiên một số báo lề đảng bắt đầu chỉ đích danh Tàu cộng từ lâu đã âm mưu cưỡng chiếm Hoàng Sa.

Văn tế đồng bào, chiến sĩ trận vong chống quân Trung Quốc xâm lược

FB Phạm Việt Thắng

14-2-2019

Hỡi ôi!
Nước Sông Hồng cuộn sôi máu đỏ
Người Việt Nam chất ngất căm hờn
Ngày 17 tháng 2 năm 79
Giặc Bắc Kinh tràn kín biên cương

Cướp không phải là từ đểu

Dương Tự Lập

21-1-2019

(Vỡ òa tóe loe mừng ngày đẻ đảng mùng 3/2, thượng thọ 89, không tính tuổi mụ)

Vũ “lùn” là biệt danh. Chính gốc người Hà Nội, Vũ bên trung đội bốn, khí tài pháo cao xạ 57 đơn vị tôi, hắn tốt bụng nhưng có kiểu nói đểu đểu thế nào ấy mà ngẫm ra lại rất có lý. Vũ đố ai chuyện gì thì bao giờ người được đố cũng bị thua, kiểu gì cũng thua, thế mới tài.

Việt Nam lật đổ Khmer Đỏ, nhưng chiến thắng thuộc về Trung Quốc

The Diplomat

Tác giả: Nayan Chanda

Dịch giả: Jenny Ly

1-12-2018

Nhớ lại sau bốn mươi năm ngày Việt Nam lật đổ Khmer Đỏ, nhưng rõ ràng Trung Quốc là người chiến thắng.  

Sáng ngày 7 tháng Giêng năm 1979, một đơn vị Quân đội Việt Nam lao thẳng vào Phnom Penh mà không tốn nhiều súng đạn, để lật đổ một triều đại tàn ác Khmer Đỏ. Quả thật, đây là một cú đánh trời giáng vào Trung Quốc. Việt Nam chiến thắng, nhưng đó chỉ là một chiến thắng rất hẻo, cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Chuyện sau Thành Đô

Trần Gia Phụng

27-12-2018

Nội dung hội nghị Thành Đô giữa đại diện cao cấp đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) và đảng Cộng Sản Trung Hoa (Trung Cộng) trong hai ngày 3 và 4-9-1990 được giữ bí mật tuyệt đối, nên tất cả những bài viết về kết quả hội nghị Thành Đô, kể cả nguồn tin Việt Nam sẽ thành khu tự trị của Trung Cộng năm 2020, đều là phỏng đoán.

Bài học nào từ Trung Quốc?

FB Ngô Nhật Đăng

23-12-2018

Một cán bộ trong “Chính phủ tỉnh Quảng Tây” có lần nói với tôi trong một cuộc trao đổi nhân dịp tỉnh này tổ chức một cuộc hội chợ mang tên “Trung Quốc và các nước ASEAN”:

Bài học “láng giềng”

FB Trần Trung Đạo

11-12-2018

Các nhà lãnh đạo quốc gia phân tích tương lai của một quốc gia dựa trên các điều kiện kinh tế chính trị quân sự đang diễn ra. Tuy nhiên, như lịch sử đã chứng minh, khi quyết định, phần lớn các lãnh đạo đều nhìn về quá khứ. Lý do, quá khứ đã được chứng nghiệm giúp cho họ yên tâm và xem đó như là nguồn bảo đảm cho quyết định của mình.

Trung Hoa mộng, giấc mơ bá quyền

Bình Minh

6-12-2018

Bá quyền bằng vũ lực:

Quân sự yếu kém hơn Mỹ và thua xa nếu các cường quốc hợp lại.

Chiến lược Mỹ ngăn chặn TQ, chưa ra khỏi ao nhà biển Đông và biển Hoa Đông đã bị ngáng đường chận lại, làm mộng bá quyền chưa khởi đã tắt.

Liên hoàn kế

FB Đỗ Ngà

15-9-2018

Người dân Việt rất nhạy với những gì có yếu tố Trung Quốc. Cũng phải thôi, vì không có tinh thần như thế thì cha ông ta làm sao kháng Tàu thành công suốt ngàn năm qua? Dù có cực có cực đoan hay không thì điều đó cũng là rất cần thiết. Vì thực tế trong mỗi nước đi của Tàu luôn thủ con dao găm trong tay áo, đợi khi thời cơ cho phép nó sẽ lấy ra dùng, còn nếu thời cơ chưa cho phép thì nó vẫn cất giấu. Cho nên chúng ta chưa sập bẫy Tàu trong dự án nào đó thì đó là chưa đến thời cơ nó ra tay chứ không phải Tàu không có ý xấu. Có người hay phê phán tinh thần bài Tàu của dân Việt rằng, cái gì cũng sợ thì sao làm ăn với Tàu? Thực ra những người suy nghĩ như vậy rất non bớt, cái dân sợ là năng lực ĐCS chứ không phải dân sợ Tàu. ĐCS tuy gian ác điếm đàn với nhân dân, nhưng với Tàu Cộng, ĐCS chỉ là nai tơ. CSVN không bao giờ ngang tài ngang sức về trí tuệ với quan thầy.

