Lời Ai Điếu – Hồi ký Lê Phú Khải (chương 07đ)

  •  
  •  
  •  
  •  

Chương 7đ:

tác giả: Lê Phú Khải – nguồn ảnh: uyennguyen.net

BA ÔNG HỌ VÕ: Võ Nguyên Giáp – Võ Văn Kiệt – Võ Viết Thanh

(tiếp theo Lời nói đầuCh.1, Ch.2, Ch.3, Ch.4, Ch.5, Ch.6, Ch.7a, Ch.7b, Ch.7c, Ch.7d)

Giữa năm 1991, sau khi tôi đi Liên Xô về, Tuất Việt, Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giaỉ phóng nhờ tôi làm một cuộc họp mặt, mời các cây bút của đồng bằng để mở mục “Đồng bằng Sông Cửu Long” trên báo SGGP. Theo anh Tuất Việt thì các tỉnh đồng bằng, đăc biệt là các cơ quan chính quyền, đoàn thể… đều mua SGGP. Vậy mình phải nói gì về người ta thì mới có sự gắn bó giữa người đọc đồng bằng và tờ báo của thành phố HCM.

Tuất Việt là một Tổng biên tập tận tụy với nghề báo, có kiến thức và tâm huyết với bạn đọc. Sau Tô Hòa, ông là Tổng Biên tập sáng giá của tờ SGGP. Tôi đã cộng tác với nhiều tờ báo trong cả nước nhưng chưa thấy Tổng Biên tập nào tận tụy như anh. Có lần tôi đang ở tận Năm Căn – Đất Mũi, có một cái tin về xuất khẩu tôm đáng đưa lên mạng thông tin đại chúng cấp quốc gia. Tôi đọc tin qua điện thoại ra Hà Nội để Đài TNVN phát ngay buổi Thời sự chiều. Về đến nhà nghỉ, tôi nghĩ đến Tuất Việt và gọi về nhà riêng cho anh, bảo anh cầm bút ghi cái tin  tôi đọc. Tuất Việt đã ghi và anh bảo tôi, sẽ sang ngay Tòa soạn để đưa cái tin đó cho báo vào sáng hôm sau.

Chiều hôm sau, khi tôi về đến Cà Mau và đến làm việc với các cán bộ của ngành thủy sản ở Thị xã, đến 4 giờ chiều ai cũng vui mừng là đã đọc được cái tin của SGGP về xuất khẩu tôm ở Năm Căn, khen SGGP đưa tin nhanh quá. Thời đó chưa có điện thoại đi động, chưa có internet, chưa có báo mạng, chưa xây được hai cây cầu qua sông Tiền, sông Hậu, các báo ở Sài Gòn phát hành lúc 4 giờ sáng, xe đò nhận báo rồi chạy miết thì 4-5 giờ chiều Thị xã Cà Mau mới được đọc báo xuất bản ở TPHCM trong ngày. Chỉ có Tổng Biên tập như  Tuất Việt mới chịu khó chép tin như thế để tạo nên “sự gắn bó” với bạn đọc của mình, như anh đã tâm sự với tôi.

Đầu năm 1994, tôi đang làm giảng viên cho một lớp bồi dưỡng nghiệp vụ của Đài Phát thanh tỉnh Sóc Trăng thì Tuất Việt lại nhắn tôi cố về sớm để giúp anh đi Điện Biên, chuẩn bị bài vở cho số báo ngày và tuần san SGGP Thứ 7, nhân kỷ niệm 40 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (1954-1994).

Tôi nhận lời và chuẩn bị lên đường vào trung tuần tháng 3/1994. Tuất Việt cấp thẻ đặc phái viên báo SGGP cho tôi, đồng thời anh thảo hai lá thư gửi Tỉnh ủy và UBND tỉnh Lai Châu, hai lá thư gửi huyện ủy và UBND huyện Điện Biên giới thiệu tôi, nhờ địa phương giúp đỡ để lấy tài liệu viết bài. Nhưng có một điều trớ trêu là anh không cấp cho tôi một xu nào lộ phí đi đường và ăn ở những ngày ở Điện Biên. Anh chỉ hứa sẽ “trả nhuận bút xứng đáng” (!). Đây chính là đề tài để tôi “nghiên cứu” về chế độ nhuận bút của các báo ở Việt Nam sau chuyến đi ĐBP năm ấy và chuyến đi Hồng Kông, Ma Cao của tôi sau này, đi để thu thập tài liệu, tin tức cho ngày Hồng Kông, Ma Cao trở về với Trung Quốc năm 1997 (!).

Tôi sẽ viết về đề tài này ở phần sau.

Lại nói về chuyến đi ĐBP. Cần tấm thẻ “đặc phái viên” SGGP và 4 tờ giấy giới thiệu, viết rất tỉ mỉ của Tuất Việt, tôi rất băn khoăn… lấy tiền đâu mua vé máy bay từ TPHCM ra Hà Nội. Rồi từ HN đi Điện Biên và cả tuần lễ sống ở trên đó. Rồi còn khứ hồi nữa?!

Tôi nhớ đến một bài bút ký của nhà văn xứ Huế Hòang Phủ Ngọc Tường. Khi anh đến được Đất Mũi Cà Mau, trong bài ký của anh, nhà văn đã cho rằng anh đã đến được “một cái đích” của đời mình. Vậy Điện Biên không phải là “một cái đích” của đời tôi hay sao? Tôi phải đến được cái đích đó! Dù bất kỳ khó khăn nào. Thế là tôi lên đường… Sáng hôm tôi đi, vợ tôi tiễn tôi ra tận chỗ hẹn với anh bạn chờ để chở tôi ra sân bay.

Cuộc đời phóng viên của tôi có biết bao nhiêu chuyến đi, vậy mà sao sáng hôm đó vợ tôi lại phải… tiễn? Chả là, mấy ngày trước đó, báo đài cả nước đều đưa tin về một vụ máy bay đi Điện Biên, cả phi công và máy bay đều tan xác vì máy bay trực thăng đâm thẳng… vào núi! Vợ tôi lo! Tôi phải bảo bả quay về vì “người ta chết có số!”. Vất vả nhất cho tôi chuyến đi này là Tuất Việt còn tặng báo Lai Châu một bức trướng của báo SGGP rất cồng kềnh!… Nhưng tôi đã “tương kế tựu kế” bóc bỏ đi bao bì của bức trướng đó, để lộ dòng chữ “Báo SGGP tặng Báo Lai Châu… nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng ĐBP”. Nhờ vậy tôi được mọi người “chiếu cố” khi lên xuống các phương tiện giao thông, vì là người Việt Nam ai cũng yêu mến Điện Biên Phủ.

… Khi tôi xếp hàng mua vé thì cô bán vé hàng không trả lời: Hết vé! Đây là những chuyến máy bay đầu tiên được nối lại giữa Hà Nội và Điện Biên sau nhiều năm chuyến bay này bị hủy bỏ. Tôi năn nỉ cô nhân viên bán vé “chiếu cố” tôi là nhà báo, từ Miền Nam ra, đi ĐBP chuyến này để viết về ĐBP nhân kỷ niệm 40 năm… cô nhân viên gọi điện vào bên trong, không biết họ trao đổi với nhau cái gì rồi bán vé cho tôi.

Lúc tôi đứng chờ làm thủ tục để ra sân bay, có tiếng một người đàn ông đứng sau hỏi: Anh cũng biết đại tướng đi chuyến này à?

Tôi quay lại thì thấy một người đàn ông đeo lon thiếu tướng và sau ông là mấy vị đeo lon đại tá, cuối cùng là một cô đầm trẻ và rất đẹp, mắt xanh biếc. Thấy vị thiếu tướng mặt khó đăm đăm, nhìn tôi vẻ soi mói, tôi trả lời ông nửa đùa nửa thật: Có lẽ đại tướng thấy tôi đi chuyến này nên ông cũng đi (!). Sau câu trả lời của tôi, mấy vị quân nhân đứng đó đều tỏ ra bất bình. Có lẽ mấy vị ấy cho tôi là “phạm thượng”! Sau này tôi mới biết, vị đeo lon thiếu tướng đó là ông Cao Pha, Cục phó Cục Quân báo, đã cùng Đại tướng chiến đấu trong chiến dịch Điện Biên năm xưa. Các vị Đại tá kia đều là các cựu chiến binh ĐBP. Cô đầm xinh đẹp kia là Catherina, phóng viên nhiếp ảnh nổi tiếng Mỹ, tất cả đều đi tháp tùng Đại tướng trong chuyến máy bay lên thăm Điện Biên nhân sắp kỷ niệm 40 năm chiến thắng ĐBP.

Lúc lên máy bay thì rộng thênh thang. Chiếc Airbus hơn 70 chỗ ngồi này chỉ chở có vợ chồng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, mấy vị tôi vừa gặp, ngoài ra còn mấy người khác là đạo diễn Trí Việt, quê Bến Tre, một trong ba người Nam Bộ dự trận Điện Biên năm xưa, nhà văn Triều Dương ở báo Văn nghệ, Hội Nhà văn và hai bố con một ông già. Đây là chuyến chuyên cơ đăc biệt do chính Tổng cục trưởng Hàng không Việt Nam Nguyễn Hồng Nhị lái chở vợ chồng Đại tướng lên thăm lại chiến trường xưa sau 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Những người đi tháp tùng là quân nhân và nhà báo thì không có gì đáng ngạc nhiên. Còn ông già để râu dài, đeo kính râm và người thanh niên đi cùng là ai khiến tôi phải đến hỏi. Ông cụ hóm hỉnh nói, tôi là Dư Văn Tư, đã 76 tuổi, là “tư lệnh một khẩu pháo” trong chiến dịch ĐBP (khẩu đội trưởng một khẩu pháo). Sau chiến dịch Điện Biên, cụ Tư ở lại làm công nhân nông trường Điện Biên và định cư ở chiến trường cũ này. Nay cụ về Hà Nội mổ mắt nên có anh con rể đi theo. Vì là chiến sĩ Điện Biên năm xưa nên cụ được ưu tiên mua vé để đi chuyến chuyên cơ đặc biệt này, nếu không phải nằm chở ở Hà Nội 3 ngày nữa vì lúc đó chỉ hàng tuần chỉ có 2 chuyến bay dân dụng HN-ĐBP. Vậy là tôi cũng là người được “ưu tiên” mua vé đi chuyên cơ này. Và, một điều thú vị là trên máy bay hôm đó có đến hai vị tư lệnh, một Tổng Tư lệnh của cả chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và một “tư lệnh một khẩu pháo”! Còn gì thú vị hơn cho một nhà báo mà trên một chuyến bay được gặp hai vị tư lệnh cùng một lúc như thế. Sau khi phỏng vấn “tư lệnh một khẩu pháo”, chụp hình vị tư lệnh râu dài, đeo kính đen và cậu con rể đi tháp tùng, tôi còn được biết địa chỉ của người cựu chiến binh này ở Phường Him Lam để “đến chơi làm ly quốc lủi” như lời mời của chủ nhân. Rời hàng ghế của “tư lệnh một khẩu pháo” tôi đến chào Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Gíap và phu nhân Đặng Thị Hà. Sau khi trình Đại tướng thẻ đặc phái viên báo SGGP, tôi nói: Thay mặt Tổng biên tập SGGP Vũ Tuất Việt, tôi kính mời Võ Đại tướng đến thăm tòa soạn báo dịp 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ. Đại tướng niềm nở cười. Tôi không ngờ lại thực hiện được lời mời của TBT Vũ Tuất Việt sớm như thế. Theo lời dặn của ông, sau chuyến đi Điện Biên tôi phải đến nhà riêng Đại tướng để mời dùm ông. Nhưng câu trả lời của Đại tướng phu nhân hôm đó làm tôi bất ngờ và suy nghĩ. Bà Hà nói: “đã là báo Đảng mời thì nhất định anh Văn phải tới!”.

Tôi rất bất ngờ về chữ “phải”. Sao lại có sự khiêm tốn đến quá mức như thế? Sao lại “phải” tới, đối với một vị tướng lừng danh thế gian này! Và quả thật sau đó Đại tướng có vô TPHCM, thăm tòa soạn báo SGGP khiến Tuất Việt rất phấn khởi (nhưng không vì thế mà ông tăng nhuận bút các bài viêt về ĐBP năm đó cho tôi như đã hứa!).

