Lời Ai Điếu – Hồi ký Lê Phú Khải (chương 07d)

  •  
  •  
  •  
  •  

Chương 7d:

tác giả: Lê Phú Khải – nguồn ảnh: uyennguyen.net

MAT-XCƠ-VA KHÔNG TIN VÀO NƯỚC MẮT (tên một bộ phim Liên Xô)

(tiếp theo Lời nói đầuCh.1, Ch.2, Ch.3, Ch.4, Ch.5, Ch.6, Ch.7a, Ch.7b, Ch.7c)

Anh TX, phóng viên Đài TNVN tại cơ quan thường trú ở TP HCM nói với phó Tổng giám đốc Đài Mai Thúc Long: phóng viên lâu năm của Đài ta ai cũng dược đi nước ngoài ít nhất một lần, tội nghiệp anh Phú Khải, quanh năm lúi húi dưới ĐBSCL, bài gửi ra thì Đài phát ngay mà chẳng được đi đâu bao giờ!

Thế là tôi được đi công tác ở Liên Xô. Nói là đi công tác cho oai, vì Đài các nước XHCN hàng năm đều có trao đổi cán bộ, nhưng thực chất là đi chơi. Từ Mỹ Tho, tôi lên TP HCM rồi đi xe lửa ra Hà Nội, vợ tôi cũng đi tiễn chân tôi tiện thể về quê ở Đồ Sơn luôn. Tôi phải đi xe lửa, vì như đã nói ở đầu sách, nếu không phải là trưởng phó phòng biên tập trở lên thì không có tiêu chuẩn đi bằng máy bay!!! Mặc dù nếu phải đi gặp thủ tướng để phỏng vấn thì ở cơ quan thường trú của Đài tại TP HCM chỉ có thể là tôi mà thôi. Là nhà báo đúng nghĩa của nó, phải là người “trinh thám” cuộc sống, là cầm bút suốt đời, không làm “lãnh đạo” ngồi nhà. Tôi có đủ kinh nghiệm để gặp thủ tướng, vì tôi đã xây dựng được một quan hệ xã hội, để khi cần vẫn có thể gặp được thủ tướng, vì tôi biết chắc chắn sẽ có lúc phải đi gặp Thủ Tướng mà “chưa được bên an ninh duyệt”. 

 Lấy trường hợp năm 1997, thủ tướng Phan Văn Khải đi dự hội nghị thượng đỉnh khối ASEAN và lúc về lại xuống ngay TP HCM là một ví dụ. Chuyến đi ấy của ông Khải, mà sau này tôi biết, chỉ có BTV xinh đẹp Thu Uyên của Đài THVN là được đi tháp tùng. Nhưng Đài TNVN lại muốn có ngay tin phỏng vấn thu thanh ông thủ tướng sau chuyến đi quan trọng này để phát ngay chương trình thời sự chiều tối hôm đó. Đây là thế mạnh tuyệt đối của phát thanh so với các phương tiện thông tin khác là báo viết, truyền hình… Hà Nội điện vào cho cơ quan thường trú tại TP HCM yêu cầu có tin phỏng vấn thu thanh thủ tướng, ngay lúc ông xuống máy bay. Giám đốc thường trú là Đào Quang Cường giao nhiệm vụ này cho tôi. Bình thường các cơ quan báo chí loại A như báo Nhân Dân, Thông tấn xã VN, Đài THVN, Đài TNVN có một phóng viên chuyên trách được cử và được bên an ninh người ta chấp thuận để đi tháp tùng thủ tướng trong những chuyến đi công cán trong và ngoài nước.

Những phóng viên này có phù hiệu đóng dấu của Cục Bảo vệ để tiện ra vào đi lại qua các hàng rào an ninh trong mỗi chuyến công tác. Tôi hoàn toàn không có những thứ đó. Cho dù tôi có quen biết anh Phan văn Khải trước 1975 trong thời gian ở ngoài Bắc, nhưng khi ông đã là thủ tướng thì tôi không có cách gì gọi điện thoại trực tiếp cho ông mà không phải qua thư ký riêng hoặc bảo vệ của ông. Đó là cách “quản lý” người, các nhân vật lớn của chế độ. Tôi cũng có dẫn chứng cụ thể về việc “quản lý thông tin” này. Đó là trường hợp bác sỹ Ngô Văn Quỹ, một trí thức nổi tiếng ở Tp HCM, bạn với ông Võ Văn Kiệt. Khi Bs Quỹ qua đời, bốn cô con gái của ông khóc lóc với tôi rằng, trước khi cha cô mất chỉ dặn lại một điều là vào nghĩa trang thành phố để được nằm cạnh mẹ các cô đã nằm trong đó. Nhưng gia đình đã làm đơn, quản lý nghĩa trang đã trả lời rằng, bố các cô còn thiếu ba tháng nữa mới đủ tiêu chuẩn là cán bộ lão thành hoạt động trước CM để được vô nghĩa trang thành phố (!) Chỉ còn có tôi là có thể giúp các cô việc này…. nói rồi họ lại thút thít khóc, nài nỉ: “Chú giúp các con”. Tuy gọi tôi bằng chú, xưng “con” nhưng các cô chỉ kém tôi ít tuổi (vì Bs Quỹ hơn tôi 20 tuổi). Tôi rất ngạc nhiên về việc họ tin cậy này, các cô giải thích: chú xin với ông Võ Văn Kiệt là được. Tôi băn khoăn quá, nhưng đánh liều gọi điện đến nhà riêng của ông. Ở đầu dây bên kia, tôi nghe rõ giọng Bắc của người trung niên bảo vệ của thủ tướng (tôi “phát hiện” ra từ lâu các chú bảo vệ Sáu Kiệt, Sáu Phan, Sáu Khải phải là dân Bắc… kể cả khi các vị đó về Nam ăn Tết thì các chú bảo vệ này cũng phải theo thủ trưởng về Nam ăn tết!).

Nghe được tin Bs Quỹ mất, người bảo vệ vốn biết Bs Quỹ từng đến nhà ông Sáu nhiều lần nên hỏi tôi rất kỹ số nhà để “chú Sáu” gửi vòng hoa đến phúng. Nhưng khi tôi đề nghị xin cho Bs Quỹ vô nghĩa trang TP, thì anh bảo tôi “tắt máy” rồi gọi vào điện thoại di động của anh ta. Sau khi tôi làm theo chỉ dẫn, tôi nghe rõ tiếng anh bật máy rồi bảo tôi cứ giữ di động… rồi tôi nghe rõ tiếng giày của anh đi lộp cộp lên thang gác gỗ… cho đến khi anh nói: thưa chú Sáu, có nhà báo Phú Khải muốn gặp. Vậy là ông Sáu không có điện thoại bàn, hay di động, mọi thông tin đến ông đều phải qua bảo vệ! Nếu ông gọi cho ai thì cũng phải qua “bảo vệ” (!) Một lần khoảng 6h chiều tôi đang ăn cơm, điện thoại bàn reo, nghe rõ tiếng ông Sáu Phan UV BCT mà không qua “bảo vệ”, ông nhắn tôi lên T 78 có việc muốn nói. Hôm đó là áp Tết, ông về quê ăn Tết. Vậy mà khi tôi lên đến T 78, muốn vào gặp ông, người bảo vệ nói giọng Bắc (theo ông về Nam) mắng tôi ngay: thủ trưởng trực tiếp gọi cho anh thì anh cứ việc lên lầu, không phải hỏi tôi nữa (!) Vẻ mặt anh ta hầm hầm có vẻ tức giận lắm. Không biết anh tức giận tôi hay thủ trưởng của anh “vô nguyên tắc”?

Trở lại chuyện Bs Quỹ, sau khi nghe tôi trình bầy, ông Kiệt từ tốn nói: để tôi bảo với Ba Đua việc này cho. (Ba Đua, tức Nguyễn Văn Đua, phó bí thư thành ủy). Thế là chỉ ít phút sau, gia đình Bs Quỹ nhận được tin từ giám đốc nghĩa trang báo cho biết, “cứ đưa Bs Quỹ vô nghĩa trang, không cần cả giấy quyết định nữa”!

Với ông Phan Văn Khải, tôi vẫn thực hiện được cuộc phỏng vấn chuyến đi về của phái đoàn thủ tướng dự thượng đỉnh ASEAN. Tôi gọi điện đến 24 Tú Xương, nhà riêng của ông từ khi ông còn là chủ tịch TP HCM. Tôi xin gặp bác Tám, gia nhân và là người quản gia thân tín của gia đình. Cách gọi điện đến nhà các VIP cũng là một “nghiệp vụ” của người làm báo. Đừng bao giờ gọi điện đến mà chỉ xin gặp ông này, bà kia. Người ta có thể tự ái mà trả lởi “ông chủ đi vắng” ai làm gì được người ta. Còn chủ nhân của người ta thì rất khó cho nhà báo tiếp cận trực tiếp (mà không qua họ). Ở một nước không có dân chủ thì điều này càng trở nên tuyệt đối. Bác Tám biết là tôi gọi. Vì dịp tết nhất tôi đã nhiều lần gọi điện thăm hỏi bác và không hề thăm hỏi ai nữa, ngoài bác ra (!) Bác Tám cho tôi hay, Thủ tướng xuống máy bay giờ nào là bí mật, nhưng bác bày vẽ cho tôi cách gặp, bác cho tôi số điện thoại di động của nhân viên an ninh sẽ đến đón Thủ tướng tận chân cầu thang máy bay lúc ông xuống. Bác còn dặn tôi cứ nói rõ lý do biết tên anh ta và số ĐT là do bác cung cấp. Từ đó tôi biết giờ máy bay đáp và sẽ đi cùng đồng chí an ninh bảo vệ Thủ tướng. Khi Thủ tướng Phan Văn Khải xuống máy bay, tôi trông rõ BTV Thu Uyên cùng bước xuống, nhưng ông được một chiếc xe du lịch đón ngay ở chân cầu thang và đi luôn. Sau này tôi được biết là các bà ở Hội cầu lông đã đón ông đi đánh cầu lông ngay (ông Khải là chủ tịch Hội cầu lông VN). Thế là phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm vào phòng VIP của Tân Sơn Nhất trả lời phỏng vấn của các nhà báo. Nhưng rất ít báo chí thành phố biết giờ ông xuống nên chỉ có nữ phóng viên Mai Hoa, giám đốc Cường cử đi cùng tôi để phụ trách máy ghi âm, còn tôi thì phỏng vấn Thủ tướng. Nhưng khi nhìn thấy cái ông phó thủ tướng có bộ mặt hãm tài kia thì tôi không phỏng vấn nữa và giao cho cô Mai Hoa… “muốn làm gì thì làm”. Tôi ngồi quan sát, thấy ông Nguyễn Mạnh Cầm vừa trả lời phỏng vấn của Đài TNVN vừa nhìn sang phía quầy bán hàng phục vụ khách VIP, nơi cô Phương Uyên đang nhổm người lên để lộ cả quần xi líp mầu hồng bên trong (!). Lúc về cơ quan, tôi bảo với sếp Cường là tôi sẽ viết lại giáo trình bài “phỏng vấn”, rằng mỗi khi một cơ quan báo chí cử phóng viên đi phỏng vấn các VIP, thì nên cử nữ phóng viên xinh đẹp, mặc váy ngắn, xi líp màu hồng! Từ đó trở đi hễ có đài, báo địa phương nào mời Đài TNVN đi giảng các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho phóng viên của họ… sếp Cường càng bắt tôi đi bằng được. Lý do: tôi đã “viết lại giáo trình” thì phải đi giảng, tôi có đi giảng thì uy tín của cơ quan… mới được nâng cao! Chẳng biết ông nói thật hay nói đùa!

Ngay ngày hôm sau, ông Phan Văn Khải phải đi xuống Cà Mau để chỉ đạo khắc phục cơn bão số 5 chưa từng có ở Nam Bộ, gây thiệt hại ghê gớm cho nghề cá ở hai tỉnh Cà Mau và Kiên Giang. Đương nhiên là ông Cường lại cử tôi đi viết tin, vì Hà Nội bảo “không có không được”! Tối hôm đó, tôi phải viết một lá thư cho anh Khải, đến đưa trực tiếp cho bác Tám, xin tháp tùng đi Cà Mau với Thủ tướng “vì nhiệm vụ trên giao”!