Trung Quốc đang thu tóm Việt Nam qua chiến thuật “Tằm ăn dâu” và “Sự đã rồi”

Châu Minh Dũng

1-9-2018

Chiến thuật “tằm ăn dâu” và “sự đã rồi” là hai thủ đoạn ưa dùng của lãnh đạo Bắc Kinh để thỏa mãn cơn khát mở rộng lãnh thổ. Biển Đông là khu vực nhiều lần chứng kiến Trung Quốc sử dụng hai thủ đoạn này. Tuy nhiên, thực tế là chính các vùng, miền trên khắp đất nước Việt Nam lại là các nơi Trung Quốc đã và đang ráo riết áp dụng “tằm ăn dâu” và “sự đã rồi”, tạo nên nguy cơ rất lớn với chủ quyền Việt Nam.

Những cái vòi của con bạch tuộc hung hãn Trung Quốc

FB Phạm Thanh Giao

17-8-2018

Đi một vòng quanh khu vực các quốc gia ở châu Á, những vùng đất nằm trong tầm với của những cái vòi từ con bạch tuộc khổng lồ hung hãn Trung Quốc, ta mới thấy được cái ách nặng nề chèn ép đến ngạt thở mà nhà cầm quyền Bắc Kinh và những nhóm tài phiệt Trung Quốc áp đặt trên chính quyền cũng như người dân của các quốc gia đó. Những cái thòng lọng tuy chậm chạp nhưng rất chắc chắn xiết dần, không ngưng nghỉ, một cách dã man khiến con mồi không thể cục cựa được chứ đừng nói là vùng thoát ra được.

Đại nạn Trung Hoa: Nanh vuốt Trung Cộng

Trần Gia Phụng

16-7-2018

Sau hiệp định Paris ngày 27-1-1973, Hoa Kỳ rút hết quân ra khỏi Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) tức Nam Việt Nam (NVN). Sự thay đổi chính sách của Hoa Kỳ ở Á châu sau năm 1973 là cơ hội bằng vàng cho Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH) hay Trung Cộng vùng lên thực hiện mộng bá quyền tại đây. Mở đầu, Trung Cộng mưu đồ chiếm cho được quần đảo Hoàng Sa để mở đường xuống phương nam.

Thêm chút hiểu biết về “đặc khu” thời Chúa Nguyễn

FB Lại Nguyên Ân

13-7-2018

Ở những “đặc khu” thời xưa, nếu phân tích kỹ, cũng sẽ thấy việc thương nhân ngoại quốc lũng đoạn kinh tế bản xứ, cướp đoạt không ít của cải, tài nguyên, đồng thời gieo rắc ảnh hưởng văn hóa của họ.

Bắc Kinh Tung Tiền Thao Túng Chính Trị Úc

Nguyễn Quang Duy

5-6-2018

Tập Cận Bình lên nắm quyền với chiến lược dùng tiền ảnh hưởng đến chính trị, kinh tế và xã hội từng quốc gia để từng bước khuynh đảo thế giới. Trong đó có cả việc họ tung tiền tài trợ cho các đảng chính trị tại Úc, mua chuộc các chính trị gia, giới khoa bảng, tài trợ truyền thông ảnh hưởng đến dư luận,… nói chung là lũng đoạn cả hệ thống chính trị ở Úc.

99 năm cảng Darwin của Úc vào tay Trung Cộng

Nguyễn Quang Duy

1-7-2018

Tuần trước Lưỡng Viện Quốc Hội Úc thông qua hai Đạo Luật chống can thiệp chính trị từ ngoại bang và gián điệp công nghiệp. Mặc dù cả 2 Đạo Luật không giới hạn ngoại bang là nước nào nhưng ngay trong Quốc Hội đã công khai bàn tới là Trung Cộng.  

Một xã hội bị tàu nạn hóa (Phần 2)

GS Lê Hữu Khóa

30-6-2018

Tiếp theo phần 1

Tàu họa: quá trình áp chế bằng bạo quyền ngầm

Hệ chế (khống chế, kiềm chế, ức chế), song hành với hệ xâm (xâm lấn, xâm lược, xâm lăng) luôn dựa lên hệ bạo (bạo quyền, bạo lực, bạo động), cả ba thường được thể hiện qua cách “chơi ngang”, “chơi gác”, “chơi đểu” của kẻ khống chế đè lên đầu nạn nhân của nó. Kẻ xâm lược dùng áp chế qua bạo quyền ngầm luôn có ít nhất ba chiến lược: áp đặt quyền thống chế trên chính trị, quân sự, ngoại giao, mà cả lên kinh tế, tài chính, vật chất, chưa hết, nó áp đặt để áp chế cả về văn hóa, giáo dục, nghệ thuật của nó qua truyền thông, qua thương mại, qua xuất nhập khẩu.

Một xã hội bị tàu nạn hóa (Phần 1)

GS Lê Hữu Khóa

29-6-2018

Không nhìn thấy Tàu nạn hóa là có lỗi và sẽ có tội với tổ tiên Việt.

Không tìm hiểu Tàu họa hóa có lỗi và sẽ có tội với Việt tộc.

Không nhìn thấu Tàu hoại hóa có lỗi và sẽ có tội

với chính nhân cách công dân Việt của mình.