Rời hàng ghế của Đại tướng, tôi đến ngồi bên cạnh cô đầm xinh đẹp. Cô này nói được Tiếng Pháp bập bẹ như tôi. Qua cuộc đối thoại có sự “giúp đỡ” của tay chân, điệu bộ, tôi được biết cô là một phóng viên nhiếp ảnh tự do của Mỹ và vừa nhận 100 cuộn phim để sẽ chụp trong 1 ngày! Thời kỳ đó có một hãng phim ảnh quảng cáo, tiếp thị bằng cách biếu các phóng viên nhiếp ảnh nổi tiếng các nước 100 cuộn phim và phải chụp hết trong 1 ngày về bất cứ đề tài gì và gửi về cho họ. Sau đó họ sẽ tùy ý sử dụng những tấm ảnh đó và trả công cho các phóng viên. Catherine là một phóng viên đã nhận 100 cuộn phim như thế. Và, cô ta sang Việt Nam, chọn đề tài Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sau này, các bức hình về Đại tướng được đăng trên các báo Phương Tây, kể cả ở Việt Nam, tôi đọc thấy tên Catherine ở bên dưới và nhận ra là các tấm hình ấy cô đã chụp trong chuyến đi đó. Cũng không ngờ tôi trở thành “địch thủ” của Catherine trong những ngày sau. Đó là ngày đầu tiên ở Điện Biên, các nhà báo chúng tôi đi theo tướng Giáp thăm lại chiến trường xưa. Khi thăm và làm việc với Bảo tàng Điện Biên, tướng Giáp ngồi nói chuyện với cán bộ bảo tàng, có cả Bí thư Tỉnh ủy Lai Châu dự. Ngày hôm đó cũng là ngày Catherine thực hiện chụp 100 cuộn phim, có nghĩa là phải bấm máy 3.600 lần trong ngày. Vì thế cô bấm máy liên tục.Tướng Giáp chỉ đi ba bước là cô bấm một kiểu ảnh. Có lẽ tướng Giáp biết chuyện này nên ông luôn miệng hỏi: “quel couronne?” (bao nhiêu cuộn rồi?). Khi tướng Giáp ngồi nói chuyện với cán bộ công nhân viên bảo tàng, tôi đứng sau, luồn tay đưa cái máy ghi âm ra phía trước để ghi âm lời ông nói, Catherine đã xông lên, giằng tay tôi ra để cô chụp cho đẹp. Tôi đâu có chịu, khi Catherine chạy lại phía trước thì tôi lại luồn tay đưa cái máy ghi âm ra. Cô ta lại chạy tới hất tay tôi ra. Chuyện giằng co như thế làm mọi người rất khó chịu, kể cả tướng Giáp. Tôi quyết định phải “dậy cho Catherine một bài học”, và cũng để chấm dứt cảnh giằng co này. Vì thế, lần thứ ba cô chạy đến giơ tay định làm như lần trước, tôi đã giơ thẳng tay, đánh mạnh vào cánh tay của cô, khiến cô phải kêu á lên một tiếng rồi lùi lại… Sự việc diễn ra quá nhanh và bất ngờ khiến mọi người sửng sốt, nhưng sau đó lại đâu vào đấy. Từ đó, các cú bấm máy của Catherine đều có hình tôi đứng sau, luồn tay ra phía trước cầm cái máy ghi âm đưa ra trước mặt đại tướng.

Tối hôm đó, chúng tôi lại sang nhà khách mà Tướng Giáp nghỉ để hàn huyên vì khách sạn các nhà báo chúng tôi thuê đối diện ngay với nhà khách Tướng Giáp ở. Đúng như tôi đã dự đoán, Tướng Giáp hỏi tôi: “sao lại xử sự như vậy lúc ban chiều?”. Tôi đã trả lời vị tướng tài ba này rất “đúng lập trường”: Thưa anh Văn – Tôi bắt chước các tướng lĩnh đi tháp tùng Đại Tướng, gọi ông là “anh Văn” – Catherine là phóng viên một nước tư bản, cô ta chụp ảnh để bán lấy tiền, tôi là phóng viên Đài TNVN, tôi ghi âm để phát cho đồng bào cả nước nghe đài biết là Đại Tướng nói gì về việc gìn giữ di tích ĐBP. Tôi và Catherine égal (……)  trong việc hành nghề, cô ta làm như thế là coi thường người khác, tôi phải dậy cho cô ta một bài học. Hơn nữa, tôi cũng muốn nói với các đồng nghiệp Việt Nam của mình là: không việc gì phải sợ phóng viên nước ngoài cả. Tất cả đều bình đẳng! Tướng Gíap đã vỗ vai tôi nói: “Très bien!” (rất tốt).

Từ hôm đó trở đi, mỗi khi gặp tôi ở hành lang khách sạn mà chúng tôi thuê, Catherine đều đi né sang một bên, tránh đối diện với tôi. Kể cũng tội nghiệp cho cô, một cô gái đẹp (!). Tấm hình Trí Việt chụp cho tôi và Catherine khi ngồi trên máy bay chuyện trò vui vẻ tôi vẫn còn giữ đến bây giờ để “nhớ” một kỷ niệm… không vui trong đời làm báo.

Thế là trong suốt  ba, bốn ngày ở Điện Biên, tôi và các đồng nghiệp luôn ở bên Tướng Giáp, từ sớm cho đến chiều tối để đi thăm các chiến địa xưa: đồi Him Lam, đồi D1, A1, nghĩa trang liệt sĩ dưới chân đồi A1, các tượng đài mới dựng lên ở Điện Biên v.v., tối về lại quây quần bên ông ở nhà khách để hỏi han, ghi chép. Có một sự kiện như là một điểm nhấn của chuyến đi năm đó là khi Tướng Giáp và chúng tôi vào thăm lại hầm De Castries, Đại Tướng xem rất kỷ di tích này. Bất chợt ông chỉ tay vào sát bức tường của một ngách hầm và hỏi: “cái étagère lớn của De Castries ở chỗ này đâu rồi?”. Không ai trả lời. Đại tướng hỏi lại lần nữa, vẫn không ai trả lời. Đại tướng lại hỏi một lần nữa, nói gần như quát (!). Tôi vội đỡ lời: Đại tướng hỏi cái giá sách của De Castries ở đây bây giờ đâu rồi?. Có tiếng đáp ngập ngừng: Thưa… đốt rồi ạ!!! Tất cả lại lặng im. Đại Tướng căn dặn phải giữ gìn tất cả những hiện vật của trận Điện Biên năm xưa. Nhưng “điểm nhấn” là câu hỏi cuối cùng của ông: “Hầm tướng giặc thì được ta tạo làm di tích lịch sử để thăm quan, còn hầm của tướng ta thì bây giờ ra sao? Nhân dân sẽ hỏi các đồng chí, hầm của tướng ta đâu, không lẽ chỉ có hầm tướng giặc thôi à?”. Tất cả mọi người có mặt trong hầm De Castries hôm đó đều lặng đi. Mọi người thấy đại tướng nói đúng quá, có lý quá!

Sáng hôm sau người ta tổ chức để Đại Tướng đi thăm lại hầm Tổng Tư lệnh chiến dịch ĐBP ở Mường Phăng, cách thung lũng Điện Biên 10 km đường chim bay, đi đường bộ mất 25 km, nhưng đường bộ đã bị “lãng quên”, hư hại, xe ôtô đi rất khó khăn. Nghe tin Đại Tướng đi Mường Phăng, sáng sớm hôm sau hai phóng viên Hãng Truyền hình Nhật Bản đã thuê 1 xe U-Oát lên đường từ sớm. Catherine cũng đã thuê được một xe đi từ sớm. Tôi không có tiền thuê xe đành bám theo Đại Tướng để xin đi trực thăng. Nhưng thật “đau khổ”, trực thăng của quân khu nổ máy mấy lần mà cánh quạt vẫn… đứng yên (!).Người ta phải đem kìm, búa ra chữa. Tiếng búa đập vang dội cả một góc rừng (!), vậy mà máy bay trực thăng vẫn ì ra, không chịu nhúc nhích cánh quạt (!). Đến quá trưa vẫn chưa chữa xong máy bay (!), trong khi đó thì đồng bào Mường Phăng đã dậy từ sớm chờ Đại Tướng lên thăm! Nản quá, tôi về khách sạn nằm, đọc tiếp cuốn “Lịch sử Đảng bộ Điện Biên” do Phó Ban Tuyên huấn Huyện ủy Ngô Phong, người biên soạn cuốn sach tặng tôi hôm trước.

Đến 2 giờ chiều thì máy bay trực thăng của không quân từ Hà Nội bay lên, và đến 4 giờ chiều hôm đó thì đồng bào Mường Phăng hân hoan đón Đại tướng.

Nguyễn Trí Việt, dân Bến Tre dự trận ĐBP, anh là Chính trị viên Đại đội xung kích 245, Tiểu đoàn 11 Phủ Thông, Trung đoàn 141 Ba Vì, Đại đoàn 312, từng chỉ huy kéo pháo vào kéo pháo ra ở ĐBP năm đó. Từ sớm hôm đó anh đã thuê được một chiếc môtô Min, thứ xe môtô do Liên Xô sản xuất leo đồi rất tốt để lên Mường Phăng. Anh kể, từ sáng sớm đồng bào Mường Phăng đã tập hợp trên một bãi đất rộng mà xưa kia Đại Tướng từng duyệt binh sau chiến thắng Điện Biên để đón Đại Tướng. Nhiều người mang theo trứng gà và mật ong để biếu Đại Tướng. Đồng bào đã kiên trì đứng từ sáng tới 4 giờ chiều dưới nắng để chờ, ai cũng sợ bỏ đi thì không kịp quay lại để nhìn thấy đại tướng. Hai phóng viên truyền hình Nhật Bản đã đứng cả ngày, cởi áo để che nắng cho máy quay phim chở Đại tướng đến là bấm máy… Trí Việt nói một hơi rồi anh vén quần lên, chỉ vào vết thương ở đầu gối nói: Tao ngồi sau xe Min, gặp cái ổ gà lớn quá, xe sóc, văng tao té xuống đất, đầu gối va vào cục đá, máu túa ra… Vậy là hai lần tao bị thương trong đời đều ở Điện Biên, cách nhau 40 năm, trước là ở đồi Him Lam, sau là trên đường vào Mường Phăng!

Trí Việt là người vui tính, hay nói. Bữa trước anh vừa làm chúng tôi cười nôn ruột! Số là, Trí Việt và một cựu chiến binh Điện Biên năm xưa là dân Nam Bộ nên được một hãng phim ở Sài Gòn mời ra dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên để làm phim tài liệu. Khi được phỏng vấn “vì sao đồng chí lại có mặt trong trận Điện Biên?”, Trí Việt thật thà nói: “Tôi đi nhận vũ khí, rồi kháng chiến bùng nổ, không về Nam được nên nhập vào một đơn vị bộ đội Miền Bắc rồi đi đánh giặc mút mùa cho đến trận Điện Biên! Đến khi người ta phỏng vấn ông kia, ông ta nói; tôi đi đánh trận Điện Biên là do “Trung ương điều” (!) nghe chướng tai quá, Trí Việt nổi khùng quát: Thôi đi cha nội, nói dóc vừa thôi, Trung ương điều cái con cặc! Thế là cái cụm từ “trung ương điều cái con cặc” được thu vào tất cả các máy ghi âm của bọn nhà báo chúng tôi đang “ăn theo” cuộc phỏng vấn đó!

Khi về tới khách sạn, khi bật máy ghi âm lên, nghe lại cuộc phỏng vấn, đến đoạn Trí Việt quát “trung ương điều…” là lăn ra cười !!!

Vậy là cho đến năm 1994, khi bước lên chiếc chuyên cơ đi Điện Biên, thấy vợ chồng Tướng Gíap ngồi thủ thỉ nói chuyện với nhau ở hàng ghế giữa máy bay, người am hiểu chính trường ở Việt Nam mới hết lo cho số phận của ông tướng nổi danh cả thế giới này.

Vì, các đối thủ nổi danh của ông đã chết hết, hoặc còn sống thì cũng không còn đủ thế lực để tác oai, tác quái với ông nữa. Những người yêu mến ông trong bộ máy quyền lực đã hết sợ “mang vạ” vào thân nên đã mỉm cười với ông. Hiển nhiên là ông đang ngồi trên chuyến chuyên cơ này để về thăm lại chiến trường xưa.

Kể từ sau 1975, khi Lê Duẩn, Lê Đức Thọ nắm toàn bộ quyền lực trong tay thì số phận của “Vainqueur de ĐBP”  (người chiến thắng ở ĐBP) như báo chí Phương Tây thường gọi là vô cùng cay nghiệt. Nhất là từ sau Đại hội Đảng lần Thứ 5, ông bị loại hẳn ra khỏi Bộ Chính trị, cho đến năm 1983 được Hội đồng Bộ trưởng phân làm “Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc gia Dân số và Sinh đẻ có kế hoạch”, thì sự cay đắng đã được đẩy đến tận cùng. Dân gian có câu ca:

“Ngày xưa Đại Tướng cầm quân – Ngày nay Đại tướng tụt quần chị em!”

Nhưng ông đã tôn thờ chữ “nhẫn” để tồn tại và… thời gian đã ủng hộ ông.

Tôi nhớ, vào đầu năm 1991, một nhân vật của kịch Lưu Quang Vũ trên sân khấu nói một câu rất bình thường: – Vậy là những kẻ khốn nạn cuối cùng cũng phải chết! Cả rạp đã vỗ tay rần rần. Đó là khán giả Hà Nội đã vỗ tay mừng cho Tướng Gíap vì năm 1990 “kẻ khốn nạn” luôn hãm hại Tướng Giáp vừa qua đời.

Trong suốt một thời gian dài tôi đã đọc biết bao thông tin về sự trù úm, hãm hại Tướng Giáp. Người ta hãm hại ông không phải vì sợ ông tranh quyền, cướp vị mà vì sự tồn tại của ông làm lu mờ họ. Khi ông là Đại Tướng thì có kẻ mới là viên đại tá vô danh. Vì thế, dù có mưu mô cơ cấu cấp dưới của ông lên đến vị trí cao ngất thì cũng không thể vì thế mà tỏa hào quang. Thôi thì, bôi đen hào quang đi vậy! Vụ án “Bà Sáu Sứ” do Tổng cục II dựng lên là một âm mưu bôi đen không thành đối với Tướng Giáp. Nhờ một ông họ Võ khác là Võ Viết Thanh đã hành động theo lẽ phải và đạo lý… Sẽ còn nhiều bút mực đổ ra để các nhà sử học sau này bàn luận về cuộc đời và sự nghiệp của Võ Nguyên Giáp.

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Tụ, hiệu là Hà Sỹ Phu đã có bài thơ tặng Đại Tướng nhan đề: “Trăm năm nguyên giáp”

Tính sổ trời cho đã bách niên
Thử cân hạnh phúc với ưu phiền
Tiếc trang độc lập còn dang dở
Thương chữ quyền dân chửa đáp đền
Một đời ái quốc văn thành võ
Chưa cởi chiến bào giáp vẫn nguyên

Nhưng cũng có người đưa ra ý kiến rằng, với Võ Nguyên Giáp thì lịch sử có những “tiêu chuẩn riêng của nó”. Tôi hiểu tác giả viết trên trang mạng Bauxite này muốn nói, độc lập phải đi liền với tự do và dân chủ.