Khoảng 5h sáng hôm sau, điện thoại bàn reo. Vợ tôi hoảng hốt nhỏm dậy. Tôi phải trấn an bà, bảo đừng lo, đó là điện thoại “lành” thôi (vì thông thường điện thoại vào giờ đó thường là những tin “dữ” như gia đình có người chết, hay bệnh nặng phải đi cấp cứu…). Ở đầu dây bên kia, giọng Nam Bộ của bác Tám quản gia cho biết Thủ tướng gửi lời thăm tôi, nhưng vì máy bay hết chỗ nên không thể bố trí cho nhà báo cùng đi. Tôi vội đến cơ quan ngay, định bụng sẽ xin xe đi Cà Mau đến tối sẽ tới nơi nhưng nghĩ đến 2 cái phà thì ngán quá nên lại đổi kế hoạch. Tôi liền gọi điện cho các học trò của tôi ở các lớp nghiệp vụ báo chí hiện đang làm việc ở Đài, báo Cà Mau, chuyển gấp tin thu thanh Thủ tướng đi chỉ đạo khắc phục bão số 5 cho tôi, để gửi ra Hà Nội. Làm báo cũng phải “thiên biến vạn hóa” như cụ Hồ dặn tướng Giáp khi đi trận Điện Biên! Biết vậy nhưng tôi vẫn tức, vì sao Phương Uyên thì đi máy bay trực thăng được, sao tôi lại không có chỗ (lại hết chỗ!) hay là tôi phải mặc váy ngắn như Phương Uyên! Sau này, tôi đã nói thẳng với Bộ trưởng thủy sản Tạ Quang Ngọc cái ý đó. Vì tôi biết ông có mặt trên chuyến máy bay trực thăng đó để đi giải quyết hậu quả của nghề cá 2 tỉnh Cà Mau, Kiên Giang cùng ông Sáu Khải. Anh Ngọc phân trần: thằng phi công lái trực thăng nó kiêng kỵ lắm, nhất định không chịu chở 13 người. Chủ tịch tỉnh Cà Mau muốn lên máy bay sang Kiên Giang sau đó, đã xin phép Thủ tướng, nhưng thằng phi công không cho lên, Thủ tướng cũng chịu. Nó còn coi giờ tốt mới bay. Nghe vậy tôi nói với ông Ngọc: vậy mà các ông còn định “công nghiệp hóa đất nước” cái nỗi gì?!

Nói tiếp về chuyện đi Liên Xô. Ra đến Hà Nội có người bạn bảo tôi: thấy ông ở trong ấy viết lách cũng được, vậy mà làm sao bị đi đầy ở Liên xô? Thì ra, ở Hà Nội thời điểm đó ai đi công tác Liên Xô coi như bị “đi đầy”. Người đi Liên Xô về cho hay, bất cứ mua cái gì cũng phải xếp hàng rồng rắn. Thiếu thốn đủ thứ. Trước đây đi Liên Xô là để mua quạt tai voi, nồi áp suất, bàn ủi… (những thứ như người Hà Nội nói là “dùng cả đời không hỏng”) để dùng, để bán lấy lời. Bây giờ ngược lại, ai đi thì mang quần xịp (quần lót), quần jean Thái lan, đồng hồ điện tử… sang Liên Xô bán. Người ta lèn những thứ đó trong va li mỗi khi lên đường. Tôi lại nghĩ khác. Tôi nghĩ đến lời chủ tịch Sáu Bình ở Tiền Giang “đồng chí đã đi nhiều nước”! Vậy tôi phải đi Liên Xô là nước thứ 2 sau Campuchia để nâng con số 1 lên thành số nhiều, là số 2. Hơn nữa, tôi đâu có đi buôn. Tôi muốn đi để được nhìn tận mắt “thành trì của hòa bình thế giới” đang lung lay. Thời điểm tôi đi là tháng 3/1991. Chỉ cuối năm đó là Liên Xô tan rã.

Tuy vậy mà cũng có vẻ quan trọng. Tôi và anh Trần Kiên, trưởng phòng phụ trách chương trình phát thanh nông thôn của Đài TNVN phải lên gặp phó Tổng biên tập Mai Luân để nghe ông dặn dò trước khi đi. Ông nói nhiều điều, trong đó có vụ cô I-ri-na, trưởng Ban Việt ngữ của Đài phát thanh đối ngoại Mát-xcơ-va, đang “chống Việt Nam” phải cảnh giác (!) Ông càng nói, trưởng đoàn Trần Kiên càng ghi và càng ghi ông càng nói… sốt ruột quá, tôi lấy cái mũ phớt đội lên đầu. Thấy thế ông Mai Luân nói: thôi, thằng Khải nó không muốn nghe, tao cũng đéo nói nữa. Chúng mày về đi. Ông Luân là người hiền hậu, có chuyên môn, đi từ phóng viên lên lãnh đạo cấp cao của Đài nên rất thông cảm với anh em phóng viên… Ông văng tục như thế là để thể hiện việc xuề xòa của mình chứ không có ác ý gì. Biết tính ông nên tôi mới dám đội mũ lên đầu để… chấm dứt cuộc họp. Vậy mà đến chiều, khi tôi đang ngồi uống trà tại nhà chú em họ tôi ở đường Lý Nam Đế, một cán bộ tổ chức của Đài lại đến gõ cửa hỏi tên tôi, rồi anh ta bảo tôi: sáng mai anh lên Vụ tổ chức để nghe các anh ở tổ chức dặn dò trước lúc lên đường. Tôi “điên” quá và tôi còn lạ gì cái Vụ tổ chức của Đài, toàn mấy ông người dân tộc ở Cao Bằng, Lạng Sơn về làm “cán bộ tổ chức” suốt ngày ngồi uống trà vặt, còn ông vụ trưởng béo ị thì là vua quan trọng hóa các vấn đề… Tôi mời cậu cán bộ tổ chức vào nhà “uống nước đã”! Tôi nói với cậu ta: cậu về nói với các anh ở Ban tổ chức rằng, anh Lê Phú Khải nói năm nay anh ấy đã 50 tuổi rồi. Một thằng đàn ông đã 50 tuổi thì không cần ai dặn dò nó cả, thế thôi… Cậu ta bẽ mặt quá, về ngay. Cô em dâu tôi đang lúi húi dọn dẹp trong buồng nghe thấy tôi nói thế, hoảng quá, chạy ra nói: sao bác lại nói thế, họ không cho đi nữa thì sao? Tôi bảo: “nếu không cho đi thì anh lại về ĐBSCL đi Campuchia vậy”!

Vậy mà lúc đi, cái vali to đùng của tôi cũng xếp kín hàng hóa. Ông Trịnh, đã làm bộ trưởng đến nhiệm kỳ thứ hai ở Bộ Thủy sản, cho tôi 10 chai rượu Lúa mới và 5 cây thuốc vinataba. Lúc đó Gooc-ba-chop đang cấm rượu, nên đem rượu đi tặng bạn là quý nhất. Vợ tôi mua cho tôi đồ trang điểm của phụ nữ, phấn son, nước hoa và 10 cái hộp quẹt ga… để tôi tặng nữ nhà báo I-ri-na. Cô em dâu mua cho tôi 10 cái đồng hồ điện tử “để bác bán đi lấy tiền tiêu”… Tôi mua 2 cái lọ hoa sơn mài để tặng Ban Việt ngữ. Đặc biệt Ts Nguyễn Tấn Trịnh còn viết một bức thư bằng tiếng Nga cho Bộ trưởng Bộ Nghề cá của Liên Xô, giới thiệu tôi và yêu cầu ông bộ trưởng giúp đỡ tôi khi cần thiết. Phát thanh viên Trần Phương, công tác ở Liên Xô mới về cho tôi 5 rup. Trần Kiên thì chủ yếu anh ta mang quần xịp, quần jean theo thư dặn của vợ anh ấy đang lao động xuất khẩu ở Liên Xô.

Chúng tôi đi máy bay IL86-350 chổ ngồi loại lớn của hãng Airoflot của Liên Xô. Các cô tiếp viên Nga đẹp như sao trên trời! Sau 3h bay, trạm dừng chân đầu tiên của chúng tôi là thành phố Calcuta Ấn Độ. Mọi người vào nhà ga sân bay nghỉ ngơi còn tôi vẫn đứng dưới trời nóng như thiêu để quan sát. Sân bay Calcuta nông dân Ấn vào canh tác ở những thửa ruộng sát ngay đường băng bê tông, không có rào cản nào cả. Họ lao động lặng lẽ dưới nắng. Mấy khi được đặt chân đất nước của Ta-go-rơ, “Đất nước từng đau như chiếc kèn đồng vùi trong cát bụi”! Nên tôi đi ra tận các thửa ruộng xem họ làm việc. Những nông dân Ấn này gầy gò, bé nhỏ, có vẻ họ rất nghèo và gương mặt rất buồn. Trái lại, khi vào trong nhà ga, những nhân viên mặc đồng phục như bảo vệ sân bay, cảnh sát, sỹ quan… tên nào cũng cao to lực lưỡng, oai vệ, râu để cong lên trông rất hãnh tiến. Chỉ cần quan sát vẻ bề ngoài như thế thôi, người ta cũng thấy xã hội Ấn Độ khoảng cách giàu nghèo phân chia đẳng cấp rất rõ nét (!)

Rời Calcuta bay một hồi dài nữa ngang qua nước Ấn Độ, chúng tôi đến sân bay Karachi thuộc Pakistan. Tại đây hành khách không được ra khỏi máy bay, ngồi chờ tại chỗ trong khi chờ tiếp nhiên liệu. Từ Karachi, chiếc IL86 bay ngược lên phía Bắc, cho chúng tôi xuống sân bay Tasken, thủ đô của nước cộng hòa U-dơ-bê-ki-xtan. Tasken là một thành phố đẹp nhất của vùng Trung Á thuộc Liên Xô. Các cuộc liên hoan điện ảnh quốc tế do Liên Xô đăng cai đều diễn ra ở Tasken.

Từ trên máy bay nhìn xuống, Tasken rực rỡ trong ánh điện vàng, đó là dấu hiệu của các thành phố ở xứ lạnh. Tôi rét run cắm đầu chạy vào nhà ga có hệ thống sưởi nóng. Cũng là một nước thuộc vùng Trung Á, có cái đuôi “xtan” như Ca-dắc-xtan, Tát-gi-ni-xtan, Ap-ga-ni-xtan, Tuốc-mơ-ni-xtan, Pa-kit-xtan… luôn xáo động vì bạo lực, luôn được phương tiện thông tin thế giới nhắc đến, nhưng CH U-dơ-bê-ki-xtan chưa thấy ai nhắc đến bao giờ. Những nhân viên ở nhà ga Tasken mà tôi gặp rất đẹp trai, nước da ngăm đen, mặt trái xoan, mũi dọc dừa, hầu hết đều để ria mép… rất phong độ. Phụ nữ thì nhỏ nhắn, xinh đẹp, vui vẻ.

Từ Tasken phải bay 5h nữa mới đến Maxcơva. Lúc đó theo giờ địa phương là 9h tối. Cô I-ri-na đón chúng tôi ở sân bay. Chị nói tiếng Việt hay đến nỗi, các bạn Việt Nam ra đón người nhà, bạn bè qua Mát (tiếng gọi tắt của Maxcơva) đều quây lại nghe. I-ri-na đẹp, mũi cao, mắt biếc xanh, tóc màu hung… Câu đầu tiên chị hỏi: Anh Kiên, anh Khải đi đường có mệt không? Rồi hỏi thăm “anh ba Trần Phương dạo này thế nào, đã có tin vui gì chưa?”. Trần Phương là PTV giọng Nam bộ nổi tiếng của Đài TNVN, được cử sang đài phát thanh đối ngoại Mát-xcơ-va làm PTV giọng nam cho đài còn Irina là PTV tiếng Việt giọng nữ. Hai người làm việc với nhau đã 5 năm. Anh Phương mới về nước. Nhưng trong cách hỏi thăm, Irina dùng cụm từ “anh Ba Trần Phương” vì anh là dân Nam Bộ, quê ở An Giang. Irina nói tiếng Việt giọng Hà Nội, nói rành rẽ, chính xác, dùng từ rất chuẩn và am tường phong tục Việt Nam. Sở dĩ chị hỏi anh Ba “có tin vui gì chưa” vì anh Ba Nam Bộ này chưa có vợ và còn đang “kén”.