Tàu nạn là ngữ văn nói lên nội hàm để nhận định rõ về hằng trăm mối đe dọa tới từ lãnh đạo Bắc Kinh qua các ý đồ xâm lấn, xâm lăng, xâm lược, luôn được nuôi dưỡng bởi thâm ý đồng hóa Việt tộc của chúng.

Tàu nạn hóa là ngữ pháp được dùng như động từ qua các hành động vừa ác, vừa độc, vừa hiểm của tập đoàn lãnh đạo Bắc Kinh đang thao túng trên toàn bộ xã hội Việt, đất nước Việt, dân tộc Việt. Ngữ văn và ngữ pháp này vạch mặt chỉ tên bọn lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, nhưng luôn giữ sự tôn trọng với nhân dân Trung Quốc, với đất nước Trung Quốc, với văn hóa Trung Quốc.

Các ngữ vựng: Tàu tặc, Tàu nạn, Tàu họa, Tàu hoại, dùng để làm sáng tỏ xã hội học thực tiễn tới từ xã hội học thực tế, trong đó ta nhận ra trong phân tích cũng như trong giải thích, trong diễn luận cũng như trong lập luận một quá trình – mà cũng là một quy trình – đi từ lao nô hóa nhân lực Việt tới nô lệ hóa nhân dân Việt, cùng khởi xướng với các chiến lược, chiến dịch trộm, cắp, cướp, giật đất, biển, đảo của Việt Nam:

  • Nơi nào là lãnh thổ của Việt tộc mà bị Tàu chiếm, chỗ đó đang bị Tàu nạn hóa.
  • Nơi nào là nhân công Việt bị Tàu bóc lột, chỗ đó đang bị Tàu nạn hóa.
  • Nơi nào là môi trường Việt bị Tàu làm ô nhiễm, chỗ đó đang bị Tàu nạn hóa.
  • Nơi nào là tài nguyên Việt bị Tàu làm moi móc, chỗ đó đang bị Tàu nạn hóa.
  • Nơi nào có lãnh đạo Việt bị Tàu mua chuộc, chỗ đó đang bị Tàu nạn hóa.
  • Nơi nào có nội gián Việt làm tay sai cho Tàu, chỗ đó đang bị Tàu nạn hóa.
  • Nơi nào có cơ quan quảng bá văn hóa Tàu, chỗ đó đang bị Tàu nạn hóa.
  • Nơi nào có truyền thông phục vụ cho tuyên truyền Tàu, chỗ đó đang bị Tàu nạn hóa.
  • Nơi nào có các tổ chức mua bán bất động sản phục vụ Tàu chỗ đó đang bị Tàu nạn hóa.
  • Nơi nào có các tổ chức mua bán nội tạng phục vụ Tàu chỗ đó đang bị Tàu nạn hóa.

Phương pháp luận thống hợp về hệ chế (khống chế, kiềm chế, ức chế)

Phương pháp thống hợp dựa trên ba chuyên ngành chủ đạo về các chủ thuyết liên quan trực tiếp tới hệ chế (khống chế, kiềm chế, ức chế), tại đây tôi xây dựng các phân tích dựa trên ba tác giả là ba tư tưởng gia có công trình cá nhân trong không gian học thuật này:

  • Chính trị học qua chủ thuyết khống chế toàn trị của M.Gauchet,
  • Triết chính trị về kiềm chế qua độc quyền của M.Foucault,
  • Xã hội học về ức chế bằng áp lực của P.Bourdieu.

Là môn sinh của ba nhà tư tưởng trên, tôi không những sử dụng các tác phẩm, các công trình cá nhân, các công bố khoa học qua báo cáo chính thức của họ, mà tôi sử dụng cả các bài phỏng vấn, các phát biểu tại các hội nghị, hội luận, hội thảo… Tôi tận dụng cả các cuộc đàm thoại của họ với đối tác, các cuộc đối thoại của họ với các đối thủ không đồng ý với họ, chính tại đây ta sẽ thấy các luận thuyết của họ được họ mài dũa sắc bén khi có được điều kiện va chạm với các phản biện không cùng trường phái với họ. Tôi cũng không quên khai thác -sâu và rộng- các câu trả lời của họ trước các môn sinh của họ.

Tàu tặc: quá trình khống chế bằng bạo lực ngầm

Trong quá trính này, Tàu tặc không những xâm lược qua hệ thống chính quyền nhất là qua ĐCSVN đã nhận và chịu sự điều khiển và chi phối của họ từ khi thành lập đảng là năm 1930, liên tục khuất phục Tàu cho tới mật nghị Thành Đô với Tàu tặc đã chọn con đường cứu đảng, đã bỏ con đường cứu dân, cứu nước, một chỉ bảo rất rõ, nó càng ngày càng rõ khi ĐCSVN không công khai hóa mật nghị này. Trừ giai đoạn của “chặt cầu để trực diện chống Tàu”, sau khi có Liên Xô bao che của Lê Duẩn từ 1977-1979, càng ngày ta càng thấy chưa bao giờ ĐCSVN lệ thuộc vào hệ chế (khống chế, kiềm chế, ức chế) như ngày hôm nay dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Phú Trọng.