Riêng tôi, chỉ muốn cung cấp cho bạn đọc những điều mắt thấy tai nghe về những điều trắng trợn đến vô lý mà người ta đã đối xử với Đại Tướng. Những điều mà chỉ có thể xảy ra trong một thể chế độc tài, chuyên chế của một vài cá nhân mà thôi. Và, trong một thể chế như thế thì dù một người có tài, có đức, hào quang cùng mình như Võ Nguyên Giáp vẫn không thoát được hiểm họa. Một thể chế đem đến bi kịch cho tất cả mọi người.

… Vào những năm tám mươi ở Tiền Giang, Giám đốc xí nghiệp dược liệu Quân khu 9, trong đó có Trại nuôi rắn Đồng Tâm nổi tiếng khắp vùng là Trần Văn Dược, tức Tư Dược. Một lần Đại Tướng đến thăm Trại rắn Đồng Tâm, phóng viên nhiếp ảnh của Phân xã Tiền Giang là anh Thái, sau cuộc viếng thăm của Đại Tướng, có đem một tấm hình Đại Tướng và Tư Dược phóng to để biếu Trại Đồng Tâm làm kỷ niệm. Tư Dược đem tấm hình ấy trưng bày ở phòng khách của Trại. Cái tin này đã được báo về Quân khu 9. Lệnh của Quân khu đưa về là Tư Dược phải cất gỡ cái hình đó xuống (!). Tư Dược gỡ xuống và đem về phòng làm việc riêng của mình treo. Ông tuyên bố: “đứa nào vào phòng ông gỡ tấm hình này xuống thì ông nổ súng liền! Khi tôi đưa nhà báo Hữu Thọ – Báo Nhân Dân và nhà báo Thái Duy – Báo Đại Đoàn Kết đến Trại rắn tham quan, Tư Dược kể lại chuyện này với hai nhà báo ở Trung ương. Thái Duy, tức nhà văn Trần Đình Vân, tác giả cuốn sách “Sống như Anh” viết về anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi – đã nổi nóng đập bàn quát: “Đứa nào ra cái lệnh ấy, anh nói tên nó cho tôi, tôi sẽ đưa nó lên mặt báo!”.

Khi tôi đưa đoàn cán bộ biên tập của Nhà xuất bản Trẻ Thành phố HCM xuống tham quan Trại rắn nhân cuốn sách “Rắn độc trong tay người” của tôi viết chung với một người bạn, được Nhà xuất bản Trẻ phát hành viết về người giám đốc tài ba này thì… ông vừa bị cách chức. Tôi kể lại câu chuyện tấm hình có hình Đại Tướng… mọi người đã khuyên tôi: là một nhà báo anh phải ghi chép để viết về câu chuyện bẩn thỉu này!

Trước lúc ra đi, Tư Dược có nhắn tôi và nhà báo Hải Bình ở Phân xã Tiền Giang đến gặp ông… để trăn trối… về tấm lòng của một chiến sĩ với vị Tổng Tư lệnh của mình.

Ở tận phía Nam của Đất nước thì câu chuyện về Tướng Giáp là thế. Còn ở miền núi xa xôi Tây Bắc thì Ngô Phong tâm sự với tôi, dịp kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên, anh nhận được chỉ thị là không được đón Đại Tướng Võ Nguyên Giáp lên Điện Biên. Anh và các cán bộ lãnh đạo của huyện Điện Biên buồn lắm nhưng không biết làm sao cả. Vì thế, đợt kỷ niệm 40 năm này, không thấy có chỉ thị đó nên anh, với tư cách là Ban Tuyến huấn huyện Điện Biên đã về tận Hà Nội, đến tận nhà riêng Đại Tướng để mời ông lên thăm lại chiến trường xưa. Ngô Phong là người rất “dễ thương” theo cách nói của Nam Bộ. Anh chính là con đẻ của chiến thắng Điện Biên Phủ theo đúng nghĩa “con đẻ”. Bố anh là bộ đội đánh trận Điện Biên sau đó ở lại xây dựng Nông trường Điện Biên và lấy mẹ anh là người Thái. Anh ra đời sau 1954. Đến dịp kỷ niệm này, anh cũng tròn 40 tuổi mụ! Anh cũng chính là người chấp bút cuốn “Lịch sử Đảng bộ Điện Biên” vừa mới phát hành nhân dịp 40 năm. Anh dẫn tôi đi nhiều nơi quanh huyện Điện Biên. Anh tâm sự, cán bộ tuyên huấn ở huyện vất vả lắm. Địa bàn của huyện còn rộng hơn một tỉnh dưới xuôi. Có xã như xã Háng Lìa chót đầu huyện, cách Mường Thanh, trung tâm của Điện Biên đến 93 km, và… chỉ có thể đến đó bằng ngựa. Vậy mà anh vẫn phải tháng nào cũng  đến thăm cán bộ, đồng bào ở một xã như thế. Anh cho tôi hay, các giáo sĩ đạo Tin Lành đã đến ở đó và giảng đạo thì cán bộ tuyên huấn phải đến tận nơi là đương nhiên. Anh rủ tôi ở lại để cùng anh lên thăm Háng Lìa, nhưng phải mất ba ngày đi bộ ròng rã!!! Ngô Phong còn kể cho tôi nghe nhiều chuyện cảm động ở Điện Biên. Như ở Mường Phăng, tuy là Nhà nước không có chủ trương (hay nói đúng hơn là những người ở trên cao muốn xóa đi mọi dấu tích về Tướng Giáp), vậy mà nhân dân Mường Phăng vẫn tự giác giữ gìn di tích lịch sử này. Có cụ già đã 40 năm nay tình nguyện trông coi hầm chỉ huy của Đại Tướng, hàng ngày quét dọn, chăm sóc như nhà của mình.

Viết đến đây tôi nhớ đến mấy ngày trước đến thăm nhạc sĩ Tô Hải nay đã 86 tuổi, nhân nhắc đến nhạc sĩ Huy Du, Tô Hải kể, dịp 50 năm Hội nhạc sĩ Việt Nam, ông được mời ra Bắc thì Huy Du vừa mất. Anh em nhạc sĩ Hà Nội kéo ông lên Nghĩa trang Mai Dịch viếng mộ Huy Du, nhân đó ông có tò mò đến thăm mộ ông Lê Đức Thọ… vì có tin đồn từ lâu hàng ngày vẫn có người đem cứt trát lên mộ ông Thọ. Đến nơi ông mục sở thị mộ Lê Đức Thọ mới được gia đình dọn đi, các vết đào bới rõ rành rành trên các phiến đá ga-li-tô đã bị nạy phá!!!

Các nhà độc tài lúc còn sống có bao giờ nghĩ đến cõi đời “tạm bợ” này như Tagore từng viết:

“Tôi để lại đây chìa khóa ngôi nhà tôi ở
Ngổn ngang qua tạm cuộc đời!”

Sau chuyến đi Điện Biên mùa xuân 1994, về đến Hà Nội, tôi có viết một cái tin cho Đài TNVN về chuyến trở lại Mường Phăng của Đại Tướng, nhưng Đài không phát. Và tôi còn được biết  không có một đài báo của TW nào ở Hà Nội, kể cả Báo Quân đội Nhân dân cử phóng viên đi chuyến ấy. Vậy là còn thua cả tờ “Mực Tím” chuyên viết cho thiếu nhi ở TPHCM cũng cử phóng viên lên tận Điện Biên dịp đó.

Tôi đến tá túc ở Cơ quan đại diện Báo SGGP ở Hà Nội tại đường Lê Văn Hưu và viết ngay tin bài gửi về TPHCM như chỉ đạo của Tổng Biên tập Tuất Việt là “làm một vệt dài” về Điện Biên Phủ cho tới ngày kỷ niệm chính 7.5.1994. Tối hôm ấy thì nhà văn Triều Dương lò dò tới. Anh nói với tôi với vẻ mặt rất nghiêm túc: Ông Văn – tức Đại Tướng – bảo tôi đến dặn anh rằng, Đại Tướng rút lui ý kiến hôm chỉ đạo về cái tượng hai người phụ nữ ở Điện Biên. Anh về Sài Gòn khi viết nhớ là không đưa ý kiến đó của Đại Tướng vào bài viết. Tôi hỏi Triều Dương vì sao vậy, hôm đó Đại Tướng nói rất mạnh mẽ, quyết liệt cơ mà! Triều Dương nói: Nhưng về đến Hà Nội ông Văn biết được rằng Bộ Chính trị đã duyệt cái tượng đó rồi, nên ông rút lui ý kiến đó. Ông Văn dặn tôi, nhớ dặn kỹ cậu Phú Khải đề nó đừng viết cái ý đó. Trước khi ra về, Triều Dương còn bảo tôi: Tôi đi đến đây chỉ có mỗi việc đó, anh nhớ đừng quên.

Tôi nhớ lại, lúc đứng trước cái tượng đài khá lớn, dựng hình tượng hai người phụ nữ, một người mặc áo cánh, búi tóc, tượng trưng cho phụ nữ Đồng bằng Bắc Bộ, đứng sát là một phụ nữ chít khăn phiêu, mặc áo của phụ nữ dân tộc Thái, tượng trưng cho đồng bào các dân tộc Tây Bắc… Đại Tướng giận dữ nói: Tôi đã chỉ đạo các anh rằng, chiến thắng Điện Biên Phủ là công lao của cả nước. Cả nước chia lửa với Điện Biên Phủ, cả nước căng địch ra mà đánh nên chúng không thể điều quân đến cứu nguy cho ĐBP. Vì thế khi dựng tượng đài ở Điện Biên Phủ phải có hình ảnh của ba miền Trung-Nam-Bắc. Mai kia đồng bào Khu 5, đồng bào Nam Bộ… ra đây thăm Điện Biên, người ta hỏi hình ảnh của chúng tôi đâu trong chiến thắng này thì các anh sẽ trả lời làm sao? Điện Biện Phủ chỉ có công của Bắc Bộ và Tây Bắc thôi à?

Đại Tướng đã nói rất gay gắt: Tôi đã dặn kỹ các anh rồi sao không thực hiện, sao lại làm thế này? Tất cả cán bộ ngành bảo tàng ở Điện Biên lúc đó đều có mặt nhưng không ai nói gì cả (!), không một lời giải thích, vì thế Đại Tướng càng tỏ ra giận dữ, xem như mọi người đã chống lại ông.

Vậy mà… bây giờ Triều Dương đến… lại nói thế…?

Đêm hôm đó tôi nằm thao thức mãi… nghĩ về sự cẩn trọng của Đại Tướng! Bộ Chính trị là cái gì? Đại Tướng chỉ đạo như vậy là quá đúng với sự thật về chiến thắng Điện Biên Phủ, là công bằng lịch sử. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, tôi thấy Tướng Giáp có lý! Ông đã chịu quá nhiều những âm mưu thủ đoạn chĩa vào ông trong nhiều năm qua từ những “đồng chí” của mình. Chỉ một sơ suất nhỏ, người ta có thể vin vào đó để vu cho ông là chống lại tập thể Bộ Chính trị, chống đảng… và… và…

Nhờ có sự cẩn trọng đến từng…. chi tiết… của đời sống mà ông mới tồn tại được đến cái ngày gặp lại đồng bào, đồng chí của ông ở Điện Biên Phủ như tôi đã thấy. Kể từ sau vinh quang chói lọi “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”, ông sống trong thiên la địa võng của những hiềm tị và mưu mô. Trên đỉnh cao thì bao giờ dưới chân nó cũng là vực thẳm. Đỉnh càng cao thì vực dưới chân càng sâu. Tướng Gíap đã đứng bên bờ vực thẳm đó biết bao tháng năm mà không bị nạn nhờ ông biết cẩn trọng. Ngay khi các đối thủ của ông không còn trên cõi đời này, nhưng ông hiểu rằng tay chân của họ còn đó. Ông thận trọng là có lý. Các cụ ta xưa nói “anh hùng đa nạn” là như thế. Tôi càng nhận ra điều này về sau khi kỷ niệm 50 năm chiến thắng ĐBP tôi lại từ Sài Gòn ra Hà Nội, được ông tiếp tại nhà riêng gần một tiếng đồng hồ, sau đó tôi lại lên Điện Biên… Nhưng bài tôi viết về ông và trận Điện Biên để kỷ niệm 50 năm chiến thắng ĐBP, tờ báo đáng phải đăng nhất là tờ QĐND mà tôi gửi tới thì lại từ chối không đăng (?!) Báo Cần Thơ số ra ngày 6.5.2004 đã đăng bài đó. Đó là bài báo tôi viết mất nhiều công sức nhất sau hai lần lên Điện Biên Phủ, hai lần gặp Đại Tướng, sau nhiều thời gian đọc hàng chục cuốn sách do ta và tây viết về trận ĐBP, sau nhiều lần gặp nhà văn Hữu Mai, người chấp bút các hồi ký của Tướng Gíap để hỏi chuyện…Tôi phải cám ơn Báo Cần Thơ và Tổng Biên tập Trần Huy đã đăng bài báo nhan đề “Võ công Điện Biên Phủ và thiên tài quân sự Võ Nguyên Giáp”. Đó là lần đầu tiên cụm từ “thiên tài quân sự” được gắn với tên tuổi Võ Nguyên Giáp mà đài báo, sách vở của chế độ từ trước đến nay vẫn “thực hành tiết kiệm” với Đại Tướng.