Tôi đưa tặng quà của vợ tôi cho Irina ngay trên chuyến xe đi về nhà khách của các chuyên gia nước ngoài làm việc cho Ban đối ngoại Đài Mát. Dẫn chúng tôi lên căn hộ khép kín ở tầng 11 (của một “ốp” 18 tầng). “Ốp” là tiếng Nga gọi nhà chung cư cao tầng. Căn hộ nhỏ, chỉ có 1 phòng ngủ chừng hơn 10 m2 và 1 phòng ăn chừng 6 m2. Irina chỉ tay vào 2 cái giường cá nhân kê cách xa nhau ở phòng ngủ, bảo với tôi và Trần Kiên: hai anh ở với nhau sướng nhé! Tôi kéo tay Irina ngồi xuống ghế và nói: Em là chuyên gia về Việt Nam mà nói thế à? Anh ngủ với anh Kiên thì làm sao mà “sướng” được. Em đã nghe câu ca dao tục ngữ Việt Nam này bao giờ chưa:

Đàn ông ngủ với đàn ông, như gậy như gộc như chông như chà
Đàn ông ngủ với đàn bà, như lụa như là, như gấm như nhung

Irina nghe xong, bất ngờ quá. Chị vội lấy giấy bút ra để ghi ngay câu đó lại. Chị bảo: Anh Khải đọc lại để cho em ghi. Ghi xong chị còn đọc lại, thích thú lắm rồi chúc chúng tôi ngủ ngon trước khi ra về. Thật trớ trêu, vợ Kiên sau khi đón chồng ở sân bay cũng về nhà khách này để nghỉ lại. Vợ chồng họ xa nhau cả năm trời, nay gặp nhau lại phải ngủ chung với một người lạ trong cùng một căn phòng trật hẹp thì thật bất tiện cho cả tôi và họ. Cả đêm đó tôi trằn trọc, phần vì chệch múi giờ (cảm giác đêm không ra đêm, ngày không ra ngày), phần vì vợ chồng Kiên lục xục soạn đồ, soạn hàng và cằn nhằn nhau vì hàng hóa đem sang nhiều, ít! Tôi nằm suy nghĩ, sẽ nhường lại cho vợ chồng bạn căn phòng này, ngay ngày mai tôi sẽ liên hệ với phóng viên ảnh Dương Minh Long để Long đưa tôi sang Trường viết văn, nơi nhà thơ Trần Đăng Khoa đang học ở đó (vì lúc đi, Trần Mạnh Hảo có nhờ tôi đem cho Khoa 2kg mực khô). Tôi sẽ nói và nhờ Khoa cho tôi tá túc nơi cậu (và nằm dưới sàn cũng được). Suy nghĩ miên man, chợp mắt lúc nào không hay. Lúc tỉnh dậy thấy vợ chồng Kiên đã đi, đem hết hàng hóa theo, có lẽ đi giao hàng cho khách, chỉ để lại đồ dùng cá nhân…

Ngày đầu tiên trên nước Nga mênh mông. Từ lầu 11 chung cư tôi nhìn xuống bốn bề thấy một mầu trắng băng tuyết bao phủ. Bây giờ mới là tháng ba, chưa phải mùa băng tan. Tôi thấy nao nao trong lòng bèn lấy ba nén nhang ra đốt. Mùi nhang thêm ngào ngạt căn phòng, tự dưng thấy ấm cúng như đang ở quê nhà…. Bỗng có tiếng đập cửa rất mạnh. Một bà bảo vệ già, mập vẻ hốt hoảng chỉ tay vào các cây nhang đang cháy ra hiệu cho tôi dập tắt. Bà ta phát hiện ra mùi lạ, sợ cháy nhà. Tôi xin lỗi bà ta, rồi tạ lỗi bằng cách tặng bà một cái khăn quàng Thái lan màu đỏ. Thứ khăn quàng mà tôi thấy các bà Liên Xô hay mua ở chợ Mỹ Tho. Bà ta mừng lắm rồi ra hiệu bảo tôi đi ăn sáng. Tôi theo bà xuống một tầng lầu có căn tin của “ốp”. Phòng ăn rộng này lúc đó có nhiều người đang ăn điểm tâm, đủ mọi mầu da, sắc tộc vì đây là “ốp” của chuyên gia tất cả các nước mà Đài đối ngoại Mátxcơva phát tiếng nước họ. Tôi đưa 1 rúp để mua một phần ăn sáng và còn được trả lại mấy đồng cô-pếc bằng đồng mỏng dính to chỉ bằng cái cúc áo sơ mi. Đấy là đơn vị tiền tệ nhỏ nhất của Liên Xô lúc bấy giờ. Đồng rúp thời kỳ này còn cao giá lắm, một rúp ăn hơn 1 USD. Để bạn đọc dễ hiểu, có thể hình dung, trước 1975, Mỹ giúp cho ông Thiệu ở miền Nam 1 tỷ đô la để duy trì chiến tranh. Liên Xô giúp cho miền Bắc 800 triệu rúp để “chống Mỹ”! Họ giúp cho hai miền Việt Nam để đánh nhau (cho họ!). Có lần bộ trưởng N tâm sự với tôi: người ta thấy Việt nam có “năng khiếu” đánh nhau nên mượn máu mình để đánh nhau. Chí lý quá!

… Tôi được người phục vụ đem cho một đĩa gồm một khúc bánh mỳ, hai cái xúc xích nhỏ, một quả trứng vịt luộc và một ly cafe đen nóng khá lớn có sẵn đường dưới đáy ly. Một bữa ăn sáng như thế thật ngon và đủ chất. Uống hết ly cafe nóng, tôi thấy người khỏe lại.

Tôi về phòng thì đã thấy PTV Văn Khoa dân Sông Bé, làm việc trong Ban tiếng Việt Đài Mát đứng chờ ở trước cửa phòng. Anh bảo với tôi: trưởng Ban Irina khen anh lắm. Bọn tôi rất mừng vì như thế có lợi cho các chuyên gia Việt Nam đang làm việc tại đây. Rồi anh bảo tôi dọn đồ đạc lên phòng anh ở lầu 13, trên đó có 2 phòng. Tôi lên đến nơi thì anh giới thiệu chị vợ và đứa con trai 3 tuổi. Vợ Khoa là dân buôn bán lặt vặt ở vỉa hè, phố Bạch Mai. Chị là dân Hà Nội theo chồng sang đây đã 5 năm. Chị trông béo trắng, ăn mặc váy áo lòe loẹt như một bà đầm Nga. Chị nhanh nhẩu, vui tính. Căn hộ Khoa ở là căn hộ làm cho một gia đình Nga đã có con: một phòng ngủ và một phòng khách. Tối đến kéo cái đi-văng ra thành cái giường. Khoa bảo tôi ở phòng đó. Phòng treo quần áo, phòng vệ sinh và nhà bếp ở đối diện phía bên kia, có lối đi ở giữa. Vậy là tôi có thể ở đây cho đến lúc về khỏi phải đi xin ngủ nhờ.

Ngày hôm sau Khoa đưa tôi và Kiên đến Ban tiếng Việt “làm việc”! Lần đầu tiên tôi đi tầu điện ngầm thấy hệ thống giao thông này sang quá. Có ga xuống sâu đến hàng mấy chục mét. Tôi đưa 5 chai lúa mới, 2 cây Vinabata và 2 cái lọ sơn mài bảo Kiên thay mặt đoàn Việt Nam tặng các bạn Ban Việt ngữ Đài Mát. Ban khá rộng, có treo một cái bản đồ Việt Nam rất to ngay giữa phòng, tự nhiên tôi thấy gần gũi như ở nhà. Các bạn Nga đều nói được tiếng Việt nhưng giọng lơ lớ. Đến cả chị Ta-nhi-a bố là người Nga, đi lính lê dương cho Pháp, rồi chạy sang theo Việt Minh lấy vợ Bến Tre rồi sinh ra Ta-nhi-a ở Việt Nam, năm 18 tuổi cô mới về Nga vậy mà nói tiếng Việt còn thua I-ri-na. Sau những thủ tục xã giao có tính hình thức, I-ri-na lấy bút ra ghi. Nàng hỏi anh Kiên sang làm việc có yêu cầu những gì? Kiên đưa ra nhiều yêu cầu lắm, nào đi thăm chỗ này, tìm hiểu cái kia… I-ri-na ghi chép rất cẩn thận. Đến lượt tôi, tôi trả lời: chẳng có yêu cầu gì cả. Mọi người ngạc nhiên. I-ri-na hỏi lại, vậy anh Khải không có yêu cầu gì thật à? Tôi trả lời: tôi sang đây được đi máy bay IL 350 chỗ ngồi to đùng, thấy các cô tiếp viên Nga đẹp như sao trên trời. Đến Mát-xcơ-va thấy nhà cao ngất, đường phố thẳng băng, tầu điện ngầm thật hiện đại và sang trọng, được thấy các bạn Nga nói tiếng Việt như thế này thì thỏa mãn yêu cầu rồi còn gì nữa… Thế là mọi người đều cười rất vui vẻ. Lúc về nhà, Khoa bảo với tôi, anh rất khôn. Họ bảo yêu cầu thế thôi chứ biết rõ Việt Nam sang đây đi mua quạt tai voi là chính, còn biết gì mà tìm hiểu… I-ri-na bảo với tôi, chưa thấy tay phóng viên nào sắc sảo như anh! I-ri-na đã đọc được mấy trang cuốn “Đồng Tháp Mười hôm nay” của anh tặng nàng lúc sáng. Cô ta nói rất thích, có tư liệu để nghiên cứu về Nam Bộ Việt Nam, lại do phóng viên của Đài TNVN viết thì càng quý.

Từ lầu 13 căn hộ của Khoa, tôi ngắm nhìn một góc Mát-xcơ-va. Thành phố được quy hoạch rất nghiêm chỉnh. Các khối nhà chung cư thường chỉ cao 20 tầng trở xuống, mỗi ốp cách nhau rất xa, giữa là cây. Mùa này, cây chút hết lá nhưng đến hè, cây ra lộc ra lá thì cả Mát-xcơ-va là một rừng cây. Các khối nhà ẩn trong rừng cây. Bây giờ đã là cuối đông nên cảnh vật buồn tẻ. Chỉ thấy các con quạ đen đậu trên các cành cây khô. Thỉnh thoảng dưới ghế đá, có những ông già ngồi như tượng trong tuyết rơi, bên cạnh là một chú chó làm bạn. Trẻ con vẫn mặc áo ấm chơi đùa trong băng tuyết. Chúng chơi cầu trượt hay bốc tuyết ném nhau. Tuyết phủ dầy trên mặt đất. Khi nhiệt độ xuống thấp nữa thì đóng băng. Trời khô ráo nhưng rất lạnh vì nhiệt độ đã xuống dưới độ âm. Có thể nói mùa này cả Mát-xcơ-va là một cái tủ cấp đông. Trong nhà vẫn ấm áp, có thể mặc quần áo mỏng. Các khối nhà đều có hệ thống dẫn nước nóng đến từng căn hộ. Các ống nước nóng đó chạy nổi chung quanh tường. Cả thành phố có 2 hệ thống ống dẫn nước. Một hệ thống ống nước sinh hoạt lạnh và một hệ thống dẫn nước nóng để sưởi. Thỉnh thoảng nhiệt độ trong nhà lên cao thì người ta lại hé cửa sổ để cái “tủ cấp đông” khổng lồ bên ngoài phả hơi lạnh vào nhà. Khi ra khỏi nhà phải mặc quần áo, đi giầy, đội mũ, ít nhất phải mất 15-20 phút. Về nhà lại cởi ra lại mất thời gian như thế. Khi chúng tôi đến Đài phát thanh đối ngoại Mát-xcơ-va làm việc, vào nhà rồi phải cởi quần áo ra, gửi vào một cái ngăn tủ rồi nhận thẻ gửi quần áo rồi mới lên phòng làm việc. Khoản biên chế nhân viên cho việc này khá lớn. Xứ lạnh phức tạp, khó khăn cho con người tồn tại như thế. Nếu cứ mặc nguyên quần áo đi ngoài trời thì không cựa quậy được khi ngồi trong nhà để làm việc.