Khống chế bằng bạo lực ngầm luôn lan trải trên nhiều lãnh vực của một đất nước như Việt Nam trực tiếp hàng ngày nhận lãnh tất cả các hành động bạo lực của Tàu tặc, từ các phương án để Tàu tặc vào khai thác tài nguyên đến cạn kiệt cho đến phương án bóc lột lao động Việt ngay trên đất nước Việt. Với các hệ lụy từ ô nhiễm môi trường tới các hành vi tổ chức buôn nội tạng người Việt… với chiến thuật hối lộ mọi cơ chế, từ hàng dọc trong lãnh đạo qua các công trình phải để Tàu tặc làm chủ thầu, tới cách sử dụng người Việt đứng tên để mua đất cho Tàu tặc.

Việt Nam không phải là trường hợp độc nhất của châu Á, hiện nay Camphuchia, Lào, Miến Điện và gần đây là Sri Lanka đã bán đất và hải cảng để trả nợ cho Tàu tặc. Xa hơn nữa là châu Phi đang vô cùng khốn đốn, vì chưa có kinh nghiệm lịch sử như Việt Nam về quá trình khống chế bằng bạo lực ngầm. Hiện nay, đã có một số quốc gia châu Phi đã bị quá trình này bắt buộc phải bỏ, loại, trừ, hủy mọi hợp tác với Đài Loan, qua sức ép của Tàu tặc. Và, bản thân Âu châu cũng không thoát được quá trình này, người Tàu không những mua bất động sản, mà cả các ruộng nho, các lâu đài là những nơi tiêu biểu không những cho du lịch mà cho văn hóa, cho nghệ thuật biết sống của người Âu châu.

Chính tại Âu châu, các chuyên gia đang xem lại toàn bộ các quá trình tìm lợi tức qua du lịch, trong đó du lịch Tàu đã đang gây những hậu quả rất lớn cho nền kinh tế, mà hiện nay Âu châu cũng không biết là họ đang lời hay đang lỗ. Nhưng họ đã rút ra được một kết luận là mỗi lần hợp tác với Tàu thì sẽ chỉ thấy lợi cho Tàu, mà không biết thua thiệt về mình sẽ ra sao? Thí dụ điển hình người Tàu tổ chức các mạng lưới lậu vé tại các bảo tàng viện của Pháp từ nhiều năm nay, mà bây giờ các lãnh đạo các bảo tàng viện mới biết, trong đó bảo tàng Louvre bị thiệt hại nặng nhất; cùng lúc các mạng xã hội du lịch Tàu bó buộc các thương gia của Âu châu phải sử dụng mạng quảng cáo du lịch của Tàu mới có khách Tàu, đây cũng là những kinh nghiệm mà dân chúng các nước Âu châu mới khám phá ra với các kinh nghiệm ban đầu trong cách gian lận kiểu Tàu, mà người Việt đã biết từ lâu.

Việt Nam là quốc gia có nhiều kinh nghiệm về quá trình khống chế bằng bạo lực ngầm nhưng chúng ta chưa có một công trình khoa học nào để mô hình hóa quy trình này, chính các công trình học thuật để mô hình hóa các ý đồ của kẻ đã xâm lấn ta và đang có ý đồ xâm lược ta; giúp ta sẽ thấy rõ “đường đi nước bước” của kẻ xâm lăng. Tôi xin đề nghị các chỉ báo thực nghiệm sau đây, luôn đi cùng với các mô thức trong con tính của kẻ có ý định, ý muốn, ý đồ xâm lược ta, và luôn đặt các phân tích sau đây vừa trong bối cảnh lịch sử giữa Ta và Tàu tặc, vừa trong hiện trạng đất nước, xã hội, dân tộc Việt:

– Kẻ xâm lược dùng khống chế qua bạo động ngầm bằng cách đánh lên tư duy nạn nhân phải quy phục nó, vì sợ sức mạnh của nó hoặc sợ có tai họa tới từ chuyện xung đột với nó. Chính nó giật dây và thao túng các lãnh đạo của quốc gia bị nó kiềm kẹp phải giấu dân chúng của mình về các điều kiện khi chấp nhận sự khống chế của nó, trong đó kẻ khống chế và lãnh đạo của quần chúng bị khống chế đồng lõa cùng nhau là không cho chuyện chấp nhận khống chế nổi lên mặt quan hệ của hai bên trước quần chúng qua truyền thông. Chính đây là thảm họa cuả mật nghị Thành Đô với các lãnh đạo ĐCSVN làm hệ lụy cho bi kịch của đường lối quy thuận Tàu tặc hiện nay của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn cần Tàu để tồn tại, mặc dầu biết rõ hệ xâm (xâm lấn, xâm lược, xâm lăng) của Tàu tặc.

– Kẻ xâm lược dùng khống chế qua bạo động ngầm không cần có tên gọi thật về bản chất của sự khống chế, mà ngược lại dùng chiêu bài mỵ dân qua đạo đức giả để đạt được hiệu quả cao, bằng cách đặt tên ngược lại với sự thật (láng giềng tốt, đồng chí tốt…). Đây là bị kịch của Việt tộc từ gần một thế kỷ nay khi chấp nhận thụ động sự cai trị của ĐCSVN, một đảng không hề được dân tộc bầu ra. Chính ĐCSVN dùng tuyên truyền để phản sự thật, mà không cho xã hội phản biện, lấy sự phản chân lý để cai trị nhân dân, và nhồi não dân chúng phải sống với cái phản sự thật, chính cái phản chân lý để làm mất đi lẽ phải trong cuộc sống.