Trong bài đó tôi viết: “… Công bằng mà nói, Tướng Giáp được chỉ huy một quân đội cách mạng sẵn sàng quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Sức mạnh vô địch của đội quân đó là lòng yêu nước nồng nàn và rực lửa căm thù. Căm thù bọn người đã đốt nhà, giết vợ con, cha mẹ họ, đã đày đọa cả dân tộc họ trong một thế kỷ ôm mối hận làm dân nô lệ, làm kẻ mất nước…  Vì thế khi có thời cơ họ đã chiến đấu không tiếc xương máu để rửa mối hận đó! Và, người chỉ huy đội quân không tiếc xương máu đó lại là người biết tiết kiệm từng giọt máu của đồng đội, biết nuôi dưỡng sức mạnh từ việc chăm sóc bát cơm nóng cho quân lính dưới chiến hào. Những giọt máu hào hùng và những giọt máu được tiết kiệm… đã làm nên màu đỏ rực ánh mặt trời chiến thắng chiều 7.5.1954 ở ĐBP.

Vận dụng sáng tạo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Tướng Giáp đã thành công ở Điện Biện Phủ. Đó là những sư đoàn chân đất, như cách nói của giặc Pháp, biết dấu mình trong chiến hào đánh lấn, nương mình vào lòng đất mẹ quê hương để đương đầu với bom đạn sắt thép bạo tàn của kẻ thù mà đánh “trận địa chiến hào tấn công” chưa hề có trong lịch sử quân sự. Đó là sáng tạo của những người du kích Đồng bằng Bắc bộ có kinh nghiệm đào hầm bí mật chống càn giữ làng, là cách đánh du kích chỉ Việt  Nam mới có; người chỉ huy đề ra phương châm chiến lược, người lích đề xuất cách đánh đào xuyên hàng rào kẽm gai. Đó là dân chủ Điện Biên Phủ! “Trận địa chiến hào xiết vòng vây lửa” ở Điện Biên Phủ là võ công hiển hách của quân dân ta ở thế kỷ 20. Là một cống hiến cho khoa học lịch sử quân sự thế giới, là thiên tài quân sự Võ Nguyên Giáp, là “thiên biến vạn hóa” của tư tưởng quân sự cha ông ta được vận dụng ở thời đại Hồ Chí Minh.

Thông thường trong chiến tranh, phía tấn công phải có lực lượng gấp 5 lần trở lên so với phía phòng ngự. Nhưng so sánh lực lượng hai bên ở Điện Biện Phủ thì thấy: ban đầu địch có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, gồm phần lớn những đơn vị tinh nhuệ nhất. Địch còn có hai tiểu đoàn pháo 105 ly, 24 khẩu, 2 tiểu đoàn sung cối 120 ly 20 khẩu, 1 đại đội pháo 155 ly 4 khẩu, 1 đại đội xe tăng 18 tấn 10 chiếc. Không quân thường trực tại sân bay có 7 khu trục, 5 trinh sát, 4 vận tải và 1 trực thăng. Ngoài ra 2/3 lực lượng máy bay ném bom tiêm kích và 100% máy bay vận tải toàn Đông Dương yếm trợ cho Điện Biện Phủ. Tổng quân địch ở Điện Biên Phủ là 12.000 người. Lực lượng ta có 9 trung đoàn bộ binh (27 tiểu đoàn), 1 trung đoàn sơn pháo 24 khẩu, 2 tiểu đoàn lựu pháo 105 ly 24 khẩu, 4 đại đội sung cối 120 ly 16 khẩu, 1 trung đoàn cao xạ pháo 37 ly 24 khẩu, 2 tiểu đoàn công binh. Ta hơn địch về số tiểu đoàn (27/12) nhưng quân số mỗi tiểu đoàn của ta chỉ bằng 2/3 mỗi tiểu đoàn của địch. Ta cũng hơn địch về số lượng pháo (64/48) nhưng đạn pháo dự bị của ta lại rất hạn chế. Ta không có xe tăng và chỉ có 1 trung đoàn pháo cao xạ 37 ly để đối phó với toàn bộ không quân địch ở Đông Dương. Xét toàn cảnh ta vẫn ở vào thế yếu đánh mạnh.

Nhưng ta chủ động tấn công, tự quyết định đánh hay không đánh, chủ động lựa chọn điểm đánh và thời gian đánh. Đánh hay không đánh đều có lợi cho ta vì đương nhiên ta đã kìm chân được một lực lượng lớn địch ở đây để giành được thắng lợi trên nhiều chiến trường Đông Xuân 53-54. Địch ở Điện Biên Phủ tuy mạnh, nhưng bị nhốt trong các cũi thép gai và hầm hố một cách thụ động, không thể đem toàn bộ sức mạnh để đánh trả, cứu nguy cho một cứ điểm bị tấn công. Ta đem toàn bộ sức mạnh để đánh môt điểm ta bao vây chia cắt địch ra mà đánh dần, linh hoạt và cơ động hoàn toàn. Như vậy nếu xét trong một trận đánh vào một vị trí nhất định, trong một thời điểm quyết định , thì ta vẫn mạnh hơn địch. Mạnh sẽ thắng yếu. Tài thao lược của Tướng Giáp là ở chỗ phân tích sắc bén thế và lực trong những tình huống cụ thể ở Điện Biên Phủ để tìm ra cách đánh thích hợp, “đánh chắc tiến chắc” để đi đến đại thắng! Đó là gì nếu không phải là biện chứng pháp quân sự Macxít.

Một Việt kiều ở Pháp có tâm sự với người viết bài này… Ông ta được một sử gia Mỹ cho hay: Ngay cả Napôlêông khi bước vào đường binh nghiệp thì đã có sẵn một đôi quân để chỉ huy. Tướng Giáp phải xây dựng quân đội từ mấy chục người thành những binh đoàn để lần lượt đánh thắng nhiều danh tướng của cường quốc Pháp như Đờ Lát, Xa Lăng cho đến Na Va ở Điện Biên Phủ… điều đó chưa thấy trong lịch sử quân sự thế giới… Và đây cũng là lần đầu tiên một nước nhỏ đã đánh thắng một đế quốc hùng mạnh, mở đường vùng lên cho các dân tộc đang bị nô lệ”.

… Kể từ lúc Triều Dương ra về, tôi không sao ngủ được. Nằm nghĩ miên man về số phận của Tướng Giáp, hồi tưởng lại những gì tôi đã biết về ông và nhớ tới lời ông trong vụ cái chết bất đắc kỳ tử của Nguyễn Đình Tứ. Con người tinh khôn đến như Nguyễn Đình Tứ cũng không thoát được cạm bẫy và cái chết khi bước chân vào chính trường. Trong một lần xuống Mỹ Tho chơi lúc tôi còn thường trú ở Đồng bằng Sông Cửu long, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã kể về ông tiến sĩ khôn ngoan này, đó là sau năm 1975, trong cơn say chiến thắng, Tổng Bí thư Lê Duẩn nghĩ đến “một Việt Nam cường quốc ở khu vực” nên nảy ra ý định làm bom nguyên tử. Đầu tiên ông Lê Duẩn cho gọi nhà khoa học danh tiếng Trần Đại Nghĩa lên hỏi, có làm được bom nguyên tử  không? Ông Nghĩa trả lời là không. Ông bị Tổng bí thư đuổi về và mắng là đồ ngu, trí thức gì mà ngu như vậy. Sau ngày ông Nghĩa qua đời, tiến sĩ Nguyễn Văn Hiệu có viết bài ca ngợi ông Nghĩa là một người trung thực, có nhân cách…nhưng không nói cụ thể trung thực như thế nào. Chỉ ai biết việc ông từ chối TBT Lê Duẩn về vụ làm bom nguyên tử mới hiểu tiến sĩ vật lý hạt nhân Nguyễn Văn Hiệu muốn nói gì. Ông Viện kể tiếp, sau ông Nghĩa đến lượt tôi được ông Lê Duẩn gọi lên hỏi về vụ làm bom nguyên tử, tôi nói: Làm được! Tổng bí thư nói: Tiếp tục đi… Tôi thưa: Làm được một quả thôi, sau đó phải thử, và không còn vốn liếng để làm quả thứ hai! Thế là tôi cũng bị đuổi về như ông Nghĩa!

Người thứ ba được gọi lên hỏi là phó tến sĩ Nguyễn Đình Tứ, từng làm việc nhiều năm ở Viện Đúp-na, cơ quan nguyên tử hạt nhân hàng đầu của Liên Xô. Ông Tứ còn đưa cả vợ là bác sĩ sang làm bác sĩ của Viện. Khi được hỏi ông Tứ không nói gì cả. Tổng bí thư lại hỏi, ông Tứ vẫn ngồi yên. Lại hỏi, lại ngồi yên… cứ như thế cho đến lúc ông được ra về (!) Nhờ biết im lặng mà ông Tứ được vô trung ương và làm Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp thay ông Tạ Quang Bửu. Tại Đại hội Đảng Lần Thứ VIII, trong phiên họp trù bị ngày 27/6/1996 ông được bầu vào Bộ Chính trị. Ngày 28/6/1996 Đại hội chính thức khai mạc thì tối 28/6 lúc 20 giờ ông chết. Ngày 30/6, ông vẫn được đại hội chính thức bầu vào Bộ Chính trị sau đó mới phát tang. Vì thế mới có dư luận Đại hội VIII bầu cả người đã chết vào Bộ Chính trị. Ông Đỗ Mười phải trấn an là “ai chả biết bầu ở phiên chính thức là…”. Nhưng nếu câu chuyện chỉ có thế thì cũng chẳng có gì đáng nói, vì đã sống trong chế độ cộng sản, ai chả biết cách bầu bán ở các đại hội Đảng. Bầu ở phiên chính thức chỉ là để … quay phim, chụp ảnh… Cái đáng nói là, một phóng viên của Hãnh tin Pháp, sau phiên họp trù bị 27/6/1996 đã điện về Paris cái tin có nội dung: Ông Nguyễn Đình Tứ đã được bầu vào Bộ Chinh trị, nhưng lại thòng cái đuôi “nhưng chưa chắc” ở cuối tin! Lãnh đạo của Hãng tin ở Paris lấy làm lạ, không biết ra thế nào nên điện hỏi ông Bùi Tín ở Paris. Ông Bùi Tín cũng không hiểu thế nào, lại điện hỏi ông Nguyễn Đình Thiên, anh ruột của ông Nguyễn Đình Tứ, hai vợ chồng đang định cư ở Balan. Ông Thiên cũng không hiểu thế nào và tối hôm đó ông điện về nhà hỏi ông bố đẻ của mình xem tình hình ra sao thì nhận được tin: – Em con vừa mất!!!

Gia đình ông Tứ có tất cả 6 anh em trai, được cha mẹ đặt tên là Thiên, Tứ, Lương, Đống, Nhân, Nghĩa, toàn những cái tên hay (Thiên-Tứ, Lương-Đống, Nhân-Nghĩa). Và cả 6 anh em đều học cao, đỗ đạt cao. Người anh cả Nguyễn Đình Thiên là thầy giáo cấp 3, dậy cùng trường Trung cấp Sư phạm Xã hội tỉnh Hải Hưng với tôi 3 năm liền (1967-1970). Khi ở Balan về thăm quê nhà, anh đã kể cho tôi và bạn bè nghe câu chuyện trên. Anh cho biết khi Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm gia đình sau cái chết của anh Tứ, ông đã mắng vợ Tứ: Cô là bác sĩ mà sao dốt thế, không biết bảo vệ chồng. Nếu tôi để người ta đưa đi kiểm tra sức khỏe thì tôi đã chết từ lâu rồi! (Chả là, sau bữa cơm tối, người ta đem xe đến nhà ông, bảo ông Tứ đi kiểm tra sức khỏe và ông đã chết đột ngột tại bệnh viện!).

Võ Nguyên Gíap là người lẽ ra “đã chết từ lâu rồi” với những hiềm tị, ganh ghét của các “đồng chí” của ông. Nhờ ông biết tôn thờ chữ “nhẫn”, nói đúng hơn là “nhẫn nhục” để sống đến hôm nay. Nhà văn Trần Đình Hiến, từng 10 năm làm tham tán văn hóa tại Đại sứ quán ta tại Trung Quốc, dịch giả hàng đầu các tác phẩm văn học Trung Quốc đương đại sang tiếng Việt của các tác giả như Mạc Ngôn, Gỉa Bình Ao, Vệ Tuệ v.v. trong một quán càfê gần trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam ở đường Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội, sáng ngày 16/4/2013 vừa qua, có cả bác sĩ, tù nhân lương tâm Phạm Hồng Sơn và tôi cùng ngồi đàm đạo, ông đã kể: – Sau chiến tranh biên giới với Trung Quốc 1979, tên Trọng Hy Đông ở Uỷ ban Kiều vụ, Quốc vụ Viện TQ, hàm ngang bộ trưởng, sang Việt Nam để giải quyết các vấn đề hậu chiến tranh như tù binh v.v., ông được mời đến để phiên dịch cho cuộc làm việc giữa hai bên. Khi xe của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp vừa đến cũng là lúc xe của Lê Duẩn vừa tới, Lê Duẩn đã chỉ vào mặt Võ Đại tướng và nói như quát: – Cuộc họp không có anh! Võ Nguyên Giáp nói: – Vậy tôi về. Thế là cụ Võ lủi thủi lên xe ra về. Kể đến đây nhà văn Trần Đình Hiến kết luận: Tôi không thể ngờ những người lãnh đạo tối cao của đất nước lại đối xử với nhau như xã hội đen như thế! Nhất là lại công khai trước mặt tất cả mọi người!

Vô sản gắn liền với vô học là ở chỗ đó!