Sáng hôm sau thì Dương Minh Long xuất hiện ở nhà Khoa. Long trẻ trung, đẹp trai, nhanh nhẹn. Vốn xuất thân là một lao động hợp tác, nhưng từ ngày còn đi học, Long đã mê chụp ảnh. Sang Nga, trước thiên nhiên kỳ vỹ của đất nước này, với năng khiếu bẩm sinh, Long đã phát hiện ra vẻ đẹp thiên nhiên Nga mà nhiều tay nhiếp ảnh sừng sỏ của xứ sở này phải sửng sốt. Anh được nhiều giải thưởng nhiếp ảnh nghệ thuật và trở nên nổi tiếng. Ảnh của Long được trưng bầy ở Hà Nội, TP HCM do sự giúp đỡ của bè bạn. Anh trở thành nhà báo nghiệp dư, cộng tác viên của báo Lao Động Việt Nam tại Liên Xô. Long rủ tôi đi theo anh để “thâm nhập” Mát-xcơ-va. Vợ chồng Khoa đều khuyên tôi nên đi theo Long, vì Long là “con ma” của TP này!

Trước tiên, Long đưa tôi đi thăm phố Arbat, một phố nằm trong khu phố cổ của Mát-xcơ-va. Thời đó, nếu ai đến Mát mà chưa thăm phố Arbat là coi như chưa đến Mát. Nếu nhìn vào bản đồ, thì khu phố cổ nằm ở trung tâm thành phố, thành một cái vòng tròn nhỏ gồm những phố ngắn, hình chân chim, bao quanh là những con đường dài, thẳng tắp của thành phố hiện đại rộng mênh mông.

Tôi có một cái thú là bất kỳ đi đâu, việc đầu tiên là ra nhà sách mua một cái bản đồ hay xin các quan chức một cái bản đồ địa phương của họ. Có bản đồ rồi, đi đâu tôi cũng đánh dấu nơi mình đã đến. Nhìn vào bản đồ rất dễ dàng hình dung ra mọi sự kiện, sự việc, rất dễ giải thích các mối quan hệ. Khi viết bài, viết tin sẽ dễ dàng hơn nhiều. Trong “kho” tư liệu của tôi thì bản đồ được xếp hàng đầu. Hiện tôi đang có hầu hết các bản đồ của tỉnh, huyện của Nam Bộ. Tôi cũng có bản đồ của Mát-xcơ-va, Paris, Quảng Châu, Thẩm Quyến, Hồng Kông. Môn địa chính trị ngày xưa ít được quan tâm, ngày nay càng thấy quan trọng. (Giá như Việt Nam đừng ở cạnh Trung Quốc thì phúc cho dân tộc biết bao nhiêu!).

Kinh nghiệm viết báo của tôi là nhìn bản đồ mà suy nghĩ, nhìn bản đồ mà viết.

Phố Arbat là một trung tâm mà “đời thường” của Mát-xcơ-va cổ được phục hồi trong công cuộc cải tổ của Liên Xô lúc đó. Các nghệ sỹ kéo violon, đánh đàn bên hè phố, ai hảo tâm thì cho tiền vào cái mũ đặt dưới chân họ. Tôi say sưa nghe một ca sỹ vừa đàn vừa hát những bài mà dân Mát yêu thích. Một vài thứ đồ cổ cũng được bán ở đây. Nói chung người ta đã làm lại những gì mà người ta đã xóa đi trên hè phố cổ này thời Xô Viết. Có điều là sự “phục hưng” này náo nức, rốn rang hơn bao giờ hết. Tôi cũng đã nhìn thấy cái thùng kính to để giữa phố để nhân dân quyên góp tiền xây dựng lại các nhà thờ Nga mà trước đây đã bị hủy hoại hoặc xóa bỏ đi. Nhìn qua kính, tiền đầy ắp trong thùng!

Long còn đưa tôi đi thăm Điện Krem-li bên Quảng trường đỏ, lăng Lê-Nin, nhà thờ hình củ hành. Đài liệt sỹ luôn có lửa cháy ngày đêm. Anh chụp cho tôi những tấm hình có “ Ngôi sao điện tháp Krem-li” làm nền. Anh mua vé cho tôi vào nghe ca nhạc tại cái hội trường lớn trong khu vực Krem-li mà trước đây thời Xô Viết cũ là nơi thâm cung bí sử, dân thường không được bước chân vô. Tôi được xem một tốp chơi đàn accordion mà chỉ có dân Nga mới chơi “bạo” như thế. Khi cao trào, các nghệ sỹ giữ chặt một bên có phím đàn rồi buông tay phía bên kéo đàn, ném mạnh cây đàn ra không gian để nó “bung” ra hết cỡ…tạo nên một vụ “nổ” âm thanh… Tiếng vỗ tay như sấm. Tiết mục tiếp theo vừa kéo màn lên là Long đã kéo tôi ra khỏi nhà hát. Tôi ngạc nhiên quá, hỏi Long vé vào cửa đắt thế mà chỉ để xem có thế đã thôi à? Long trả lời: mua vé cho anh vào cửa là để anh xem cái hội trường trong Điện Krem-li nó vĩ đại thế nào, để anh thấy thời Xô Viết nó thế, đâu phải để xem ca nhạc. Tôi không ngờ Long chơi sang như thế. Đang ở trong nhà hát ấm áp, ra ngoài lại rét run. Phải vừa đi vừa chạy tôi mới đuổi kịp Long. Có lúc thấy cự ly đã xa quá, tôi gọi Long, cậu ta quay lại bảo tôi: bên này không ai gọi to ngoài đường. Người ta nhìn mình đấy. Tôi đành lặng lẽ chạy gằn theo Long. Qua mấy lần lên xuống xe buýt, Long dẫn tôi đến nơi đặt tượng Hồ Chí Minh. Trước mắt tôi là một cái phù điêu, một cái vòng tròn bằng chất liệu gì tôi không rõ, to hơn cái nong của bà con mình ở quê nhà. Ở giữa là chân dung Hồ Chí Minh đắp nổi có lẽ bằng chất liệu đồng. Cả khối phù điêu đó được đặt ngay trên lề hè phố, không có chân đế xây cao nên rất đơn sơ. Long giải thích, trước đây họ định xây một cái tượng đài HCM tại khu đất này, Long chỉ tay vào phía trong, nhưng bị phản đối nên cuối cùng chỉ làm thế này thôi.

Đây chính là điểm nhấn của chuyến đi “công tác” Liên Xô của tôi. I-ri-na đã trở nên “chống Việt Nam” như người ta đã dặn dò tôi trước lúc đi là ở cái chuyện xây tượng đài này. Tôi định sẽ làm việc với chị để “tìm hiểu” trong chuyến đi này như chính từ “tìm hiểu” mà I-ri-na đã đặt ra trong cuộc làm việc ngày đầu tiên. Long đã “bật mí” cho tôi trước thì càng hay. Đến trưa, Long đưa tôi về ốp Zin để chiêu đãi tôi… bánh cuốn nóng! Ốp Zin là một chung cư 20 tầng như bất cứ chung cư nào ở Mát. Vì nó được phân cho công nhân làm ở nhà máy ô tô Zin ở nên gọi là “ốp Zin”. Lao động Việt nam ở ốp này cũng nổi tiếng ở cộng đồng người Việt lao dộng hợp tác, và cũng tai tiếng nhất về sự bệ rạc của người Việt. Từ xa người ta đã thấy cái thùng rác rất lớn bằng sắt có quai ở bên trên để hàng ngày xe thu gom rác đến cẩu đi, đặt cái thùng rác mới thay vào… ruồi nhặng bay lên rào rào! Trước cửa ốp Zin luôn có những chiếc xe du lịch bẹp rúm, của những kẻ say rượu người Nga đến đây ăn nhậu trong ốp Zin. Vừa đến nơi tôi đã thấy một cái xe La Da lao tới, cái xe mất một cánh cửa. Đó là lần đầu tiên tôi trông thấy một cái xe du lịch mác lada (mà ở Việt nam phải hàm thứ trưởng mới được đi) đã mất một cửa mà người ta vẫn đi. Tay lái xe người Nga đầu tóc bù xù rời khỏi xe, lên ốp Zin. Long tỉnh queo dắt tôi vô thang máy. Thang máy trật ních người lên, xuống. Người ta khuôn cả một bao gạo lớn vô, thang máy chạy rùng rùng vì quá tải, trên tường trong và ngoài thang dán kín các tờ “quảng cáo”, mỗi cái chỉ to bằng bề mặt vỏ bao thuốc lá, rao bán đủ các thứ trên đời từ quạt tai voi, nồi áp suất, đầu máy khâu cũ đến áo vét tông cũ, giầy da có lông bên trong cho mùa đông… bẩn thỉu nhem nhuốc như đi vô một cái chợ ở nông thôn nước ta. Long sẵn sàng lấy tay “chém” mạnh vào các cánh tay giơ lên bấm nút thang máy nếu trái ý cậu ta. Thái độ của Long rất “anh chị”. Cuối cùng thì chúng tôi vô một “gian hàng” bán bánh cuốn nóng. Tôi nhìn kỹ thì nó là một gian hộ như gia đình Khoa đang ở, nhưng chủ nhân thu lại một góc để nằm và chứa hàng hóa, còn lại là “nhà hàng”. Người ta biến cả cái ốp Zin 20 tầng này thành một “lâu đài” ăn uống có cơm, phở, xôi vò, bánh cuốn… Người ta còn mổ cả lợn trong cái ốp này nữa để nấu nướng (nên cái thùng rác ngoài cửa ốp mới đầy ruồi nhặng như thế) mặc dù ai cũng biết ở cái xứ rét thì rất hiếm ruồi nhặng như vậy. Rượu quốc lủi của Việt Nam ở đây có thể uống tràn cung mây nên thu hút đám bợm nhậu người Nga dưới thời Gooc-ba-chốp cấm rượu nên mới đến đông như thế. Phải công nhận ở xứ rét, được đĩa bánh cuốn nóng ăn với giò chả (cũng nóng) và ly rượu quốc lủi thì tỉnh người. Ăn xong tôi vô nhà vệ sinh thì suýt nữa phải vô bệnh viện vì tối om, tôi trượt chân đập cả trán vào bồn tắm, choáng váng đứng dậy, cố gắng tìm cái quẹt ga. Trong thứ ánh sáng lờ mờ, tôi không thể tưởng tượng nổi cái bồn to đùng ấy đang được ngâm đầy gạo nếp trong nước nóng. Nếu tôi ngã sấp mặt vào bồn thì dính bỏng là cái chắc. Quên cả đi vệ sinh, tôi kéo Long về ngay. Tôi kể lại câu chuyện trong buồng tắm, cậu ta nói tỉnh queo “anh chẳng hiểu gì cả” (câu này tôi nghe lần đầu từ cậu lái xe đoàn 12 ngày đi Lạng Sơn năm nào, bây giờ nó lại được tuôn ra từ Long). Cậu giải thích: người ta ngâm gạo nếp vô nước sôi thì khi đồ nó mau chín hơn. Nói xong lại đệm câu “anh chẳng hiều gì cả”!