– Kẻ xâm lược dùng khống chế qua bạo động ngầm, cụ thể là dùng cảnh cáo để đe dọa, dùng đe dọa để chuẩn bị trừng phạt, và quá trình trừng phạt thường là trừng phạt ngầm trong bí mật nội bộ giữa các lãnh đạo, mà hiện nay là trấn áp và hãm hại các lãnh đạo chống Tàu tặc, từ vô hiệu hóa tới cô lập hóa mà không ngần ngại dùng tà thuật của kẻ sát nhân là khủng bố, thủ tiêu, ám sát. Cùng lúc, nó khổ sai hóa các kẻ tuân phục nó trong quan hệ giữa quyền lực, nghe nó thì sống và có tiền, có quyền, còn không nghe lời nó là mất tất cả, kể cả mạng sống. Đây là thảm kịch của ĐCSVN, giữa các mafia đang thanh trừng lẫn nhau, trong đó các vây cánh sống còn, luôn tranh đua nhau trong cạnh tranh là “phải lấy lòng Tàu”, để nó bao che và bảo kê cho mình, đó cũng là hiện thực nhục nhã của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đang “cạnh tranh lấy lòng Tàu” với bè nhóm của thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, mặc dù cả hai bên đều tuyên bố rất mỵ dân trước quần chúng là luôn bảo vệ chủ quyền của đất nước.

– Kẻ xâm lược dùng khống chế qua bạo động trực tiếp hoặc gián tiếp bắt nạn nhân của nó là các kẻ lãnh đạo của dân tộc nạn nhân là phải kềm chế môi trường xã hội, các cuộc đấu tranh trong dân chúng, cùng lúc ngăn chặn truyền thông trung thực, mà làm ngược lại là nâng truyền thông tuyên truyền luôn liên tục tấn công vào các phong trào xã hội vì nhân quyền, các phong trào đấu tranh của quần chúng vì độc lập, tự do và dân chủ. Chặn sự thật cùng lúc luôn đánh để diệt các chủ thể bảo vệ sự thật. Đây chính là thảm trạng của các chủ thể đấu tranh vì độc lập, toàn vẹn lảnh thổ, tự do, dân chủ và nhân quyền, họ luôn bị khủng bố, bắt bớ, giam cầm với các bản án rất nặng nề, nhưng không có các phong trào lớn trong quần chúng bảo vệ họ, trong khi các hội đoàn, các cơ quan quốc tế theo sát và bảo vệ các nạn nhân này qua nhiều mạng lưới truyền thông quốc tế.

– Kẻ xâm lược dùng khống chế qua bạo động ngầm, luôn đóng vai vừa là: thủ phạm, vừa làm trọng tài, và nó tổ chức luôn tòa án, quyết định luôn bản án, trong đó tự nó tha tội cho nó, và trừng phạt những ai chống nó, và bất chấp công pháp quốc tế. Đây là trò mà Tàu tặc làm hàng ngày trong nhiều năm qua trên Biển Đông, vẽ đường lưỡi bò và bắt các nước láng giềng phải tuân theo, mặt dầu tòa án quốc tế đã công bố là nó hoàn toàn trái phép: trái công pháp quốc tế! Tại Biển Đông, Việt Nam là quốc gia phải trả giá rất đắt không những bị chiếm đảo, chiếm biển, mà cả lãnh đạo ĐCSVN vẫn cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối trước cảnh chúng hằng ngày bắn giết ngư phủ Việt, cấm Việt Nam cho các công ty khai thác dầu khí ngay trên thềm lục địa của mình.

– Kẻ xâm lược dùng khống chế qua bạo động ngầm biến khuyết điểm của nạn nhân thành khuyết tật của họ, vừa trên thân thể, vừa trên tư duy qua quan hệ hằng ngày mà nạn nhân vô tri hóa, vô minh hóa, vô giác hóa bởi bị che mắt, bởi tư lợi trước mắt, mà không thấy hết dã tâm của kẻ có ý đồ thống trị mình. Đây là thí dụ diễn ra hằng ngày trên toàn diện lãnh thổ Việt: người Việt dùng tên của mình để đi mua đất cho người Tàu, chính Tàu tặc sẽ dùng con đường bất động sản này để xâm lấn ngầm, mà trước mắt là lũng đoạn xã hội Việt, và lâu dài là để khống chế Việt tộc qua con đường di dân Tàu và nhập cư mà trong quá trình đó thì Tàu làm chủ nhân, và dân Việt làm tớ.