Đánh giá về cuộc đời và sự nghiệp của Võ Nguyên Giáp là một việc lớn, sẽ còn tốn nhiều giấy mực của các sử gia Việt Nam và  thế giới. Việc đó dành cho các cây bút lớn! Riêng với tôi, một nhà báo nhiều lần được gặp Võ Đại tướng, trong nhiều trường hợp, kể cả gặp riêng tại nhà riêng của ông ở 30 Hoàng Diệu, Hà Nội, gặp một thời gian dài trong chuyến ông lên thăm ĐBP sau 40 năm chiến thắng (1994)… rồi lại đọc kỹ các hồi ký của ông do nhà văn Hữu Mai chấp bút, đàm đạo với Hữu Mai, đọc kỹ các tác giả nước ngoài viết về Điện Biên Phủ… tôi có nhận xét rằng, ông là một vị tướng biết tiết kiệm từng giọt máu của đồng đội để làm nên chiến thắng, chăm lo cho binh lính của mình từng miếng cơm nóng trong bữa ăn ngay giữa chiến trường máu lửa. Ông là con người võ mà văn – văn mà võ!

Về tác phong, cái con người được báo chí Phương Tây gọi bằng cái tên “Vainquer de Điện Biên Phủ” (kẻ chiến thắng ở ĐBP) lại là một người có tác phong rất Tây, nói rất Tây, ăn rất Tây… Những ngày tháp tùng ông năm 1994 đi thăm lại chiến trường xưa sau 40 năm… lâu lâu tôi lại thấy người sĩ quan tùy tùng của ông đưa cho ông một quả chuối và một hộp pho-mai… ông điềm tĩnh bóc chuối và lấy khoanh pho-mai ra ăn trước đông đủ cử tọa rồi lại tiếp tục làm việc. Tấm hình chụp Đại Tướng đang ăn chuối với pho-mai trước mọi cử tọa, tôi vẫn còn giữ đến bây giờ, xem nó như một cú bấm máy “đáng tiền” trong đời làm báo của tôi! Ăn chuối với pho-mai cho người già sức khỏe tốt, có lẽ vì thế mà Đại tướng sống đến trăm tuổi. Tôi xin mở ngoặc ở đây để chứng minh điều tôi nói. Một lần, trong một ngày hội đua ghe ngo truyền thống của đồng bào Khơ-me ở Sóc Trăng, trước cuộc đua có tổ chức biểu diễn lướt ván của vận động viên từ TPHCM xuống góp vui. Người ta giới thiệu có một vận động viên đã trên 70 tuổi tham dự. Mọi người đã sửng sốt về tài nghệ lướt ván của vận động viên U80 này. Tôi phải len xuống sông để gặp ông, ông cho biết, nhờ ăn chuối với pho-mai… trừ bữa, nên “khỏe là vậy”!

Lại nói vể tác phong “rất Tây” của Đại Tướng, khi giao tiếp, để phụ trợ cho lời nói, ông thường nheo mắt, nhún vai, khoát tay… Khi cần chọn một từ dùng cho thật chính xác, ông thường dừng lại, suy nghĩ ít giây, và chen vào đó một từ Tiếng Pháp (!). Người Pháp có câu ngạn ngữ tự hào về tiếng nói của mình: “cái gì không trong sáng không phải là Tiếng Pháp”! Có lẽ ông bị “ảnh hưởng” về sự trong sáng ấy của Tiếng Pháp chăng? Nhưng người có tác phong rất Tây ấy lại là người Việt Nam đánh Tây cấp… đại tướng. Nếu cứ xét, cứ nhìn theo “con mắt giai cấp” thì ông Giáp là người có vấn đề. Và buồn thay, người ta đã lợi dụng sự ngu ngơ này của số đông để có lần, ở Đại hội Đảng  lần thứ 6, tung ra tin “ông Giáp là con nuôi của một tên thực dân Pháp”!

Về tướng Giáp, tôi cũng có nhận xét, thử nêu ra để bạn đọc tham khảo: Ông Giáp “có đóng góp riêng cho môn ngôn ngữ học”! Tôi nghĩ vậy. Ông đã biến một danh từ chung của Việt Nam thành một danh từ riêng. Hiển nhiên là ở Việt Nam, nếu một ai đó nói: Tôi vừa được gặp đại tướng, thì người ta hiểu rằng người đó vừa được gặp ông Võ Nguyên Giáp, chứ không ai lại hiểu rằng anh ta vừa khoe được gặp ông Lê Đức Anh, ông Mai Chí Thọ, ông Lê Hồng Anh… mặc dù các ông ấy đều là đại tướng. “Đại tướng” từ một danh từ chung, đã trở thành một danh từ riêng trong ngôn ngữ của người Việt đương đại, chỉ để dành cho Võ Nguyên Giáp. Những ý kiến cho rằng, phải phong cho ông Giáp là Nguyên soái chỉ là những suy nghĩ chưa chín. Chỉ có nhân dân mới là người sáng suốt nhất khi đã biến một danh từ chung thành một danh từ riêng: “Đại Tướng”. Với người Pháp thì danh từ riêng “Điện Biên Phủ” lại được người ta biến thành một động từ chỉ hành động “đánh mạnh”, “đánh thật mạnh”, “đánh cho không còn mảnh giáp” v.v. và v.v. Danh từ Điện Biên Phủ biến thành động từ “dienbienphuer”. Cái đuôi “er” của Tiếng Pháp gắn vào chữ Điện-Biên-Phủ viết liền trở thành “đánh mạnh”! Nếu một vị sĩ quan Pháp ra lệnh: – Dienbienphuer, có nghĩa là… tấn công mãnh liệt vào đối phương! Có lẽ chính vì thế mà nhân kỷ niệm 50 năm chiến dịch Điện Biên Phủ, ở Paris đã có một cuộc hội thảo lớn, có mời nhiều nhà sử học, quân sự, ngoại giao tên tuổi từ nhiều nước đến dự. Cuộc hội thảo đó có tên là “chia sẻ hồi ức Điện Biên Phủ”. Người Pháp có mời Việt Nam. Nhưng tôi xem trong danh sách đi dự cuộc hội thảo năm đó ở Paris (2004) của Việt Nam thì toàn là những nhân vật “vô danh tiểu tốt”, và… không có Đại Tướng!

Nhân chuyến đi thăm lại Điện Biên Phủ vừa qua (tháng 4/2013), để chuẩn bị tái bản cuốn “Tại sao Điện Biên Phủ?” của tôi đã xuất bản năm 2004 do NXB Thanh Niên ấn hành, dạo chơi trên đường phố ĐBP hôm nay, tôi thấy các tên dường như: Bế Văn Đàn, Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn v.v. Tôi trộm nghĩ, nếu có một tên đường mang tên tướng De Castries để “chia sẻ hồi ức Điện Biên Phủ” thì cũng không có gì là quá đáng, nó chỉ là để hai dân tộc Việt-Pháp “làm lành” với nhau (réconsilies) sau những “sự hàm hồ của lịch sử” như một trung sĩ Pháp từng dự trận Điện Biên, rồi quay lại Điện Biện sau 40 năm đã nói với Trí Việt, trên đồi Him Lam mà tôi đã nghe được hôm đó !

Tác giả phỏng vấn Đại Tướng tại nhà riêng của ông tại 30 Hoàng Diệu Hà nội (2004)
Phỏng vấn “Tư lệnh một khẩu pháo” Dư Văn Tư
Nữ phóng viên nhiếp ảnh Mỹ Catherine và tác giả trên chuyến chuyên cơ đi Điện Biên Phủ tháng 4/1994
Đại tướng đang ăn chuối và pho mai… rất đúng giờ (ĐBP 4/1994) – ảnh Lê Phú Khải

– – – – –

VÕ VĂN KIỆT

Ông Võ Văn Kiệt tên thật là Phan Văn Hòa, là con út trong một gia đình nông dân không ruộng đất ở xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Ở quê ông thường được gọi là Chín Hòa, theo cách gọi của Nam Bộ. Ở ấp Bình Phụng làng Trung Lương (nay là xã Trung Hiệp) ai cũng biết ông Phan văn Dựa và bà Võ Thị Quế là gia đình nghèo, không ruộng đất, không có cả đất thổ cư, chỉ có đôi bàn tay lao động làm mướn, hoặc mướn ruộng để làm. Nhà có 8 người con, 6 trai, 2 gái. Năm 1922, hạn hán mất mùa, người làm mướn nhiều, người thuê mướn thì ít, cuộc sống gia đình ông Phan Văn Dựa càng khốn khó. Một người bà con xa đẻ hoang đến nhờ bà Quế nuôi vú đứa trẻ, vừa để tránh tai tiếng, vừa để giúp bà Quế một số tiền nuôi con trong lúc ngặt nghèo. Thấy tình cảnh đó, ông chú họ Phan Văn Chi không có con nên xin Chín Hòa về nuôi. Chín Hòa ở với ông già nuôi phải đi bú thép, tức bú trực, bú nhờ dòng sữa tình thương của bà con làng xóm. Lớn lên Chín Hòa chỉ học bập bõm với ông giáo dạy trong xóm. Mười hai tuổi Chín Hòa đã đi làm mướn, gánh nước, coi trâu. Mười bốn tuổi Chín Hòa đi ở đợ cho gia đình bà Sáu Hộ trong làng, xay lúa, giã gạo… quần quật suốt ngày. Mười lăm tuổi Chín Hòa đã đi ở đợ cho một chủ khác, làm vườn, chăn gà, giặt giũ quần áo cho chủ. Năm 1938 mẹ mất. Chín Hòa về chịu tang. Tại đám tang, người thanh niên Chín Hòa có dịp gặp ông Hà Văn Út đến chia buồn. Ông Út đã cảm hóa và giác ngộ được nhiều thanh niên về “quốc sự ” trong đó có Chín Hòa. Từ đó Chín Hòa thấy trong lòng có một cái gì đó gợi mở, vươn tới… Vừa lúc đó “Hội Tương tế ái hữu” ra đời, tổ chức giúp đỡ người nghèo khó, bệnh họan, tang tế. Chín Hòa cùng một người ở mướn là chị Năm Mão tích cực tham gia họat động trong Hội Tương tế… rồi tìm thầy học văn hóa, học võ, tìm học nhiều việc, nhiều nghề…

Chín Hòa sau đó đã bàn với ông chú cho anh đi thóat ly để họat động như các anh chị hoạt động cách mạng thường lui tới nhà vận động. Ông chú đồng ý cho Chín Hòa đi ở đợ một mùa (6 tháng) để lấy tiền nuôi gia đình, thời gian còn lại đi hoạt động. Từ đó, anh có quan hệ rộng rãi ngoài xã hội, hoạt động theo yêu cầu của tổ chức, đi giao liên, chuyển tài liệu mật. Anh hoạt động tích cực, được sự tín nhiệm của cán bộ huyện, tỉnh. Chín Hòa được đồng chí Châu Xương (tức Tạ Uyên) kết nạp vào Đảng. Gần ngày khởi nghĩa Nam Kỳ (1940) anh được cử làm bí thư xã Trung Hiệp.

Pháp thất thế, rồi Pháp – Xiêm đánh nhau, cả Lục tỉnh Nam Kỳ rạo rực…

Đêm 22.11.1940, khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ, Chín Hòa lúc đó 18 tuổi, là người dẫn đầu quân khởi nghĩa của hai xã đánh đồn Nước Xoáy. Nhà văn Thép Mới đã ghi lại lời Võ Văn Kiệt kể: “Tôi được mang lực lượng hai xã đi làm nhiệm vụ chiếm bắc Nước Xóay. Đến 23 tháng 11 trước nửa đêm, chúng tôi từ quê nhà mình xuất phát, khoảng một trăm anh em, phần lớn là thanh niên trong tay chỉ có giáo mác, gậy gộc, hành quân lội bộ 10 ki lô mét, cứ thẳng đường cái mà đi. Chúng tôi, ngoài cây mác còn có một ống loa làm bằng sắt thùng, trong đầu chỉ có một phương án tác chiến thô sơ, hết sức ấu trĩ vì chỉ tính có một tình huống là thắng mà thôi.

Lúa mùa lên đã hơi cao. Đoàn quân đi cuớp đồn lòng vui như lúa vậy. Con sông Mang Thít xanh đen. Đồn lính bên kia sông thuộc quận Tam Bình, phải qua bắc (phà) mới sang được. Vừa lúc đó, có một chiếc xe hơi du lịch từ Vũng Liêm lên. Đó là xe của một tên cai tổng trong vùng, chỉ có lái xe, không có chủ ngồi. Chúng tôi chặn xe lại, bắt xe gọi phà qua rước. Xe rọi đèn, bắt phải chèo qua ngay. Cả một trăm người theo chiếc xe con xuống bắc hết. Công nhân lái bắc thấy lạ, chúng tôi trấn tĩnh họ ngay, ra lệnh cứ chở sang đến bờ bên kia, xe bò lên rọi đèn thấy rõ đồn, lính ngủ trong mùng, nằm la liệt trước đồn, vài tên lính gác đứng lớ ngớ chừng như buồn ngủ rủ.

Xe tới ngang đồn, chúng tôi cho người giữ xe đứng lại, còn toàn bộ lực lượng ráp vô đồn. Lính đang ngủ trở tay không kịp, chạy toán loạn. Chúng tôi vây bắt lại tước hết súng, rồi theo kế hoạch đã định, phân công người mang đục, búa xuống đục chìm phà thả theo nước lớn. Một số anh em khác leo lên dùng giáo, mác chặt đứt hết dây thép cắt đường thông tin liên lạc. Xong xuôi tất cả rồi, tôi mới leo lên cổng đồn bắt loa kêu gọi đồng bào nổi dậy đánh đổ ách thống trị của thực dân đế quốc phong kiến. Lấy xong đồn Nước Xoáy chúng tôi ung dung lắm, phấn khởi lắm, đinh ninh là giờ này Sài Gòn với thị xã Vĩnh Long cũng nổi dậy xong. (Trích Khởi nghĩa Nam kỳ ở Vĩnh Long – Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Vĩnh Long xuất bản).