Về đến nhà Long ở cách xa khu trung tâm Mát thì đã xế chiều. Căn hộ của gia đình Long ở lầu thứ 10, giống y chang căn hộ dành cho tôi và Kiên ở nhà khách Ban đối ngoại. Vợ Long tên là Minh, một phụ nữ đẹp đằm thắm và có ánh mắt hơi buồn. Chị Minh đã tốt nghiệp đại học trong nước và làm ăn ở Nga đã 8-9 năm. Tối hôm đó Long chui vào buồng tối in, tráng phim cả đêm. Có lẽ vợ chồng Khoa gọi Long là “con ma” vì thế. Anh ta để cho tôi ngủ ở một giường cá nhân, góc bên kia cũng là một giường cá nhân. Chị Minh ngồi làm việc trước cái máy khâu, lâu lâu điện thoại réo, tôi lại thấy chị cầm máy lên như cãi nhau với một người Nga ở đầu dây đằng kia… Tôi nằm trằn trọc mãi rồi vớ tay lấy chiếc máy ảnh chụp một kiểu chị Minh ngồi làm việc với cái máy khâu trong đêm khuya, bức hình này hiện tôi vẫn còn giữ, mỗi lần giở ra xem lại, hình dung ra căn phòng nhỏ trên lầu cao giữa Mát-xcơ-va lạnh lẽo mênh mông, có một đôi vợ chồng trẻ người Việt cặm cụi làm việc thâu đêm suốt sáng mà suy nghĩ về thân phận con người Việt Nam đi tha phương xứ người. Vậy mà nghe đâu vợ chồng chị cũng không khá được. Hai người dẫn nhau về nước. Cả hai đến thăm tôi tại Sài Gòn. Minh cho biết chị đã xin được vào làm ở Đài THVN, làm phim về du lịch. Tôi hỏi Minh: thằng Khải Hưng dạo này còn chửi bới chị em nữa không? Minh hoảng hốt, sao anh rành Đài truyền hình của chúng em thế? Rành Khải Hưng thế? Tôi cười rồi bảo: anh từ cái tổ con tò vò đó chui ra thì làm gì không biết trong tổ tò vò có gì! Có điều là sau này khi Minh đi làm phim về ĐBSCL, tổ làm phim của chị lại không đem máy quay phim đi theo (có lẽ là Đài đã hạch toán về máy móc như thế nào đó, tôi không hiểu). Minh nhờ tôi mượn máy của các tỉnh mà chị đến làm việc. Tôi gọi điện đến giám đốc các đài, nhận Minh là em. Chị còn cẩn thận nhắn tôi nhớ nói là “em vợ” (vì chị không cùng họ với tôi). Nhưng với các “anh Hai Nam Bộ” thì chuyện đó là chuyện nhỏ: em nào chẳng là em, “Khải nào chẳng là Khải”!

Viết đến đây tôi lại nhớ đến chuyện “em vợ”. Một lần tôi nói với ông Sáu Kiệt rằng, Bảy Nhị ở An Giang hắn thông minh lắm, vậy mà làm phó chủ tịch tỉnh đến 9 năm, lên được chủ tịch có 1-2 năm đã đến tuổi hưu uổng quá (người Bắc nói phí quá!). Ông Sáu nghe xong chẳng nói gì cả. Mấy tháng sau, tôi gặp ông trong một cuộc họp, ông vỗ vai tôi nói: thằng Bảy Nhị nó thông minh thật, tôi hỏi nó con cá tra với cá basa (đều là loài cá da trơn), vậy nó giống nhau ở chỗ nào? Nó nói ngay: giống như vợ với em vợ đó!

… Chợp mắt được ít phút thì trời sáng hẳn. Tôi nhìn ra ngoài thấy trời nắng ong ong, mừng quá reo lên: hôm nay trời ấm rồi. Vợ Long nói: anh không nhìn thấy các đám tuyết đã đóng băng hết à, trời nắng mà băng đóng hết mặt đất như thế kia thì còn lạnh gấp 10 lần trời có tuyết. Chị khuyên tôi nên ở nhà. Tôi đời nào chịu, nhất định đòi đi. Long đã chuẩn bị xong máy móc, chỉ còn có chờ tôi mặc quần áo. Lúc tôi đi giầy, thấy tôi đi đôi tất mỏng, Minh kêu lên: ở đây mà đi tất mỏng thế kia thì lạnh buốt chân không đi nổi đâu. Chị lục trong tủ, đưa tôi một đôi tất bằng len to xù. Giày thì nhỏ mà tất thì to nên tôi cố len chân sao cho vừa. Đến khi xuống đường, đi được một quãng thì tức chân không sao đi nổi. Tôi phải cởi tất ra để đi giày không. Quả như Minh nói, tôi thấy trời lạnh dến mức vừa nhức chân, vừa nhức đầu. Long lại đưa tôi lên đồi Lenin để thăm trường ĐH Lô-mô-nô-xốp nên càng lạnh. Từ trên đồi cao, tôi ngắm toàn cảnh Mát-xcơ-va… chìm trong giá buốt. Long còn đưa tôi đến sứ quán Việt Nam ở Liên Xô “cho biết”. Cuối cùng chúng tôi đến quảng trường Đỏ để chứng kiến một cuộc biểu tình. Đa số người biều tình là người già. Một ông râu dài đến rốn, đứng như trời trồng trong giá lạnh, với tấm biển có ghi dòng chữ (mà Long dịch cho tôi): Enxin là nước Nga! Lúc đó Gooc-ba-chốp đã mất uy tín vì đời sống dân Nga ngày càng khó khăn. Dân chúng đang ủng hộ Enxin. Dư luận về một sự tan rã liên bang Xô Viết lan rộng. Tôi đi trên đường phố, lên xe buýt, xuống tầu điện ngầm… thấy một không khí rất trầm uất. Người Nga nào mặt mũi cũng đăm chiêu, hình như trong đầu họ chứa chấp nung nấu, đang dồn nén một cái gì ghê gớm lắm. Không ai nói với ai một câu nào, không nhìn thấy một nụ cười nào ngoại trừ những nụ hôn say đắm của những cặp trai gái siết chặt lấy nhau dưới các ga tầu điện ngầm! Không khí xã hội oi bức như đêm trước của một ngày giông bão lớn hôm sau. Tôi học thuộc mấy câu tiếng Nga, đứng trên xe buýt nói lớn: tôi là nhà báo Việt Nam. Xin hỏi quý vị, Gooc-ba-chốp? Tất cả mọi người lắc đầu. Enxin? Tất cả mọi người gật đầu.

Chiều tối hôm đó Long đưa trả tôi về nhà Khoa để sáng hôm sau anh còn đi gấp một nước cộng hòa vùng Ban tích của Liên Xô cũ sẽ nổ ra một cuộc biểu tình lớn đòi giải tán liên bang. Long là phóng viên nhiếp ảnh xông xáo một cách kỳ lạ. Tôi đã chứng kiến anh chụp hình trong lần đón diễn viên Nhật Bản đóng vai Ô-sin (thủ vai Ô-sin lúc bé) ở sân bay Tân Sơn Nhất năm nào. Trong đám phóng viên chen chúc, anh nhẩy vào giữa và nằm ngửa người ra bấm máy lia lịa rồi sau đó ngã đè lên những người khác ở sau lưng mình giữa tiếng la ó…

Tôi kể lại những nơi đã đi với Long thì vợ chồng Khoa đều nói, ở Mát 5 năm rồi nhưng chúng tôi cũng chưa đặt chân đến ốp Zin, chưa đến những chỗ Long và tôi đi. Một cô nàng Việt đến nhà vợ chồng Khoa chơi, thấy tôi có hộ chiếu công vụ thì nhiệt tình rủ tôi đi Ba Lan. Cô nói có hộ chiếu công vụ thì đi lại dễ dàng lắm. Cô hứa sẽ mua vé tầu nằm một khoang riêng 2 người. Sang ba Lan cô sẽ thuê khách sạn. Vợ Khoa cho tôi biết, cô là giáo viên cấp 2 ở nhà và đã có một con gái đang học lớp 1. Gia đình túng bấn quá, cô sang đây chủ yếu buôn mỹ phẩm để kiếm chút vốn, cô rất muốn đi Ba Lan vì bên đó nhiều mỹ phẩm. Vợ Khoa bảo tôi “chả mấy khi có dịp” anh cứ đi đi. Đi quá hạn về cũng chẳng sao, có I-ri-na lo cho hết. Tôi trong bụng rất muốn đi vì tiện thể qua Pháp luôn, thăm ông chú ruột tôi là Lê Phú Hào đã định cư ở Paris từ 1980. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, tôi chỉ ngại một điều, nhà báo Bùi Tín vừa đi Pháp và không về hồi đầu năm, ầm ĩ cả nước. Nếu tôi đi quá hạn, mặc dù không có ý định ở lại, thì cũng bị phao tin đồn ầm ĩ làm ảnh hưởng đến anh Mai Thúc Long là người cho tôi đi Liên Xô chuyến này. Làm ảnh hưởng đến một người tốt với mình thì tôi không dám làm. Cuối cùng tôi đành từ chối nàng Y. Cô nàng có vẻ rất buồn. Phụ nữ Việt Nam qua làm hợp tác lao động ở các nước Âu châu, xa nhà, cô đơn, cuộc sống bên trời Âu lại hoàn toàn tự do nên việc quan hệ nam nữ coi như không ai bàn đến. Có bà cán bộ phụ nữ VN qua Liên Xô, thấy tối đến nam nữ thuê phòng ngủ chung, ban đầu bà tưởng là vợ chồng, sau biết không phải, bà la trời đất, làm trò cười cho mọi người… Tôi phải an ủi nàng Y bằng cách nói với nàng, tôi không mua gì về VN cả, vali tôi rộng dành chỗ mang đồ về cho cô.

Khi về cô gửi tôi một cái cặp da đẹp, nhiều đồ chơi và kẹo sô cô la cho cô con gái. Ôi tấm lòng các bà mẹ Việt nam, ở phương trời nào cũng ấm áp.

Sáng hôm sau, Ban đối ngoại đài Mát bố trí một phóng viên nam lái xe cho tôi và Kiên đi thăm các địa điểm đáng phải thăm ở Mat-xcơ-va, trong đó có tượng đài Lê-nin và tượng đài Ga-ga-rin- phi công vũ trụ đầu tiên của thế giới. Lúc về, Irina hỏi tôi: Các anh thấy Mat-xcơ-va thế nào? Tôi bảo Irina: Liên xô khủng hoảng là tất yếu. Cô hỏi: Tại sao? Tôi rút bài thơ ngắn mới làm lúc xem tượng Lê-nin ra, đưa cho Irina coi:

TƯỢNG

Dẫm lên khối phù điêu lúc nhúc nhân dân
Tượng lê-nin hoành tráng
Nghệ thuật thế này ư?
Sao khinh bỉ con người?

Đọc xong Irina hỏi tôi: Còn gì nữa không anh Khải? Tôi nói tiếp: Tượng Ga-ga-rin thì là hình tượng ông này đang bay vút lên trời, đạp dưới chân ông là quả địa cầu thế giới nhỏ xíu. Cả nhân loại này như bị người Nga đạp dưới chân mình. Tôi thấy nó hãnh tiến, khoa trương một cách vô lối. Cái đáng buồn là chính các nghệ sỹ Nga, bộ phận tinh hoa nhất của dân tộc Nga lại suy nghĩ như thế thì còn gì để nói!!! Irina nghe nhưng không nói gì cả. Khi ăn trưa, tôi hỏi thẳng cô một câu chuyện khác: Khi ở Việt nam, anh được người ta nói là em chống Việt nam. Vậy Irina đã “chống Việt Nam” thế nào, nói thử anh nghe? Cô bảo tôi: Anh Khải cứ ăn trưa cho ngon miệng đi, rồi em sẽ trả lời anh…

Hôm sau Irina đưa tặng tôi tập san “Lửa ấm”, một tập san xuất bản bằng tiếng Việt, Ban Việt ngữ in ấn lấy nên giấy đen không được đẹp lắm. Đối tượng của tập san là các lao động Việt Nam đang làm việc ở Liên Xô. Bài vở do các bạn Nga viết bằng tiếng Việt. Tôi thấy trong tập san này có nhiều hình chụp minh họa cho bài viết của Dương Minh Long và bài thơ “Nhìn từ xa… Tổ Quốc” nổi tiếng của Nguyễn Duy. Sau này về nước tôi có đưa Nguyễn Duy xem tập san này, anh rất thích thú vì đó là bài thơ của anh lần đầu tiên được in trên báo ngay sau khi anh sáng tác trong chuyến đi Liên Xô năm đó mà anh cũng không hay. Bên cạnh bài thơ có hình Nguyễn Duy do Dương Minh Long chụp. Theo Duy đó là tấm hình mà anh rất thích.