– Kẻ xâm lược dùng khống chế qua bạo động ngầm trong đó thủ phạm không cần tự giới thiệu về mình, và cũng không cần định nghĩa hành động của mình, nhưng ngược lại nó kể tội rất rành mạch về khuyết điểm và nhược điểm của nạn nhân trong vòng khống chế của nó. Đây là bài học về Formosa đã ô nhiễm hóa cả một môi sinh rất lớn tại miền Trung, mà vốn đầu tư chính đang thao túng trong hậu đài không phải là Đài Loan mà của Trung Quốc, qua sự thông đồng và thỏa hiệp với các lãnh đạo của ĐCSVN thân Tàu tặc. Từ Tổng bí thư tới Bộ Chính trị, từ Trung ương đảng tới chính phủ đương nhiệm không có công bố nào minh bạch về số liệu và dữ kiện, từ chứng từ tới điều tra về hậu quả Formosa, mà hậu nạn của nó ai cũng biết là qua nhiều thế hệ mai hậu. Đây sẽ là thước đo của kẻ xâm lược dùng khống chế qua bạo động ngầm để tăng cấp bạo động lên một mức cao hơn, với một thâm ý độc ác hơn, để “ngầm đo cường độ và mức độ bán nước” của các lãnh đạo, mà lịch sử Việt đã có Kiều Công Tiễn, Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống…

– Kẻ xâm lược dùng khống chế qua bạo động ngầm luôn gây sức ép vừa đặt nạn nhân của nó vào vòng kiềm tỏa như luôn bị mắc nợ, từ đó chấp nhận cúi đầu làm nô lệ, nhận sự áp chế vừa qua ý thức, vừa qua vô thức bằng phản xạ lo sợ trong phòng ngự, mang tâm lý thường trực của kẻ thụ động trước chủ nợ, và sự lo sợ này có thể kéo dài cả kiếp người, rồi tác hại lên con cháu, chấp nhận thủ phạm khống chế mình đi trên vai, lưng, đầu của mình. Đây là chiến lược rất mới của Tàu tặc trong thế kỷ XXI này, mà ta chưa thấy trong lịch sử của hai nước Việt-Trung, mà đây chính là thủ thuật của lãnh đạo Bắc Kinh đang tự biến mình thành chủ nợ lớn nhất thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, trên nhiều châu lục. Trong bối cảnh này, các quốc gia thiếu nợ phải bán đất, bán tài nguyên, tức là bán chủ quyền cho Tàu khai thác cho tới cạn kiệt tài nguyên, vật liệu ngay trên đất nước của mình. Sri-Lanka mới rơi vào bẫy này, sau khi Hy Lạp cũng đã rơi khi nhượng quyền khai thác hải cảng của mình cho Tàu, và nhiều quốc gia châu Phi cũng bị gài bẫy, đang nằm trong danh sách này. Đây cũng là cái bẫy đang sập xuống Việt Nam với quá trình bỏ phiếu của quốc hội tháng 6 năm 2018 này, trước hiểm họa đồng ý lập ra ba đặc khu: Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc với quyền khai thác 99 năm (gần 1 thế kỷ với 4 thế hệ) mà khi mua được và khai thác được thì Tàu tặc sẽ có các phương án di dân, nhập cư, từ đó thôn tính Việt Nam mà không cần dùng bạo động quân sự nổi, như đã dùng tại Tây Tạng trong thế kỷ qua.

– Kẻ xâm lược dùng khống chế qua bạo động ngầm với quá trình của chủ nợ, thì kẻ làm chủ luôn mua rẻ và bán lại rất đắt, từ bất động sản tới các sản phẩm của nông nghiệp, từ dịch vụ tới khoa học kỹ thuật, trong đó quốc gia nạn nhân phải cung cấp công nhân với lương bổng thấp, điều kiện lao động tồi, và cả một hệ thống hàng dọc từ định chế tới cơ chế chịu nhận hối lộ qua các mô thức tham nhũng, mà kẻ khống chế đặt ra và bày vẻ cho tay sai của chúng phải tuân thủ để có tư lợi và được sống còn. Lúc cần xiết cổ nạn nhân thì chúng sẽ dùng phân lời cao cùng với xảo thuật đổi hợp đồng, thay giao kèo, và chúng có thể dùng nhân lực của chúng đã được chúng thuần hóa, đã chấp nhận mọi điều kiện lương bổng và lao động tồi tệ nhất, đó chính là nhân dân của chúng. Trung Quốc có quá trình bóc lột tận xương tủy giữa Hán tộc với nhau, đây là điểm xấu của lịch sử Tàu, mà các lãnh đạo Tàu tặc dùng như một lợi thế, một vũ khí để lấy người Tàu thay người Việt. Đây chính là loại nhà tù vô hình của khống chế kiểu tầu mà các nước nhỏ chung quanh Trung Quốc biết rất rõ: công nhân và nhân viên Tàu nhận làm các công việc nhọc nhằn nhất, trong điều kiện tủi nhục nhất để kiếm sống. Mà họ luôn có “đủ người nhờ biển người” từ chiến tranh tới kinh tế, từ di dân tới nhập cư. Các quốc gia kề cạnh với Trung Quốc luôn phải nhận họa kiếp về số lượng, đây là một chân lý đã được hình thành rất lâu và luôn có trong tư duy của lãnh đạo Bắc Kinh. Giữa cuộc chiến tàn khốc huynh đệ tương tàn giữa miền Nam và miền Bắc, trong đó ĐCSVN luôn bị dẵm chân, dẵm lưng, dẵm mặt, thì có lần Mao Trạch Đông đã nói thẳng vào mặt của Lê Duẩn là hắn ta đã có chiến dịch di dân Tàu xuống Việt Nam và xuống tất cả các quốc gia Đông Nam Á.