Vì không nhớ ngày sinh nên ông Kiệt lấy ngày Nam Kỳ khởi nghĩa làm ngày sinh nhật của mình: 23 tháng 11. Cũng vì thế mà đến năm ông tròn 85 tuổi, theo gợi ý của tiến sĩ Tô Văn Trường, tôi đã viết một bài mừng thọ ông trên Báo SGGP số ra ngày 23.11.2007, bài báo đó có nhan đề “phong độ, bản lĩnh và sáng tạo”. Kết thúc bài báo tôi nhớ đến hình ảnh người thanh niên 18 tuổi Chín Hòa dẫn đầu đoàn khởi nghĩa đi cướp đồn giặc năm xưa nên đã đề tặng ông một câu đối:

    Áo vải cờ đào, thời thanh xuân là anh hùng cứu nước

    Giấy trắng mực đen, tuổi tám lăm thành hào Kiệt của Dân.

Chữ “Kiệt” và chữ “Dân” tôi viết hoa là có ý “chơi chữ” vì Kiệt và Dân đều là tên của ông: Sáu Kiệt, Sáu Dân!

Ngày 11.6.2008 ông ra đi. Để kỷ niệm lần thứ 86 ngày sinh của ông, tôi đã tập hợp 7 bài viết của mình khi ông còn sống cũng như sau ngày mất và nhiều bài của các tác giả khác để cho in cuốn sách nhan đề: “hào Kiệt của Dân”. Chữ “hào” và chữ “của” viết thường, chữ “Kiệt” và chữ “Dân” viết hoa để “chơi chữ”. Nhưng ông trưởng ban Tuyên huấn Thành ủy Phan Xuân Biên kiên quyết không cho lấy tên sách như thế. Ông ta sợ… ông ta đề phòng… ông ta lo xa… như tôi đã nói ở đầu sách. Cuối cùng sách phải lấy tên là: Võ Văn Kiệt, một cái đề sách rất “trung bình”, do Nhà xuất bản Tổng hợp TPHCM in năm 2008 (!) Có người đã mắng tôi: – Sao anh ngu thế! Sao không đem sách về tỉnh Vĩnh Long mà in!? Có lẽ tôi ngu thật. Nghĩ đến bây giờ vẫn tiếc.

Lần đầu tiên tôi gặp ông Võ Văn Kiệt là vào năm 1988, khi đó ông là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đi khảo sát kiểm tra vùng khai hoang Đồng Tháp Mười ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Đêm đoàn ngủ lại ở nông trường khai hoang trồng khóm (dứa) Tân Lập thuộc tỉnh Tiền Giang, tỉnh có 90.000 hec ta thuộc Đồng Tháp Mười.

Tôi đã nhận ra ngay từ phút đầu gặp gỡ, Võ Văn Kiệt là một con người hóm hỉnh, humour… Từ đó về sau, tôi không nhớ đã gặp ông bao nhiêu lần “trên từng cây số” ở Đồng bằng Sông Cửu Long, ở các hội nghị hay ở nhà riêng 16 Tú Xương của ông. Trong suốt cuộc đời làm báo quốc doanh gần 30 năm cho đến lúc về hưu (2002), tôi đã trực tiếp tháp tùng, ghi âm, đưa tin, viết bài về hoạt động của 5 đời thủ tướng, từ Phạm Văn Đồng đến Phan Văn Khải… chỉ có Võ Văn Kiệt là để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng tôi. Cũng xin mở ngoặc nói thêm, như đã nói ở phần trên, các phóng viên ở nước ta chỉ cần làm báo được dăm năm là phấn đấu vào Đảng, tìm một ghế phó phòng, trưởng phòng biên tập để tiến thân bằng con đường quan chức trong nghề báo. Có ghế rồi, họ ngồi ở tòa soạn, có phòng lạnh, sa lông, tiêu chuẩn này, tiêu chuẩn nọ, sai phái phóng viên đi viết tin này, bài kia, và họ chỉ biết có bốn bức tường. Tôi làm phóng viên suốt đời, lúc về hưu hưởng lương phóng viên bậc 10/10, rất thấp, được có 850.000 đồng vào năm 2002. Nhưng tôi rất bằng lòng với công việc mình lựa chọn vì tôi được trực tiếp làm việc, quan sát hoạt động của xã hội. Trong các đợt đi công tác, đến các điểm nóng của đất nước, đến các hội nghị, các cuộc họp báo… tôi luôn là anh phóng viên nhiều tuổi nhất và cũng là người quen biết nhiều, đó là lợi thế của một người cầm bút.

Một quy định rất quái gở của nhà nước là, nếu một cuộc hội nghị có Thủ tướng Chính phủ chủ trì thì chỉ có báo, đài loại A gồm: Thông tấn xã VN, Báo Nhân dân, Đài Tiếng nói VN và Đài Truyền hình VN… là được dự, các báo ngành, báo địa phương không được dự. Tôi thuộc báo loại A nên luôn được tiếp cận các cuộc họp do Thủ tướng chủ trì (ở phía Nam).

Thủ tướng Võ Văn Kiệt, người mà tôi có may mắn nhiều lần được tiếp xúc, làm việc do ở vị trí người lính “xung kích” của nghề báo, đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng đẹp, trước hết là ở thái độ lắng nghe, dám nghe, chấp nhận đối thoại với mọi tầng lớp, đặc biệt là giới trí thức, văn nghệ sĩ, báo chí. Anh em trí thức thành phố Sài Gòn lưu truyền một câu chuyện có thực là sau 30.4.1975 nhiều trí thức đã vượt biên và ông Kiệt là người đi đón các anh em trí thức đó về khi vượt biên không thành, bị giữ. Trong một cuộc họp với giới trí thức thành phố, ông nói đại ý: – Anh em cố nán lại, nếu trong vòng ba năm nữa mà tình hình không thay đổi thì anh em không cần phải vượt biên mà chính ông sẽ là người tiễn anh em đi… Một vị trí thức có tên tuổi lúc đó đã đứng lên nói: – Nếu ba năm nữa mà tình hình không thay đổi thì người ra đi là chính các ông chứ không phải chúng tôi! Không khí hội nghị trở nên căng thẳng, ai cũng lo cho số phận của ông trí thức “to gan” ấy… Nhưng sau đó đã không có gì xẩy ra…

Nhà báo Lưu Trọng Văn, con trai nhà thơ nổi tiếng Lưu Trọng Lư có kể với tôi rằng, trong một cuộc gặp gỡ lãnh đạo báo chí, mọi người đã hùa theo, tâng bốc lời phát biểu của ông Võ Văn Kiệt… nhưng Lưu Trọng Văn đã phản bác hoàn toàn ý kiến ông Kiệt, lời lẽ của anh còn gay gắt, nặng nề… Ông Kiệt đã nổi nóng…

Nhà báo Lưu Trọng Văn kể tiếp: – Tôi quan sát rất kỹ, ông ta giơ tay lên, định đập mạnh xuống bàn… Nhưng khi bàn tay sắp chạm mặt bàn thì… ông dừng tay lại… ôn tồn nói… và sau đó còn gặp riêng tôi để trao đổi… Khi đã hiểu nhau rồi thì ông tỏ ra rất hài lòng với tôi…

Nhà thơ Nguyễn Duy có lần đến nhà tôi chơi, dự một bữa liên hoan vui vẻ cùng bạn bè, anh đã kể cho mọi người nghe, đại ý… có lần tại nhà Nguyễn Quang Sáng, các anh liên hoan tiễn ông Sáu Kiệt đi ra Trung ương nhận nhiệm vụ… Cao hứng, Duy có đọc cho ông Kiệt nghe bài thơ dài có tên là: “Đánh thức tiềm lực”. Đây là một trong những bài thơ nổi tiếng của Duy, phê phán gay gắt các nhà lãnh đạo đất nước thời đó (đầu thập kỷ 80) vì “Tiềm lực còn ngủ yên trong bộ óc mang khối u tự mãn”, vì “Tiềm lực còn ngủ yên trong lỗ tai viêm chai màng nhĩ”… Nhà thơ Nguyễn Duy kết luận: “Ông Kiệt ngồi yên lắng nghe, sau đó ông nói : – Nặng lắm nhưng chịu được!”.

Võ Văn Kiệt là người chịu được những lời chỉ trích nặng nề của nhân dân đối với lãnh đạo. Đó là phẩm chất của một nhà lãnh đạo có bản lĩnh và trung thực. Viết đến đây tôi lại nhớ đến ông Phạm Văn Đồng. Anh bạn tôi là một giáo viên của trường trung học Chu Văn An, tức trường Bưởi cũ, nơi ông Đồng đã từng học. Khi ông là Thủ tướng, nhà trường kỷ niệm ngày thành lập trường, có mời Thủ tướng, học sinh cũ của trường Bưởi về dự. Trước buổi Thủ tướng đến, anh thư ký của Thủ tướng đã đến trước, họp với Ban giám hiệu và giáo viên, dặn dò rằng: Đừng nói gì những chuyện gay gắt, tiêu cực trong xã hội làm… ảnh hưởng đến sức khỏe Thủ tướng! Các nhà lãnh đạo của ta là rứa! Chỉ thích nghe tang bốc, nịnh bợ!

Riêng với tôi, may mắn được nhiều lần trò chuyện tâm tình với ông Kiệt (khi ông đã thôi làm Thủ tướng, có thời gian rảnh rỗi…), tôi ghi nhận được nhiều điều. Lần tôi thay mặt Tạp chí “Nghề báo” của Hội nhà báo thành phố HCM, phỏng vấn ông những vấn đề xoay quanh quan hệ giữa báo chí và chính trị, đi sâu vào những chuyện ngóc ngách của nghề báo… của một tạp chí chuyên ngành, chuyên sâu về báo chí này… Ông đã cho thư ký kêu tôi lên vào buổi tối để có nhiều thời gian làm việc. Tại buổi tối làm việc đó ở 16 Tú Xương, ông Kiệt đã kể cho tôi nghe sự gắn bó của ông với báo chí từ những ngày chống Pháp xa xưa. Ông “khoe”: “Thời chống Pháp lúc tôi phụ trách huyện rồi lên tỉnh, cơ quan của huyện và cơ quan của tờ báo “Tiếng súng kháng địch” của Quân khu 9 đều ở trong tỉnh Rạch Giá. Tôi quan hệ thân thiết với các nhà báo và được biết sớm các thông tin, nhất là tin chiến trường. Tôi thường xuyên liên hệ và cùng trao đổi tình hình với anh em ở báo “Tiếng súng kháng địch” của Quân khu 9 như : Rum Bảo Việt, Lê Minh Hiền, Ung Văn Khương… Đó là thời kỳ kháng chiến chống Pháp, sau này, trong kháng chiến chống Mỹ thì tôi thường liên hệ với anh em làm báo Giải phóng của R (Trung ương Cục) và anh em đặc trách báo chí công khai ở Sài Gòn”. Ông cũng cho tôi cái nhìn toàn cảnh và công bằng về báo chí TPHCM sau 1975: “Sau ngày giải phóng ta tiếp quản đài truyền hình, đài phát thanh và phát sóng sớm nhất . Còn báo viết thì mất mấy ngày sau mới có báo Sài Gòn Giải phóng. Thành phố cũng nhanh chóng tiếp nhận báo Nhân dân, báo Quân đội Nhân dân… nhưng số lượng không nhiều và thông tin chưa thật sát với bà con thành phố. Đối với dân Sài Gòn, từ lâu đọc báo như một nhu cầu thành thói quen không thể thiếu vào buổi sáng. Việc thay đổi và thiếu báo như thế làm bà con có phần hụt hẫng. Vì vậy chúng tôi cùng với anh em tuyên huấn tập trung lo cho báo chí rất nhiều, nhanh chóng cho xuất bản các tờ Tuổi Trẻ, Phụ nữ, Công nhân Giải phóng… Thành ủy còn có chủ trương rất sớm cho tờ Tia Sáng – tờ báo của anh  em đối lập với chính quyền Sài Gòn trong khánh chiến chống Mỹ tiếp tục xuất bản hàng ngày. Vài tháng sau, tờ Công giáo và Dân tộc được ra mắt bạn đọc. Rồi tiếp đến thêm tờ Giác ngộ của Phật giáo phát hành. Lực lượng báo chí hợp lại ngày càng mạnh. Nhưng phải đánh giá một cách công bằng rằng, bên cạnh các tờ báo của Đảng, của các đoàn thể, vai trò của báo Tia sáng, báo Công giáo và Dân tộc, báo Giác ngộ đã góp phần tích cực trong những năm đầu giải phóng, đúng như chủ trương của Thành ủy và ủy ban lúc bấy giờ. Chính thói quen tốt – đọc báo – của Sài Gòn giúp họ biết các chủ trương của chính quyền những ngày đầu giải phóng. Vì thế lúc bấy giờ, chúng tôi quan tâm chăm sóc và góp sức nhiều với anh em làm báo…”. Khi bàn đến quan hệ giữa người lãnh đạo và báo chí, ông khẳng định: “Báo chí là một kênh thông tin rất quan trọng, không thể thiếu được với lãnh đạo và điều hành đất nước. Khi tôi điều hành chính phủ, ngoài trực tiếp đọc, nghe một số thông tin cần thiết, hàng tuần anh em TTXVN còn đến báo cáo tổng hợp. Văn phòng Chính phủ có một Vụ theo dõi báo chí, điểm báo hàng ngày, tóm lược những thông tin trên báo chí những bài có liên quan đến công việc điều hành của Chính phủ, giúp cho sự chỉ đạo, khẳng định cái đúng cũng như giải quyết những việc chưa phù hợp, qua đó biết những mặt tích cực và tiêu cực của xã hội, cũng như trong bộ máy nhà nước, những trì trệ, cửa quyền v.v. Điều này rất có lợi vì ta truyền tải thông tin quan thông tin đại chúng, đại chúng cũng qua báo chí phản ánh tình hình trở lại với Đảng, với Nhà nước. Qua thông tin trên báo chí, người điều hành có thể giải quyết, xử lý, phát hiện những cái mà bên dưới chưa kịp báo cáo hoặc không đi vào ngóc ngách như báo chí. Có nhiều trường hợp, ví dụ như qua nghe đài, xem báo và điểm báo, có vấn đề gì liên quan đến các Bộ, Ngành, địa phương thì kiểm tra lại thông tin hoặc trích chuyển bên dưới trực tiếp giải quyết, thấy cần thì cho người kiểm tra trực tiếp hoặc giao cho cơ quan thanh tra xác minh những sự việc thông tin trên báo chí.”