Đưa tập san “Lửa Ấm” tặng tôi, đó là Irina muốn trả lời câu hỏi của tôi, vì trong tập san đó có bài tường thuật của chị về cuộc biểu tình của học sinh trường trung học số 45 và các cụ phụ lão khu phố nơi dự định khởi công dựng tượng đài Hồ Chí Minh vào dịp sinh nhật của Người 19 tháng 5. Irina nói: Anh đọc bài em viết thì sẽ rõ. Chị nói thêm: Quyết định xây dựng tượng đài HCM của thành ủy Mat-xcơ-va cách đây đã 10 năm. Đó là thời kỳ khoa trương, nay tình hình đã đổi khác. Hơn nữa muốn xây dựng tượng đài Bác Hồ ở đó thì phải chặt đi cả một rừng cây, không đúng với lời dặn phải trồng cây của Bác, lại tốn một khoản tiền bằng xây một cao ốc 18 tầng trong lúc Mat-xcơ-va đang thiếu nhà ở cho nhân dân và cán bộ, Irina dừng lại, ánh mắt xanh biếc của chị nhìn… xa xăm. Bất ngờ chị nói một câu mà khó có nhà văn nào nói được, khó có ai hiểu chủ tịch HCM như thế, ít nhất là sự đồng cảm của tôi với lời của chị. Chị nói: Kỷ niệm ngày sinh nhật của Bác Hồ ư? Đợi đến ngày 19.5 này, hãy cùng dắt tay nhau vào rừng Nga mà nghe chim hót !

Vậy là tôi đã rõ. Hễ ai nghĩ khác những nhà lãnh đạo Việt Nam thì là “chống Việt Nam”! Chúng ta đã sống ngoài nhân loại đã lâu quá rồi, kể từ khi những người cộng sản dẫn dắt dân tộc này “đi từ thảm họa này đến thảm họa khác” ( Phạm Đình Trọng). Tự dưng lúc đó tôi thấy buồn vô hạn. Những người như Irina là bạn tốt của nhân dân Việt Nam. Là cái cầu nối giữa hai dân tộc. Chị đã bỏ cả đời để học tiếng Việt, nói tiếng Việt giỏi đến mức người Việt phải ngạc nhiên. Có lần tôi than: Việt Nam vì theo Liên Xô nên bây giờ rất khổ. Irina ngắt lời tôi: Thì nước Nga chúng tôi cũng đang rên siết đây này! Chao ôi, một người Nga chính cống mà biết dung từ “rên siết” để mô tả cái tình thế của dân tộc mình lúc này thì một người Việt bình thường cũng chưa chắc chọn được từ ngữ đắt thế. Phải yêu Việt Nam lắm chị mới gian khổ để học tiếng Việt đến trình độ đó. Tôi có cảm giác chị đã đánh cược cả cuộc đời mình vào tiếng Việt. Một lần tôi khen: Irina nói tiếng Việt giỏi quá. Chị cười nói: Thông cảm đi anh, “cần câu cơm mà” ! Chị được tri thức Nga mệnh danh là nhà “Đông phương học” ở Liên Xô. Chị đã 17 lần sang Việt Nam đa số là do bạn nghe đài Mát-xcơ-va tiếng Việt ở Chợ lớn mời vì mê giọng đọc của chị và anh Trần Phương giọng Nam bộ trên đài Mát. Chị am hiểu văn hóa Việt Nam và tình hình chính trị ở Việt Nam. Chị nó với tôi, Việt Nam có đội ngũ tri thức sáng giá. Lấy đâu ra một tri thức như Nguyễn Khắc Viện ở các nước Asean? Lúc đó, ông Bùi Tín mới qua Pháp, đang phát biểu trên các đài phương Tây kiến nghị Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh thay đổi nhận thức, thực hiện những cải cách triệt để về chính trị… Irina bảo với tôi: Ông Bùi Tín ngây thơ quá, ai mà khuyên các nhà lãnh đạo cộng sản thay đổi được. Phát biểu như ông Nguyễn Khắc Viện (NKV) còn dễ nghe hơn. Lúc đó ông NKV cũng đang bị các nhà lãnh đạo Việt Nam phê phán rất nặng, tưởng là đi tù đến nơi. Trước lúc tôi đi Liên Xô, tôi được mời dự một cuộc họp giao ban của Đài, Tổng giám đốc Phan Quang còn căn dặn: Việc phê phán trên đài thì giữa Dương Thu Hương và NKV ta phải cân nhắc không thể đánh đồng được (!)

Irina lại là người có uy tín trong giới tri thức Nga khi bàn đến vấn đề Việt Nam. Dương Minh Long nói với tôi: Chị Irina ghê gớm lắm, đến chủ nhiệm Ủy ban phát thanh truyền hình toàn Liên Xô phải nể nang chị. Khi ông này nhờ chị phiên dịch cho ông trong dịp tiếp bà Nguyễn Thị Bình sang Liên Xô công tác. Chị ra giá ngay phải mời ca sỹ Trần Tiến, bạn của chị sang hát trên truyền hình Liên Xô chị mới đồng ý phiên dịch giúp. Ông chủ nhiệm phải chịu. Vì thế Trần Tiến mới được qua Liên Xô. Giấy mời do đích thân Chủ nhiệm UBPT và TH Liên Xô ký. Chương trình ca nhạc trên Đài truyền hình toàn Liên bang đã đăng báo trước cả tháng vậy mà phải chen vào 6 phút để Trần Tiến hát. Long hỏi tôi: Anh thấy chị Irina có ghê gớm không?

Một người như Irina là một bạn tốt của Việt Nam, vậy mà đùng một cái, chị trở thành kẻ “chống Việt Nam”. Mà chị đã chống Việt Nam thật sau khi chúng ta tuyên bố “Irina chống Việt Nam”. Đài phát thanh cá nhân mang tên Radio Irina đã ra đời sau khi Liên Xô tan rã. Tất cả các buổi phát thanh của Đài này buộc Đài TNVN phải thu băng lại, và gỡ băng ra in thành văn bản đưa cho lãnh đạo đọc để tìm cách đối phó. Bài phát thanh mang tên “bài học Dương Thu Hương” đã làm lãnh đạo Việt Nam đau đầu. Tôi được một vị lãnh đạo của Đài đưa cho đọc bài này và nhớ như in từng đoạn văn bài viết khi nói về ĐCSVN và đội ngũ trí thức Việt Nam. Nói về Đảng chị viết: Đảng cộng sản VN có một vốn chính trị giầu có là hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ nhưng với chuyên chính vô sản và tập trung dân chủ, Đảng đã mau chóng tiêu hết cái vốn đó. Về đội ngũ tri thức, chị viết: Đảng không mong muốn gì hơn là có một đội ngũ trí thức thông minh, béo tốt và… dễ bảo! Vì thế cứ mỗi lần tôi thấy có hội nghị gì quan trọng tập trung nhiều tri thức, tôi thấy các vị GS, tiến sỹ, viện trưởng này, vụ trưởng kia… com lê cà vạt sang trọng, nhưng đi rón rén, nói thì thào trước mặt thủ tướng thì đúng là: “Thông minh, béo tốt và dễ bảo”! Radio Irina gây khó khăn cho Việt Nam đến mức khi phó thủ tướng Nga sang thăm và làm việc với Việt nam, trong chương trình nghị sự ký kết giữa thủ tướng Phan Văn Khải và phó thủ tướng Nga có riêng một mục là Nga phải dẹp bỏ Radio Irina!

Chiều hôm đó Irina mời tôi và Trần Kiên phát biểu cảm tưởng trên Đài phát thanh đối ngoại Mát-xcơ-va. Trưởng đoàn Kiên được mời vào phòng thu trước. Kiên yêu cầu tôi phát biểu trước để anh còn chuẩn bị. Tôi nghe theo lệnh của trưởng đoàn. Phòng thu bằng pha lê, ngồi trong nhìn rõ bên ngoài. Irina hỏi: Xin nhà báo Phú Khải cho biết cảm tưởng lần đầu tiên đến thăm thủ đô Mát-xcơ-va? Trả lời: Thưa các bạn thính giả Đài Mát-xcơ-va, thưa các bạn Nga, ở nước Việt Nam tôi có câu chuyện cổ tích thế này: Một bác nông dân bị lạc vào rừng, bác ta gặp một con hổ. Con hổ định ăn thịt bác. Bác nông dân bình tĩnh nói: sau khi ăn thịt tôi, hổ phải phát biểu cảm tưởng!!! Thế là hổ cúp đuôi chạy mất (ở ngoài phòng thu tôi thấy mọi người ngồi nghe há mồm cười, vỗ tay). Tôi bình tĩnh trả lời tiếp: Vậy là ở nước tôi, phát biểu cảm tưởng là điều mà hổ còn phải sợ, nhưng tôi hôm nay cứ liều phát biểu một vài cảm nhận của mình khi lần đầu tiên được may mắn đến thăm thủ đô của Liên Xô vĩ đại. Tôi đi từ Hà Nội của hãng Aeroflot có hàng trăm ghế ngồi, các tiếp viên của hãng đẹp như sao trên trời, sang đây nhìn thấy cái gì cũng to lớn, nhà cao, tầu điện ngầm thật là một công trình kỳ vĩ. Các bạn Nga đón tiếp chúng tôi rất nhiệt tình. Tôi đã thấy tận mắt thành tựu vĩ đại của Liên Xô. Nhưng tôi cũng thấy các bạn tôi – cả người Việt lẫn người Nga đều xếp vào vali từ cái quần lót phụ nữ để sang Mát-xcơ-va bán. Vậy là Liên Xô chỉ chú ý đến cái vĩ mô, bỏ quên mất cái vi mô (ngoài phòng thu mọi người gật gù tán đồng). Tôi lại mạnh dạn nói tiếp: Tôi tin là công cuộc cải tổ ở Liên Xô hiện nay là sự điều chỉnh cái mâu thuẫn đó (thấy vỗ tay bên ngoài). Tôi nói tiếp: Tôi tin là, những nguyên tắc Lênin nít của CNXH sẽ được phục hồi từ công cuộc cải tổ này (bên ngoài lắc đầu, có người nhún vai tỏ thái độ chê bai, có người còn xua tay). Hoảng quá, nhưng tôi vẫn bình bĩnh “cảm ơn và chào thính giả nghe đài”…

Ra khỏi phòng thu tôi phải chạy vô nhà vệ sinh để hút thuốc cho giảm căng thẳng. Vậy là tôi đã hiểu, người Nga biết rõ không thể cải tổ được xã hội Xô Viết mà cái xã hội ấy chỉ có tan rã thôi. Tôi còn ngây thơ quá nên bị họ cười! Ở Đài phát thanh đối ngoại Mát-xcơ-va kỷ luật nghiêm lắm. Hút thuốc phải vô phòng vệ sinh, đứng hút bên cạnh những người đang tiểu tiện. Thế mà nhà vệ sinh mịt mù khói thuốc. Một bạn người Nga đã lớn tuổi nói với tôi: Bỏ thuốc lá có gì khó đâu, tôi đã bỏ ba trăm lần rồi!

Hút xong điếu thuốc, tôi quay vào thì Trần Kiên cũng vừa phát biểu thu thanh xong. Irina đưa tôi và Kiên ký vào biên nhận để mỗi người nhận một bao thơ nhuận bút. Thì ra, đây là thiện ý của các bạn Ban Tiếng Việt, mời chúng tôi phát biểu để có cớ chi tiền cho chúng tôi. Tôi cảm ơn Irina và mở phong bì thơ ra coi, có 25 rúp trong đó. Tôi và Kiên đều mừng. Bài của tôi được phát sóng ngay tối hôm đó. Khoa bảo với tôi: Bài của anh được phát, bài của anh Kiên không được phát. Tôi hỏi lý do vì sao, Khoa nói: Irina bảo, anh Kiên quên không chào thính giả nên bài không phát!