– Kẻ xâm lược dùng khống chế qua bạo động ngầm thường thao túng các hợp tác song phương trên thượng nguồn, biến nó thành các hợp đồng bất chính giữa bọn khống chế và các lãnh đạo tham nhũng của các quốc gia nạn nhân, với hiệu quả rất cao mà ông bà ta đã đúc kết qua ngạn ngữ “cầm dao đằng chuôi”, như chủ nợ khi xiết nợ thì chúng vừa dùng luật pháp cùng lúc dùng xảo thuật chính trị để vô hiệu hóa pháp luật. Chính lãnh đạo Bắc Kinh sẽ là kẻ tuyên bố đầu tiên để dồn ép các lãnh đạo ĐCSVN vào đường cùng, để phục vụ ý đồ đô hộ Việt tộc của chúng bằng cách đe dọa sẽ bày biện hóa các văn bản với các chứng từ thỏa thuận về mật nghị Thành Đô. Cũng như chúng đã tung ra chứng từ về văn bản có chữ ký của thủ tướng Phạm Văn Đồng trong chuyện nhượng chủ quyền Hoàng Sa cho Tàu tặc. Chưa hết, chúng sẽ là đám ma đầu tiên phá vỡ huyền thoại Hồ Chí Minh, vị cha già của dân tộc, suốt đời hy sinh vì đất nước, quên cả chuyện lấy vợ và lập gia đình, và lần này với tất cả đầy đủ chứng cớ là nhân vật này “có vợ lẻ Tàu, con rơi gốc Tàu”, và trước đó đã có bao nhiêu mối hoang tình tại Âu châu. Các nạn nhân bị ô nhiễm tư duy qua nhồi sọ của ĐCSVN về “đạo đức Bác Hồ” sẽ phải “chưng hửng” vì đã quá vô tri làm nạn nhân trong quá trình giáo dưỡng vô minh hóa bằng cách thần tượng hóa nhân vật này.

***

Lê Hữu Khóa: Giáo sư Đại học Lille* Giám đốc Anthropol-Asie*Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á* Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCO – Liên Hiệp Quốc * Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris.*Thành viên hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á* Hội viên danh dự nhóm Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới.

Các bạn có thể tìm hiểu thêm các lập luận qua nghiên cứu của VÙNG KHẢ LUẬN (trang thầy Khóa) qua www.facebook.com/vungkhaluan/

____

Mời đọc lại các bài khác của tác giả: Thư gởi tuổi trẻ của Việt tộc  —  Thư gởi các đảng viên của ĐCSVN: Trả lại thẻ đảng để nhận lại nhân phẩm Việt!  —  Thư gởi các ủy viên Bộ Chính trị đảng CSVN  —  Thư gởi các đại biểu Quốc hội: Cúi đầu bấm nút, rồi cúi đầu quỳ gối!  —  Thư gởi các Bộ trưởng của chính phủ: Chạy chức hay chạy dân? —  Thư gởi các nhà lãnh đạo tương lai của Việt tộc: Lãnh đạo nhận nhân lý, nhập nhân trí

Đại nạn Trung Hoa thời cận đại

Trần Gia Phụng

25-6-2018

Vào gần cuối thế kỷ 19, bị các nước Tây phương đe dọa, Trung Hoa khốn đốn không kém Việt Nam, nhưng triều đình nhà Thanh (cai trị Trung Hoa 1644-1911) vẫn tự nhận Trung Hoa là thượng quốc, có ưu quyền đối với Việt Nam.

Ma Cao kế tiếp? Canh bạc lớn của Trung Quốc ở Campuchia

LTS: Những gì đang diễn ra ở thành phố Sihanoukville, Campuchia, cũng sắp diễn ra ở Việt Nam, tại các đặc khu Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc. Mặc dù luật đặc khu chưa chính thức thông qua, thế nhưng các nhà đầu tư Trung Quốc đang có mặt tại các đặc khu nói trên, họ đang chuẩn bị sẵn sàng để triển khai các dự án đã lên kế hoạch.

Hãy nhìn vào các đặc khu Sihanoukville ở nước láng giềng Campuchia, hay Boten ở Lào, để thấy rằng người dân bản xứ đã bị gạt qua bên lề xã hội, nơi tổ tiên họ đã sống nhiều thế hệ, để rồi bây giờ họ bị chính quyền buộc phải nhường sân chơi cho những người đến từ phương Bắc và các đại gia lắm tiền nhiều của.

27 Thực thể trên Biển Đông

AMTI/CSIS

Người dịch: Phan Trinh

Lời người dịch: Bài này cung cấp hình ảnh của 27 thực thể – 7 tại Quần đảo Trường Sa, 20 tại Quần đảo Hoàng Sa – gồm các đảo, đá, bãi cạn, bãi xà cừ, cồn cát đang bị Trung Quốc kiểm soát.

Chủ nghĩa Phát xít: CHXH kiểu Trung Quốc và CHXH Quốc gia Đức, cặp bài trùng (Phần 2)

FB Nguyễn Thọ

23-6-2018

Tiếp theo phần 1

Phố Trung Quốc tại Chicago – Mỹ. Ảnh: internet

3-Bành trướng lãnh thổ:

Nếu dùng từ „Đức Quốc Xã“ để gọi Chủ nghĩa Xã hội Quốc gia Đức (NAtional soZIalism = NAZI), thì cũng nên gọi Chủ nghĩa Xã hội mang mầu sắc Trung Quốc là „Trung Quốc Xã“.