Ông cũng phản đối việc phân báo chí ra thành loại A, loại B như tôi đã kể ở trên. Ông mạnh mẽ khẳng định: “chúng ta có hàng chục nghìn nhà báo đang có mặt ở khắp mọi miền đất nước, am hiểu thực tế và có thể nắm bắt kịp thời mọi diễn biến xã hội. Nếu chỉ sử dụng báo chí nói một chiều theo ý mình, sẽ không phát huy được tính năng động sáng tạo của đội ngũ nhà báo đông đảo đó. Báo chí “một chiều” chỉ có thể trở thành những công cụ dễ dàng làm vừa lòng mình nhưng không thực sự giúp được gì cho mình. Trong điều kiện một Đảng lãnh đạo, báo chí càng cần phải trở thành một kênh thông tin từ nhân dân, một công cụ giám sát quyền lực. Nhà nước của nhân dân, vừa phát hiện và vừa đóng vai trò phản biện. Nếu báo chí thụ động, các nhà báo cứ quen chờ đợi sự chỉ đạo, chúng ta sẽ thường xuyên bị động trên mặt trận thông tin. Về kinh tế, Việt Nam đã từng bước hội nhập. Về phương diện thông tin, Việt Nam càng không thể biệt lập với bên ngoài. Trong thời đại ngày nay, nếu báo chí trong nước tạo ra bất cứ khoảng trống nào về thông tin, báo chí bên ngoài sẽ ngay lập tức chiếm chỗ. “Bức tường” tốt nhất để ngăn cản các thông tin xấu là chủ động thông tin và tạo ra không khí đối thoại cởi mở trong xã hội.

Báo chí cũng đang đứng trước không ít cám dỗ. Nếu coi báo chí như là một thứ quyền lực đứng trên pháp luật thì nhà báo cũng rất dễ bị tha hóa. Các nhà báo và các hoạt động báo chí cũng rất dễ bị tha hóa. Các nhà báo và các hoạt động báo chí cũng phải được đặt dưới sự chế tài của luật pháp. Ngược lại, xử lý những sai sót của báo chí và của các nhà báo cũng phải căn cứ vào pháp luật. Tôi tin rằng, các nhà báo chân chính, dám nói tiếng nói của đông đảo quần chúng nhân dân, không cầu an khi dấn thân vào nghề này. Nhưng sẽ không công bằng khi những nhà báo thật sự dũng cảm, dám đương đầu với tham nhũng, chống lại cái xấu và cổ động cho cái mới, tốt đẹp lại phải chịu nhiều “bầm dập”.”

Cuối cùng, điều mà tôi cho là then chốt nhất với báo chí là phản ánh sự thật. Trong vấn đề này, tôi không ngờ ông Võ Văn Kiệt đã “dám” trả lời công khai với một tờ báo “lề phải” rằng: “Trên tinh thần cầu thị, chúng ta sẵn sàng nghe những ý kiến phản ánh sai sót, khuyết điểm của mình nếu đó là sự thật, không phân biệt ý kiến đó là của ai, với động cơ gì!”.

Tôi thực sự xúc động khi nghe ông trả lời như thế: “Nếu đó là sự thật!”, và không phân biệt lời nói đó  “là của ai, với động cơ gì”!

Một chế độ độc tài toàn trị bao giờ cũng tồn tại trên sự dối trá, lừa mị nhân dân. Người ta đã chế tạo ra cả điều 88 của bộ luật này nọ để sẵn sang còng tay bất cứ ai nói lên sự thật, và sẵn sang vu khống cho người đó là “lợi dụng dân chủ để chống phá nhà nước” v.v. và v.v.

Chỉ có những người cách mạng chân chính mới dám chấp nhận nghe sự thật. Tôi không đồng ý với những người chống cộng cực đoan: – Hễ là “cộng sản” thì không chơi được! Ông Kiệt là một người cộng sản “chơi được” theo tôi nghĩ. Chỉ cần tiêu diệt, lật đổ một thể chế sinh ra cái xấu, cái ác. Không bao giờ tiêu diệt con người. Ngay cả chế độ phong kiến thối nát, lạc hậu là thế, nhưng cũng có những ông vua sáng, những ông quan thanh liêm. Họ có vai trò nhất định của họ trong lịch sử. Và, lịch sử là sự nối tiếp, kế thừa. Phải nghĩ như vậy và phải làm như vậy, nhất là đối với hoàn cảnh của Việt Nam. Có lẽ, nói về sự tôn trọng ý kiến đối lập của ông Võ Văn Kiệt thì không gì hơn là câu chuyện của nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng – Tiến sĩ Nguyễn Xuân Tụ, bút hiệu là Hà Sĩ Phu. Năm 1988, anh Phu viết bài “Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ” xôn xao dư luận cả nước. Ông Nguyễn Văn Linh rất thù ghét bài viết này. Thời ông làm Tổng Bí thư đã có chỉ đạo cho giới cầm bút, đúng hơn là giới bồi bút phải “đánh” bài đó. Đầu năm 1989, tôi từ Mỹ Tho lên Đà Lạt thăm anh Phu, anh Phu kể: – Tôi là “anh hùng bắt buộc” vì tôi viết “chơi” thế thôi, ai dè chị Đặng Việt Nga, con gái của cụ Trường Chinh đã gửi cho các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị mỗi người một bản. Tôi lại hỏi anh Phu: – Thế ý kiến của BCT thế nào? Anh Phu trả lời : – Chỉ có ông Kiệt nói rằng: “Người ta viết ra, nếu mình thấy không chấp nhận thì thôi…”

Cố vấn Võ Văn Kiệt và tác giả tại nhà riêng của ông 16 Tú Xương TP HCM (4/2003)
Thủ tướng Võ Văn Kiệt hóa trang đi “vi hành” kiểm tra đê Yên Phụ bị lấn chiếm khu vực bảo vệ đê năm 1996 sau đó đi chơi phố Hàng Đào. Ảnh Minh Đạo – TTXVN

Nếu mỗi người lãnh đạo Việt Nam đều nghĩ được như ông Võ Văn Kiệt thì “Đảng ta” không đến nông nỗi như ngày nay!!!

Cuộc phỏng vấn của tôi tối hôm đó với ông Kiệt đã kết thúc tốt đẹp. Lúc chia tay, ông vỗ vai tôi nói: – Tôi nghĩ, phần lớn các nhà báo không chọn báo chí như là một nghề chỉ để kiếm sống, có phải không nhà báo?

Còn có gì hạnh phúc hơn với một nhà báo khi được người ta nghĩ về nghề nghiệp của mình như thế.

Và chính tác giả Võ Văn Kiệt là một nhà báo xuất sắc, là người cầm bút đứng giữa dòng chảy của cuộc sống để viết nên những tác phẩm báo chí có sức lay động lòng người như bạn đọc cả nước đã thấy. Ông viết bài phản đối việc gạt người nghèo ra bên lề xã hội trong việc cướp đất ruộng của dân làm cái gọi là “Khu công nghiệp”; Ông viết phản đối việc mở rộng Hà Nội v.v. và v.v. Báo SGGP cho biết, ông còn viết nhiều bài với bút danh Trọng Dân, bênh vực kẻ thấp cổ bé họng, bị ức hiếp trong cái gọi là “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”.

Theo tôi thì chưa bao giờ ông là cán bộ lão thành cả, lúc nào con người này cũng trẻ trung tràn đầy nhựa sống. Lúc ở tuổi 80 ông luôn nói: – Chưa lúcnào tôi thấy thiếu thời gian như lúc này!

Võ Văn Kiệt là một con người như sinh ra để đứng ở đầu sóng ngọn gió. Ông là con người “thà đi trong giông bão còn hơn đi bách bộ trong sân”.

Tôi rất vui là bài phỏng vấn Võ Văn Kiệt cho tạp chí “Nghề báo” của Hội nhà báo TP.HCM đã được Tổng Biên tập Hồng Phương đăng nguyên văn, không “kiểm duyệt” một chữ nào (Tạp chí NB 4/2003).

Ấn tượng tốt đẹp thứ hai của tôi về Võ Văn Kiệt là ông nhận thức được vai trò của trí thức trong cuộc kháng chiến cứu nước cũng như trong xây dựng hòa bình. Xuất thân là nông dân sau đó trở thành nhà lãnh đạo cao cấp của một đảng mệnh danh là của giai cấp vô sản, công nông… nhưng ông thực lòng tin yêu trí thức, thấy được vai trò, tác dụng của trí thức với xã hội. Khi trở thành người lãnh đạo cấp cao, ông đã hành động… Hội Trí thức yêu nước TP.HCM được thành lập sau 30-4- 1975. Phát biểu trong dịp lễ kỷ niện 2 năm thành lập Hội Trí thức yêu nước, ông nói: “Trong thế giới ngày nay nguồn lực hàng đầu là tri thức. Nói như thế không có nghĩa là đề cao những con người trí thức cụ thể, mà là để nói đến một điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển”.

Thật là chính xác và sắc sảo.

Khi là Thủ tướng Chính phủ, ông đã thành lập Ban Cố vấn cho Chính phủ gồm toàn các trí thức tên tuổi. Thời Phan Văn Khải vẫn giữ Ban Cố vấn đó. Nhưng khi anh y tá Nguyễn Tấn Dũng lên làm Thủ tướng thì giải tán liền!

Năm 1999, tôi in cuốn sách nhỏ “Nguyễn Khắc Viện như tôi đã biết” (NXB Thanh niên 1999) đem tặng ông. Mấy ngày sau ông gọi điện cho tôi nói, đại ý: – Nên viết thêm những cuốn sách về trí thức Nam Bộ, vì không có trí thức tham gia thì cách mạng Tháng Tám không thể thành công ở Nam Bộ. Tôi chưa thấy nhà lý luận Việt Nam nào dám nhận định như thế. Ít lâu sau tôi được biết ông đem ý kiến này phát biểu ở Hội Nhà văn TP.HCM, và đề nghị các nhà văn viết về các trí thức Nam Bộ trong cách mạng Tháng Tám.

Một lần gặp ông ở một hội nghị, tôi phải đến “thanh minh” với ông rằng, tôi rất mến mộ các vị trí thức Nam Bộ nhưng vì hiểu biết và vốn sống của tôi về Nam Bộ còn ít quá nên không dám viết. Khi họa sĩ Diệp Minh Châu qua đời, nghĩ đến lời khuyên của ông Kiệt, tôi đã viết cuốn sách nhỏ “Diệp Minh Châu – Con người bẩm sinh là một nghệ sĩ” (NXB Thanh niên -2002). Trong cuốn sách nhỏ đó, tôi có trích lời ông Kiệt ghi trong sổ tang nói về những ngày “vượt suối băng ngàn” của ông cùng với Diệp Minh Châu ra Bắc 1952.

Biết ông Kiệt hay đọc sách, tôi mua và đọc được cuốn sách nào thấy hay thì đem đến tặng ông. Một lần, tôi được ông Trần Đức, nguyên phó ban Nông nghiệp TW tặng cho cuốn “Trang trại ở Pháp”. Trần Đức được Hội Nông dân Pháp mời sang nghiên cứu. Ông đã ở Pháp ba tháng liền, “ba cùng” với các chủ trang trại Pháp nên cuốn sách rất có giá trị thực tiễn để tìm hiểu về trang trại. Tôi đọc rất say mê nhưng chót gạch chân, đánh dấu vào sách…Chợt nghĩ đến ông Kiệt… nhưng tôi băn khoăn là sách đã bị gạch, bị đánh dấu… không còn mới nữa. Nhưng lúc đó lại đang có tranh luận về kinh tế trang trại (1997-1998). Ban Kinh tế TW còn mở cả một hội nghị lớn ở Sông Bé để bàn về kinh tế trang trại. Tôi được anh Nguyễn Tấn Trịnh, Phó Ban Kinh tế TW lúc đó đến tận nhà rủ đi dự hội nghị. Trong hội nghị này người ta tranh cãi nhau rất quyết liệt, nhất là về chính sách “hạn điền” cho trang trại. Tôi nhớ, giáo sư Đào Công Tiến phát biểu “gay” nhất. Chủ trì hội nghị là ông Phan Diễn cũng không dám rung chuông… Tôi nghĩ, phải để ông Sáu Kiệt đọc cuốn “Trang trại ở Pháp”, nên tôi đem đến tặng ông. Lúc đưa sách, tôi nói: – Xin lỗi ông Sáu, tôi tặng ông cuốn sách không còn mới, đã chót gạch chân, đánh dấu vào sách… nhưng thấy ông Sáu nên đọc cuốn sách này, nhất là trong bối cảnh này… nên mạnh dạn đem tặng… mong ông Sáu… Tôi chưa nói hết lời thì ông Sáu đã cười… cầm lấy sách… rồi bảo tôi: – Dân Hà Nội có khác… Ông chỉ nói đến thế thôi… còn tôi muốn hiểu thế nào cũng được, chẳng hạn dân Hà Nội khách sáo quá… cẩn thận quá… thớ lợ quá …v.v. và v.v.