Không hiểu Trần Kiên đi với Irina “tìm hiểu” được những gỉ ở Mát-xcơ-va? Còn tôi thì hết lang thang với Dương Minh Long rồi lại theo vợ Khoa đi xếp hàng mua đồ ở chợ Nông trường. Đứng xếp hàng tôi thấy rất buồn. Những người đàn ông Nga cao lớn phải xếp hàng rồng rắn chỉ để mỗi người được mua một cục pin nhỏ xíu cho cái đồng hồ điện tử mà nước ngoài mới được nhập vào Liên Xô. Ôi, một đất nước làm ra cả tên lửa vượt đại dương, đất nước có người bay lên vũ trụ đầu tiên mà cuộc sống đời thường cho nhân dân thì lại thua cả cái anh Thái Lan, Philppines thì giải thích thế nào đây? Hay là bị Mỹ nó lừa trong cuộc chạy đua vũ trang mà cái tượng Gagarin kiêu ngạo kia là một bằng chứng? Người Nga xếp hàng yên lặng và trật tự. Còn đám dân Việt đầu đen, đồng bào của tôi, người thì thấp bé, lùng thùng trong chiếc áo Na-tô cười nói bô bô huyên náo cả một khu chợ. Người ta nhìn những cái đầu đen đang huyên náo kia như nhìn những người từ hành tinh khác vừa mới đến! Một bà già vừa mới mua được ký dưa chuột muối còn cầm trên tay loay hoay chưa biết xếp vào cái giỏ nào dưới chân, tôi vội nâng cái túi của bà lên, mở rộng miệng túi để bà bỏ dưa chuột vào. Bà nhìn tôi cảm ơn rồi hỏi bằng một từ: Corée? (người Triều Tiên-Hàn Quốc). Thật buồn!

Mua được hàng, buổi tối chúng tôi kéo xuống tầng 11 nhà vợ chồng Kiên đang ở để liên hoan nhẹ. Một anh chàng người Nga cao to, bạn hàng của vợ Kiên cũng đang ở đó. Vợ Kiên cho biết anh ta vừa đi khám bệnh về, bị viêm phế quản. Vậy mà khi tôi mời anh ly rượu Lúa Mới, anh làm hết cái ly cối trong một hơi. Uống xong, anh lấy tay áo chùi ria mép, rồi ba hoa. Tôi nghe được câu ba hoa ấy qua lời dịch của vợ Kiên: Nước nga của chúng tao luôn là một cái làng lớn đầy hủ tục! (Người Nga thật thà như một tảng đá, không che dấu cái sức ỳ của chính mình).

Sáng hôm sau, Khoa đưa tôi đến Đài từ sớm. Đây là ngày thứ 10, ngày cuối cùng của chuyến đi theo quyết định đã ký. Tôi gặp Irina ngay ở phòng thay quần áo ở tầng trệt của ngôi nhà lớn 7 tầng lầu này. Irina hỏi tôi rất nghiêm túc: Thế anh Khải định không tìm hiểu gì thật trong chuyến đi này à? Tôi trả lời nghiêm túc: Có định tìm hiểu, nhưng khó lắm. Chị tiếp lời: Thì anh cứ nói đi. Tôi trình bầy rằng, thì là tôi muốn gặp một tri thức hàng đầu của nước Nga để tìm hiểu về công cuộc cải tổ đang diễn ra đầy kịch tính hiện nay ở Liên Xô, mà người phiên dịch phải là Irina! Tôi không ngờ chị cười và nói ngay: dễ thôi, đi ngay bây giờ. Thế là Irina kéo tôi ra cửa, đi luôn. Rất may là chúng tôi chưa kịp gửi quần áo, còn mặc nguyên bộ đồ đi trong băng tuyết….

Lên xe điện rồi, Irina bảo vói tôi: Em đưa anh đi gặp viện sỹ, giáo sư X, người đang là trưởng Ban cải cách Hiến pháp Liên Xô. Tôi không ngờ Irina quen biết ghê gớm đến thế. Tôi mừng thầm là chuyến đi này đã đạt được mục đích ở ngày cuối cùng. Tôi chào ông viện sỹ có vẻ bề ngoài rất quắc thước này bằng tiếng Pháp. Ông ta đứng dậy bắt tay tôi rồi lại ngồi xuống cái ghế bành to đùng. Irina giới thiệu tôi một hồi với ngài viện sỹ mà tôi không biết nàng đã nói những gì. Sau đó nàng giục tôi: Anh hỏi đi. Tôi hỏi: Thưa ông viện sỹ, chúng tôi từng đọc sách thấy Lê Nin nói, nền dân chủ XHCN ở Liên Xô gấp triệu lần nền dân chủ ở những nước tư bản chủ nghĩa. Vậy bây giờ Liên Xô cải cách hiến pháp là dựa trên nguyên tắc, nguyên lý nào? Irina dịch và ngài viện sỹ đã trả lời tôi qua lời dịch của chị: Chúng tôi đang nghiên cứu Montesquieur… Tôi nghe xong câu ấy thì đứng lên, cúi đầu rất thấp chào ngài viện sỹ và nói với Irina: Thôi, thế là đủ rồi. Chúng ta về thôi…

Ra đến cửa, tôi bảo Irina: vậy là quay lại TK 18 để thực hiện tam quyền phân lập. Chúng ta đã đi lộn đường hơn 2 thế kỷ rồi ! Irina không nói gì cả. Nhưng nàng lại đưa tôi đi tiếp. Đến một ngôi nhà cao tầng ở một phố không có vẻ gì là sang trọng, nàng bảo tôi: Em đưa anh đi gặp tổng bí thư của một đảng đối lập, tầng lầu mà ta sắp lên là chính đảng cộng sản thuê cho đảng đối lập này làm trụ sở. Vậy là tôi lại hiểu thêm một “kênh” chính trị nữa ở Liên Xô lúc đó.

Tổng bí thư đảng đối lập là một người đàn ông trung niên tầm thước, gương mặt trông hiền hòa nhưng có đôi mắt rất sáng. Trong cuộc trao đổi với ông, tôi nhớ không bao giờ quên hai câu nói đầy ấn tượng của ông. Câu thứ nhất nói về Liên Xô: Liên Xô của chúng tôi là một cái chiến hạm mắc cạn còn Việt Nam là một chiếc thuyền thúng không biết nó trôi dạt đi đâu (!) Câu thứ hai nói về xã hội Xô Viết: Thằng I-van nó không có gì cả thì nó không thể nên người được. Nó phải có gia sản thì mới nên người! (I-van là cách nói tượng trương chỉ một người đàn ông Nga; như người Việt nói anh Ất, anh Giáp). Ra về, khi chỉ có tôi và Irina trong thang máy, nàng lấy tay gỡ cái huy hiệu biểu tượng của đảng đối lập mà ông TBT vừa gắn lên ngực áo tôi để làm kỷ niệm ra, gắn lên áo của mình, mồm nói: Em tịch thu cái huy hiệu này của anh !

Hôm nay, khi tôi đang viết những dòng chữ này, tức là hơn 20 năm sau khi Liên Xô lúc đó phải đọc lại Montesquieur thì Việt Nam đang trưng cầu ý kiến nhân dân về sửa đổi Hiến pháp. Ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng vẫn kiên quyết bác bỏ “tam quyền phân lập”! Tôi bỗng nhớ đến câu nói nổi tiếng của Lê Nin: “Nước Nga luôn đội trên đầu mình cái mũ mà Châu Âu đã vứt bỏ”. Vậy mà Việt Nam vẫn quyết đội trên đầu mình cái mũ mà cả loài người tiến bộ đã vứt bỏ. Cái mũ độc đảng! Cũng hơn 20 năm sau, cái chiến hạm Liên Xô đã thoát cảnh mắc cạn, nhưng cái chiến hạm ấy do anh chàng KGB Putin cầm lái chưa biết nó sẽ đi về đâu… Còn con thuyền thúng Việt Nam thì đang trôi dạt vào một vùng sóng to gió lớn. Chắc chắn nó sẽ bị lật úp nếu những người trên con thuyền thúng đó không dám can đảm nhẩy xuống nước mà bơi vào bờ, cứ khư khư ôm lấy con thuyền đó.

… Trưa hôm đó Irina đãi tôi ở căn tin của Đài. Nàng nói: cái gì ăn không thấy ngon thì thôi ngay nhé. Tôi thấy nàng gọi nhiều món lắm, nhưng ăn chẳng thấy thứ gì ngon cả. Có thứ chỉ là khoai tây nghiền nát pha thêm chút bơ vào, ăn nhạt nhẽo vô cùng. Khoa đến chỗ chúng tôi ngồi ăn. Anh nghé vào tai tôi nói đủ nghe… Thì ra chúng tôi sẽ phải về nhà sớm để chiều tối hôm ấy Irina đến nhà anh liên hoan, tiễn chúng tôi về nước trưa ngày hôm sau.

Vợ chồng Khoa phấn khởi lắm. Anh nói: Đây là lần đầu tiên trưởng ban Việt ngữ Irina đến thăm và ăn tối tại nhà riêng một cán bộ Việt Nam tại chung cư dành cho các chuyên gia nước ngoài. Anh còn biểu dương tôi: nhờ có anh mà Irina mới tới đó. Đây là vinh dự cho vợ chồng tôi. Anh cũng mời cả Dương Minh Long, anh Hùng (cũng là phát thanh viên đã hết hạn hợp đồng làm việc đang chờ vé máy bay về nước) và một người bạn của anh đang làm luận án tiến sỹ ở trường Đảng cao cấp Liên Xô… và dĩ nhiên có cả Trần Kiên.

Tôi thấy vợ Khoa lấy ra một cái rìu, đúng là rìu bổ củi bên ta, nhưng cán rùi sơn màu đỏ rất đẹp. Tôi không biết cái rìu ấy dùng vào việc gì? Một lúc sau vợ Khoa bật nắp tủ cấp đông, khuân ra từng tảng nước đá và sai chồng bổ nước đá để lấy ra những cái đùi gà lớn được dự trữ trong tủ… không biết từ bao giờ! Khoa giải thích: đây là gà công nghiệp Mỹ mà Liên Xô phải nhập về để cứu nguy cho tình trạng thực phẩm khan hiếm chưa từng có ở Mát-xcơ-va! Vợ chồng Khoa dùng những cái đùi gà ấy để làm nem, món ăn truyền thống Việt Nam mà các bạn Nga rất thích.

Xế chiều thì mọi người đã đến đông đủ. Dương Minh Long bảo tôi để cho Kiên về trước, anh cố ở đây đến tháng 5, mùa hè các cây khô kia đâm chồi ra lộc. Con gái Nga sau những tháng mùa đông, hè đến các cô cởi tung ra , mặc váy ngắn khoe các cặp đùi non… thì lúc đó mới đúng là Mát-xcơ-va! Tôi biết thế nhưng đành chịu. Dương Minh Long đã bán hộ tôi cái máy chụp hình của Nhật đã cũ nhưng dân Nga lại rất thích, để mua hộ tôi cái máy chụp hình Zennit mới toanh to đùng mà tôi cũng rất thích. Đúng 6h chiều thì Irina tới. Nàng ăn mặc rất đẹp, môi son má phấn đàng hoàng. Thằng bé con Khoa nhẩy ra trước đón khách. Irina reo lên: Ối giời ơi! Nó lớn nhanh quá! Tôi đảm bảo 100% nếu nghe câu nói này mà không nhìn thấy người nói thì người ta sẽ nghĩ rằng đó là một phụ nữ Hà Nội (vì không phải là “ối trời ơi”, mà là “ối giời ơi” ).

Chúng tôi đã ngồi xuống sàn để ăn nhậu như ở Việt nam và Irina rất thuần thục với lối ăn ngồi dưới chiếu trải trên nền nhà. Nàng thu váy vào lòng và ngồi xếp bằng. Khi mỏi lại đổi tư thế ngồi nghiêng quẹo chân sang một bên rồi cầm đũa gắp nem chấm nước mắm pha ăn ngon lành. Đôi lúc còn đưa cả bát lên húp nước chấm còn dư trong bát, xuýt xoa khen ngon! Một phụ nữ Nga như thế thì làm sao mà “chống Việt Nam” được? Sứ quán của ta, cán bộ chỉ quen đi buôn nồi áp suất, quạt tai voi nên đã báo cáo về Việt Nam là “Irina chống VN”.