Quá tự tin vào lực lượng vật chất và truyền thống quân phiệt Phổ, Hitler đã không ngần ngại phát động chiến tranh để giành lãnh thổ. Đầu tiên, Hitler nhắm tới các quốc gia lân bang có người Đức sinh sống là Áo, Tiệp Khắc và Ba-Lan. Người Áo cùng huyết thống nên sa ngay vào cái bẫy „Chủng tộc thượng đẳng“ của Hitler thì khỏi phải nói. Ba-Lan và Tiệp Khắc thì tuyệt vọng cầu cứu các cường quốc phương Tây vốn đang thỏa hiệp với Hitler (xin google „Hiệp ước Munich“ sẽ rõ).

Xóa nhòa biên giới Biển Đông

Foreign Affairs

Tác giả: Bonnie S. Glaser Gregory Poling

Dịch giả: Phan Trinh

5-6-2018

Đá Subi thuộc quần đảo Hoàng Sa. Nguồn: Francis Malasig / Reuters

Trích dẫn một số nội dung đáng chú ý: Chính sách “hợp tác phát triển” là chủ trương từ thời Đặng Tiểu Bình, tóm gọn trong 12 chữ “Chủ quyền chúc ngã, các trí tranh nghị, cộng đồng khai phát” (chủ quyền của ta [TQ], gác qua tranh chấp, hợp tác phát triển). Mục tiêu của “hợp tác phát triển”, nói cách khác, là thúc đẩy các nước tranh chấp, chấp nhận chủ quyền của TQ.*

Chủ nghĩa Phát xít: CHXH kiểu Trung Quốc và CHXH Quốc gia Đức, cặp bài trùng (Phần 1)

FB Nguyễn Thọ

22-6-2018

Xưa nay tôi chỉ viết về những gì biết rõ quanh tôi và có dẫn chứng rõ ràng. Nhưng những sự kiện xung quanh các cuộc biểu tình ngày 12.06, các tranh luận về luật An ninh mạng, về 3 đặc khu kinh tế mà trong thực tế đã bắt đầu ra đời từ năm 2016 đang làm tôi lo ngại. Thấu hiểu mối lo của quan chức Việt Nam trước việc đồng bào mình chống lại sự phụ thuộc Trung Quốc, chứng kiến những âm mưu áp dụng các sắc luật phi dân chủ của Trung Quốc vào Việt Nam, tôi thấy phải viết về Chủ nghĩa Phát xít Trung Hoa để nêu bật mối đe dọa.

Các bạn công an, quân đội, hãy nhìn toàn cảnh lịch sử nhé

FB Đỗ Ngà

6-6-2018

Thời đại CS nắm quyền là thời đại Bắc Kinh nắm đầu Hà Nội nhiều nhất. Và nếu xét từ ngày CS nắm giữ quyền lực đến nay, ta nhìn rất rõ những bước tiến của Bắc Kinh và bước nhượng bộ của Hà Nội.

Đặc khu kinh tế Boten ở Lào và bài học nhãn tiền

LTS: Quốc hội Việt Nam đang thảo luận, chuẩn bị thông qua dự luật đặc khu kinh tế, cho phép người nước ngoài thuê tới 99 năm, ở ba khu vực: Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc.

Người dân Việt Nam lo sợ nguy cơ Trung Quốc tìm cách xâm lăng Việt Nam qua con đường thuê lãnh hải, lãnh thổ ở ba vị trí đắc địa kia, bởi họ hiểu tâm địa của những người anh em láng giềng “16 chữ vàng, 4 tốt” của lãnh đạo CSVN, cũng như những gì đã và đang diễn ra ở các đặc khu trên các nước khác như Lào, Sri Lanka… đã làm cho người Việt Nam khiếp sợ.

Khai thác dầu khí: Rủi ro khi tìm kiếm ở các lô dầu khí trên biển Đông

Reuters

Tác giả: James PearsonGreg Torode

Dịch giả: Trúc Lam

23-5-2018

HANOI / HONG KONG (Reuters) – Một số lô dầu nằm ngoài khơi bờ biển Việt Nam ở khu vực Biển Đông, được phân định bởi “đường chín đoạn” của Trung Quốc, cơ sở cho những tuyên bố gây tranh cãi của Bắc Kinh đối với hầu hết tuyến đường biển giàu tài nguyên.

Nghe thường dân trả lời

Trương Minh Ẩn

21-5-2018

Sáng nay bầu trời khá đẹp, không khí mát mẻ, có mây nhiều nên không có nắng gắt, cùng với dư âm cơn mưa lớn tối qua nên khá dễ chịu. Tôi dạo một vòng quanh Sài Gòn chơi. Ngẫu hứng bỗng dưng muốn làm… nhà báo. Khoái gì thì làm nấy, phó thường dân nên chẳng có sợ, chẳng ràng buộc gì cả. Vì có cái “mác” dân đen, tôi chắc chắn mình không có cơ hội ngắm nghía thôi chứ đừng nói là phỏng vấn quan chức, vả lại, ngày Chủ Nhựt gần hết là ngày ăn chơi của quan, cửa đóng then cài, làm sao mà gõ được. Thôi đành kiếm người cùng cảnh ngộ hỏi chuyện vậy.