9h tối trước khi ra về, Irina còn dặn kỹ chúng tôi là không đem thuốc tây trong hành lý về nước. Đó là thứ quốc cấm ở Liên Xô. Nếu đem trong valy, hải quan khám thấy sẽ phạt rất nặng, có khi còn làm nhỡ cả chuyến bay (lúc đó mua vé rất khó, phát thanh viên Hùng nằm chờ cả tháng nay chưa có vé). Tôi và Khoa phải mặc quần áo rồi tiễn chân Irina ra dường vẫy taxi (cách chung cư cả mấy trăm mét). Ngoài trời là âm 10 độ. Tôi vừa đi vừa nhẩy lên cho khỏi rét. Thấy thế, Irina nói: Napoléon Bonaparte xưa kia thua trận cũng vì cái rét của nước Nga đấy các nhà báo ạ! Khoa đã ôm hôn Irina để chia tay nàng.

Đêm hôm ấy chúng tôi thức rất khuya để đóng hàng. Khoa lấy thang để trèo lên cái kho khui ra biết bao nhiêu thứ. Lúc này tôi mới quan sát kỹ. Căn hộ tuy nhỏ nhưng được các nhà kiến trúc thiết kế rất hợp lý. Cái hành lang chạy dọc chia căn hộ ra làm từng khu vực. Một bên là phòng khách, phòng ngủ. Một bên là nhà vệ sinh, nhà bếp…. thì cái trần trên hành lang được hạ thấp sát với đầu người, trên đó trở thành một cái kho chạy dài như cái toa tầu để chứa đồ.Vì theo quy luật, không ai dừng lại ở hành lang lâu, đó chỉ là lối đi nên trần rất thấp. Trong khi các phòng khác, trần nhà rất cao, không gây ức chế cho người luôn nằm ngồi ở đó. Các nhà kiến trúc Việt Nam di Liên Xô như đi chợ sao họ chẳng học được cách xây các chung cư kiểu đó!

Ngày thường căn hộ của Khoa rất gọn gàng, vậy mà bây giờ anh khui từ trên cái “kho” đó ra bao nhiêu là thứ. Lúc đi vợ tôi chỉ dặn mua một bộ sấy tóc Liên Xô thì Khoa đã cho tôi rồi, vì thế toàn bộ chiếc valy của tôi để dành cho Khoa xếp đồ gửi về Hà Nội. Anh bạn đang làm luận văn tiến sỹ về Đảng của Khoa vừa xếp đồ vừa tuyên bố: trình độ tiến sỹ thì xếp đồ cũng trình độ tiến sỹ. Mà anh ta xếp hay thật. Bất cứ một kẽ hở nào trong valy cũng được nhét vào đó một thứ gì đó có khối lượng vừa vặn khoảng trống ấy. Cái valy của tôi nặng còn hơn cái cùm. Xếp xong đồ thì trời đã gần sáng. Đêm cuối cùng chúng tôi thức uống trà đặc để chia tay nhau. Tôi nhớ mãi câu tâm sự của anh chàng đang thi tiến sỹ: một tháng tôi ở trường Đảng cao cấp ở đây thì được ăn một lượng thịt bằng ở nhà được ăn trong một năm. Ba năm tôi ở đây thì bằng cả đời ở Việt Nam! Chỉ thương vợ con ở nhà khổ quá! (nếu Nam Cao sống lại thì ông sẽ viết được cuốn tiểu thuyết hay hơn cuốn “Sống mòn” về anh bạn tiến sỹ tương lai, bạn thân của Khoa).

… Sân bay quốc tế Mát hỗn loạn như một cái chợ. Các mụ đi buôn lậu từ Bun, từ Ba Lan sang Nga sẵn sàng trèo lên quầy bán vé, các hàng rào bằng ống sắt để người xếp hàng đứng ở giữa chờ vào phòng làm thủ tục đi máy bay… Các mụ này bước cả qua đầu những người đang xếp hàng ở dưới… vô tư! Irina không đưa chúng tôi ra sân bay được. Một bạn nam trong Ban Tiếng Việt lái xe và cầm giấy tờ, vé máy bay của chúng tôi đi làm mọi thủ tục ở sân bay. Anh ta chờ cho chúng tôi vào lọt phòng đợi lên máy bay rồi mới dám quay về. Vậy mà suýt nữa phải ở lại vì Kiên có đem theo một gói to thuốc kháng sinh của Liên Xô sản xuất trong valy của mình về Việt Nam. May quá, chỉ bị tịch thu không bị giữ người.

Irina không tiễn chúng tôi được. nàng gửi tôi một lá thư chữ rất đẹp. Tôi còn giữ lá thư này đến hôm nay để làm kỷ niệm. Nguyên văn: “Anh Khải ạ! Em nhờ anh chuyển mấy thư này như anh đã hứa, nhưng em không biết sau này có cách nào cảm tạ anh về chuyện đó? Chắc là em phải truyền cho con cháu xây đền thờ để thờ anh bao đời sau. Đúng không anh? Còn em chúc anh đi đường may mắn, vô sự, cái gì dở thì cố quên đi ngay, anh hứa vói em đi. Em xin gửi anh mấy cái hôn ly biệt và nhớ. Ký tên Irina.” Một lá thư khác được dán kín. Nàng gửi cho nữ nhà văn Dương Thu Hương, có địa chỉ ở đường Ngô Thời Nhậm Hà Nội. Nhờ tôi đem về đưa tận tay cho Hương, như lời anh bạn Nga nói lại lúc trao thư.

thủ bút của Irina – nguồn ảnh: tác giả
Biểu tình ở Matxcơva tháng 3/1991 – ảnh: tác giả

Thật may cho tôi, khi tôi đến phố Ngô Thì Nhậm trao thư cho chị Hương ngày hôm trước thì hôm sau anh Hà Sỹ Phu – tức Nguyễn Xuân Tụ – đến thăm mẹ chị Hương bị ốm giữa lúc chị đang bị công an khám nhà. Anh Hà Sỹ Phu bị câu lưu 10 ngày để hỏi cung. Sau này chính anh nói với tôi, tay sĩ quan an ninh hỏi cung anh là Lê Hoài Nguyên. Tay này nói với anh là, tôi làm việc với anh là đỡ cho anh, nếu không phải là tôi, anh còn mệt mỏi nhiều hơn. Hà Sỹ Phu còn khen Lê Hoài Nguyên sau này có viết lại vụ án “nhân văn giai phẩm” khá trung thực và anh còn khen Lê Hoài Nguyên còn làm thơ nữa. Anh than: Thật là những người anh em máu đỏ da vàng với nhau mà vì những chuyện chẳng đi đến đâu mà có thời gian phải làm khó cho nhau. Cuối cùng nghĩ lại cả đôi bên đều thấy rất buồn! Anh Hà Sỹ Phu nói thế là thực lòng. Tôi biết anh từ năm 1988 khi anh viết “Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ ”. Tôi đã lên Đà lạt thăm anh năm đó. Hai anh em nói chuyện với nhau suốt ngày. Tính anh hiền hậu, dễ thương, dễ mến. Tôi chụp cho anh tấm hình ngồi bên cửa sổ, lúc đó râu tóc còn đen láy. Vậy mà bây giờ (2013) râu tóc đã bạc trắng. Tấm hình đó anh vẫn giữ, thỉnh thoảng còn đem khoe với bạn bè.

… Khoản tiền 25 rúp Ban Tiếng Việt trả nhuận bút cho tôi, khi về đến Tasken, tôi mua 10 rúp cam đựng trong một cái giỏ to đem về Hà Nội làm quà đi Liên Xô, ai ăn cũng khen ngon. Nhà lý luận nổi tiếng Nguyễn Kiến Giang (người mà bác sỹ Nguyễn Khắc Viện gọi là “nhà Xô Viết học”) khi giới thiệu với tôi lần đầu gặp nhau, nghe được bài phát biểu cảm tưởng của tôi trên Đài phát thanh đối ngoại Liên Xô đã khen là “được”! Lúc đó trí thức Việt Nam, những người quan tâm đến thời cuộc đều nghe đài Mát-xcơ-va tiếng Việt. Về đến Mỹ Tho, anh Kim Tinh phó tổng biên tập báo Ấp Bắc Tiền Giang gặp tôi cũng nói là có nghe được bài đó. Duy chỉ có anh Hữu Thọ báo Nhân Dân, khi tôi đến thăm bạn bè ở báo, anh có lời khuyên tôi. Anh nói đại ý là anh vừa đi Bắc Triều Tiên cùng với Kim Hạnh TBT báo Tuổi Trẻ. Kim Hạnh về viết bài trên Tuổi Trẻ phê phán Bắc Triều Tiên là một quốc gia bí mật, dân làm nhà phải quay mặt vào phía trong… Anh cũng thấy như thế , nhưng người ta là nước có quan hệ ngoại giao với mình nên sứ quán họ vừa có công hàm phản đối với Bộ Ngoại Giao ta (về bài báo đó). Tôi mới đi Liên Xô về, đừng phê phán gì Gooc-ba-chop cả, vì người ta là nguyên thủ quốc gia, phê Gooc-ba-chop thì không có lợi về ngoại giao với ta. Anh Hữu Thọ còn bảo tôi, cậu đã viết cho báo Nhân Dân nhiều rồi, nếu thời thế thay đổi, có viết cái gì cũng không ai đăng cho cậu đâu!

Như vậy là tôi và Trần Kiên đã “kết thúc tốt đẹp”chuyến đi “công tác” 10 ngày tại Liên Xô. Nếu có ai hỏi tôi, anh đã thu được cái “khôn” nào trong 10 “ngày đàng” đi xa đó như ông bà ta đã nói “đi một ngày đàng học một sàng khôn” thì tôi xin thưa, tôi đã ngộ ra hai điều. Một là, Liên Xô không thể cải tổ được mà nhất định sẽ sụp đổ, vì chính người Liên Xô đã nhìn ra điều đó. Các bạn Nga đã cười, đã lắc đầu khi tôi nói công cuộc cải tổ ở Liên Xô là để “phục hồi những nguyên tắc Lenin-nit của CNXH!”. Hai là, cũng như nhiều người hay đọc sách ở Việt Nam đã tin rằng chỉ có Stalin độc tài, còn Lenin là người dân chủ! Nhưng đó là sự ngộ nhận của những người không “nằm trong chăn”. Tôi đã được nghe hai câu chuyện do chính các bạn Nga ở Ban Tiếng Việt của Đài Mát-xcơ-va đối ngoại kể. Một là: Bạn có biết vì sao Lênin là người nói về dân chủ nhiều nhất ở Liên Xô không? Vì nếu có người thứ hai nói về chữ “dân chủ” thì đã bị ông ta đập đầu chết rồi (!) Câu chuyện tiếu lâm thứ hai là, một anh cán bộ làm việc ở Mát-xcơ-va, thứ bẩy chủ nhật không về với vợ ở tỉnh. Lần sau anh ta về, chị vợ hỏi tại sao lần trước không về? Anh ta nói: còn đi viếng lăng Lênin. Chị vợ nổi xung quát: sao ngu thế, không viếng cái lăng này thì viếng cái lăng khác chứ lo gì (!)

Chính người Liên Xô đã thù ghét ông ta như thế cơ mà. Có lẽ tôi là một trong những nhà báo Việt Nam cuối cùng đến thăm Liên Xô trước khi “đế quốc” này tan rã vào cuối năm 1991.

– – – – –

MỤC LỤC:

Lời nói đầu

Ch 1.  Hà nội, nơi tôi sinh ra

Ch 2.  Đi tản cư lên Chí Chủ, Phú Thọ

Ch 3.  Hai lần “thi trượt” nhưng số phận vẫn mỉm cười với tôi

Ch 4.  Đời sinh viên

Ch 5.  Những chuyện kể của tướng Qua

Ch 6.  Chín năm dạy học ở thôn quê

Ch 7.  Ba mươi tám năm làm báo “lề phải” và “lề trái”

Ch 8.  Người cùng thời:

Ch 9.  “Chấm phá” chân dung những nhà dân chủ:

Ch 10.  Cuộc biểu tình ngày 9/12/2012

Thay lời kết

 

Bình Luận từ Facebook

BÌNH LUẬN

Xin bình luận ở đây
Xin nhập tên của bạn ở đây