Nhiều lần đối thoại với ông Sáu Kiệt, tôi biết ông là người rất thông minh, luôn đoán ra ý nghĩ của người đang đối thoại với mình. Điển hình là hôm nhà thơ Tố Hữu mất, tôi đi lang bang đến Hội nhà văn TP.HCM, gặp nhà thơ Viễn Phương, một chức sắc của Hội, tôi hỏi: Anh Viễn Phương đánh giá Tố Hữu thế nào? Viễn Phương nói ngay: – Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc. Tôi lặng lẽ chạy xe đến nhà ông Kiệt. Sau lời chào hỏi, tôi thưa: Nhà thơ Tố Hữu vừa mất, ông Sáu đánh giá Tố Hữu thế nào?… Ông Kiệt nhìn tôi nghiêm nghị, trả lời chậm rãi, rõ ràng: – “Tố Hữu là nhà thơ lớn của Đảng”. Trả lời xong ông lại nhìn tôi nheo mắt cười. Tôi “đọc” được trong ánh mắt nheo cười của nhà chính trị rằng… Phú Khải cậu đừng lừa tôi, cậu cứ đem cái nhận định của tôi về Tố Hữu đi rao giảng khắp nới, khắp chốn … thế đó! Võ Văn Kiệt nhận định thế đó!!! Đừng tưởng!!!

Lại nói về cuốn “ Trang trại ở Pháp”. Ông Kiệt cầm cuốn đó, không quên cảm ơn tôi. Ông tâm sự: – Có nhiều người bảo tôi là nông dân mà ra vẻ trí thức, lúc nào cũng đọc sách… Tôi nghĩ, nếu đọc sách mà bớt ngu đi thì tôi ra vẻ trí thức suốt đời! Tôi rất mừng là sau này, quan điểm của ông Kiệt về “hạn điền” trong vấn đề trang trại ở nước ta rất sáng suốt, rất cấp tiến, trái hẳn với quan điểm của ông cố vấn Lê Đức Anh lúc đó. Cụ thể là trong vấn đề cho thuê đất trong vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh Long An để lập trang trại. Tôi sẽ nói về vụ này ở một phần sau.

Anh Bảy Nhị, nguyên Chủ tịch tỉnh An Giang, một người gần gũi với ông Kiệt nhiều năm, đã có lần bảo tôi rằng, anh rất mến ông Kiệt bản tính ưa nói thẳng. Theo anh Nhị, ông Sáu đã có lần tâm sự với anh, và cũng là lần đầu tiên anh được nghe một đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng nói về các vị nhân sĩ trí thức đi theo kháng chiến như thế. Tôi hỏi, ông Kiệt nói thế nào. Ảnh nhắc lại lời ông Kiệt: “Chúng ta đi theo cách mạng, nếu có mất thì chỉ mất cái quần đùi, còn họ thì hy sinh cả một sự nghiệp, điền sản lớn, vinh hoa phú quí… Do đó, không thể đánh giá lòng yêu nước của họ ngang như ta được…”. Bảy Nhị tỏ ra bất ngờ về câu nói đó của ông Kiệt. Tôi đã đem câu nói đó vào bài viết về Sáu Kiệt nhân ngày mừng thọ ông 85 tuổi (2007). Khi bài báo đăng lên rồi, còn có độc giả gọi điện cho tôi hỏi, “có phải anh bịa ra câu nói đó không? Có thực Bảy Nhị đã nói với anh thế không?”… Thật buồn!

Tiếp xúc với ông Kiệt, tôi còn được ông chỉ bảo cho nhiều điều bổ ích về các vấn đề của Đồng bằng Sông Cửu Long, điều mà tôi rất cần với tư cách, nhiệm vụ là phóng viên thường trú của Đài Phát thanh quốc gia tại khu vực trọng điểm này. Chính phù sa mịn màng, nắng mưa hào phóng của quê hương Vĩnh Long Nam Bộ đã sinh ra Võ Văn Kiệt. Và, tắm mình trong lao động cần cù vất vả thời thơ ấu, dấn thân trong đấu tranh cách mạng để giải phóng quê hương, từng tế bào, từng huyết mạch trong con người Võ Văn Kiệt thấm đượm sức sống của đất đai quê mẹ. Hơn ai hết, ông hiểu về mảnh đất quê hương mình. Đầu xuân 2004, tôi đến chúc Tết ông. Lúc đó lại vào dịp cúm gà đang hoành hành, ông lại vừa về quê ăn Tết lên, nên bảo tôi: – Con cá đã lên ngôi. Gà vịt vừa qua chết nhiều thì càng thấy vị trí của con cá ở đồng bằng. Như tôi đã nói với Phú Khải năm ngoái, từ trước đến nay ta mới chỉ truy bắt con cá mà chưa nuôi thả đúng mức. ĐBSCL tiềm năng thủy sản còn lớn lắm. Cả ba khu vực mặn, ngọt, lợ đều có những loài thủy sản rất có giá trị như con tôm ở vùng mặn, cá kèo ở vùng lợ, vùng ven có con cá đối, vùng ngọt có con tôm càng xanh và các loại cá đồng… ĐBSCL còn có các loại cá quí như trạch – lấu, cá hô nặng hàng trăm ký trên sông Tiền, sông Hậu, cá cóc nặng hai ba ký… Kể ra nhiều loại cá quí như vậy rồi ông Sáu kết luận: – Cho đến bây giờ không có bất cứ loại cá gì là không nuôi được, Cá kèo đã dưỡng được, cá thác lác ở Cần Thơ đã nuôi được. Trước đây cá ba-sa giống phải đi mua từng con một, nay đã cho đẻ nhân tạo được rồi. Cá ba-sa, cá tra, cá linh, tôm càng xanh… là những thủy sản mà vùng ĐBSCL của ta có ưu thế hơn hẳn các nước vùng sông Mê Kông… Phải biết biến thế mạnh đó để khai thác, nuôi trồng tốt hơn… Phải tiến tới lập các khu bảo tồn thủy sản, ngân hàng gen, quỹ gen cho thủy sản ĐBSCL…

Tôi không ngờ ông Sáu Kiệt lại hiểu biết rành rẽ về tương lai con cá ở ĐBSCL như thế. Đành rằng xuất thân là nông dân, nhưng ông đã “xa rời” ruộng đất từ nhiều năm và còn trăm công nghìn việc của một nhà chính trị trong một xã hội nặng nề đấu đá quyền lực… làm sao ông có thể sát thực tế nông thôn đương đại đến thế. Ông nói một thôi về con cá. Tôi phải đề nghị ông nói chậm lại để ghi chép. Thế là cuộc gặp chúc Tết đầu năm lại trở thành một cuộc làm việc về con cá! Nhưng tôi vẫn còn nghi ngờ về những “con cá” mà ông Kiệt nói nên đánh máy sạch sẽ rồi đưa cho đương kim Thứ trưởng  Bộ Thủy sản Nguyễn Việt Thắng, quê ở Đồng Tháp xem lại (!). Anh Thắng nói : – Chính xác 100%.

Ông Kiệt có tư duy từ cuộc sống như thế, không bị một giáo điều, một “học thuyết đứng đường” (thơ – Trần Mạnh Hảo) nào chi phối tư duy của ông. Chính vì vậy mà ông là nhà lãnh đạo cộng sản đi xa nhất về tư duy chính trị. Marx nói: “Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy”. Vậy cứ như lời Marx thì khi nói về con em những gia đình công chức, quân đội cũ, ông Kiệt khẳng định: “Không ai chọn cửa để sinh ra”, và chính ông đã có sáng kiến tuyệt vời là giao cho Thành Đoàn thực hiện tổ chức lực lượng Thanh niên xung phong của TP.HCM, đón nhận bất kể các thanh niên xuất thân từ mọi thành phần. Và, trải qua lao động trên đồng khô, cỏ cháy, rừng sâu, núi cao, một lớp người không còn bị mặc cảm về “vết đen lí lịch” đã trưởng thành. Có thể kể: Trần Ngọc Châu, Nguyễn Đông Thức, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Nhật Ánh, Trường Kiên, Tiếng Thu v.v. Khi nói về lòng yêu nước, ông nói: “Có trăm con đường yêu nước khác nhau, Tổ Quốc Việt Nam không phải của riêng một đảng, một phe phái tôn giáo nào”. Khi nói về ngày 30-4 -1975, ông phát biểu: “Ngày 30-4-1975 có một triệu người Việt Nam vui , lại có một triệu người VN buồn… Vậy nên gọi đó là ngày thống nhất đất nước”. Những ngôn từ như thế theo ông Marx là “cái vỏ vật chất” của tư duy. Tư duy của Võ Văn Kiệt đã không xuất phát từ “học thuyết đứng đường” hay những “thiên đường vỡ chợ” nào (Trần Mạnh Hảo) mà xuất phát từ lợi ích, từ sự sống còn, từ hạnh phúc của dân tộc nên mới mang “cái vỏ vật chất” như ta thấy. Cái đó không có ở những nhà lãnh đạo đi theo một nhãn quan giai cấp, một giáo điều sơ cứng, nhập ngoại “đứng đường”! Đi theo dân tộc đương nhiên phải hướng tới dân chủ. Và ông đã là người tiệm cận với dân chủ khi tuyên bố “chính kiến khác nhau là chuyện bình thường” và “một quốc hội có người tự ứng cử, và dân bầu lên một cách tự do sẽ tốt hơn quốc hội bây giờ”.

Không có gì thuyết phục hơn là nghe nhà đấu tranh dân chủ, nhà bất đồng chính kiến Nguyễn Thanh Giang nói về Võ Văn Kiệt: “Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt, người lãnh đạo Đảng CSVN đương đại mà tôi ngưỡng mộ nhất”. Khi anh Thanh Giang vô Sài Gòn, đến nhà tôi, nhờ tôi dẫn đến thăm ông Sáu, nhưng tôi đã từ chối vì… muốn giữ “an toàn” cho cả hai vị. Sau đó, ông đã nhờ con gái ông Nguyễn Hộ dẫn đến thăm ông Sáu, nhưng bảo vệ nói “đi vắng!”.

Trong suốt nhiều năm làm việc, tiếp xúc, đối thoại với ông Kiệt, tôi hết sức tránh những gì liên quan đến chính trị. Tôi sợ những đối đáp có màu sắc chính trị sẽ làm khó cho tôi, có khi làm tôi xa mất nguồn kiến thức về ĐBSCL mà ông Kiệt là một kho báu. Chẳng hạn, có lần bất thần ông bảo tôi: “Với ĐBSCL thì không có lũ cũng là thiên tai”! Chỉ một câu nói ngắn gọn của ông thế thôi cũng đủ là một đề tài nghiên cứu khoa học về vấn đề lũ lụt ở ĐBSCL. Vậy mà ông Đỗ Mười có lần lại tuyên bố… sẽ huy động sức mạnh toàn Đảng, toàn dân để…đắp đê cho ĐBSCL. Thứ trưởng Bộ Thủy lợi lúc đó là ông Chín Giới đã lo cuống cuổng, phải xua cả một đàn chuyên gia hàng đầu về thủy lợi để tiếp đ/c Tổng Bí thư Đỗ Mười đi “kinh lý“ Nam Bộ. Các chuyên gia của ông Chín Giới đã phải thuyết phục đ/c TBT Đỗ Mười không nên “huy động sức mạnh toàn Đảng, toàn dân để đắp đê cho ĐBSCL”! Ông Chín Giới đã kể với tôi, lúc họp ông run lắm, động viên các chuyên gia nói thẳng, nói thật với đ/c TBT. Nếu có gì làm TBT phật ý thì ông sẽ chịu trách nhiệm.

Rồi ông kết luận với tôi: – May quá đ/c TBT đã không “huy động toàn Đảng, toàn dân…”.

Nhân nói về TBT Đỗ Mười, tôi có câu chuyện “như đùa” thế này. Nhân được ông Sáu Phan giới thiệu từ Hà Nội, tôi lên T78 (nhà khách TW) ở TP.HCM để gặp TBT Đỗ Mười và tặng ông cuốn sách “Viết từ Đồng bằng Sông Cửu Long” của tôi do NXB Thanh Niên xuất bản. Nói chuyện xong, lúc tôi ra về, ông Đỗ Mười cầm cánh tay tôi lắc lắc và bảo: Sao cậu gầy thế ? Tôi trả lời: – Có phải đảng viên đâu mà béo được! Ông Đỗ Mười bảo: – Thế là tốt!

Mấy ngày sau tôi đem câu chuyện này “khoe” với anh Trần Thế Tuyển, lúc đó là Trưởng cơ quan Báo QĐND tại TP.HCM, tờ báo mà tôi đã cộng tác từ ngày còn ở Hà Nội. Anh Tuyển cười bảo tôi: – Ông ngu bỏ mẹ, người ta làm chính trị nên chỉ nói nửa lời… Tốt là tốt cho Đảng. Nếu một người như ông mà vào Đảng thì chỉ có phá Đảng mà thôi! Có thế mà ông cũng không hiểu, còn đi khoe!!! Chúng tôi đã cười nghiêng ngả!!!

Trở lại câu chuyện với ông Sáu Kiệt, tôi luôn né tránh nói cái gì liên quan đến chính trị. Nhưng cuộc sống lại không đơn giản đến thế. Chính trị, triết học, lịch sử, khoa học, văn hóa… được con người tách ra để nghiên cứu riêng vì nó phức tạp quá. Nhưng trong đời sống xã hội thì tất cả các yếu tố ấy đều hòa quyện, đan xen vào nhau… Một mâm cơm mà ta ăn, nhìn vào đó thấy cả chính trị, khoa học, văn hóa… Ăn gạo gì thì đó là kết quả của khoa học lai tạo, ăn như thế nào… là văn hóa, có ngồi cùng mâm với người bất đồng chính kiến với mình không… thì đó là chính trị… Bởi vậy, có những lần vô tình, tôi lại bàn luận về đề tài chính trị với ông Sáu. Hôm đó cũng là một ngày đầu xuân, tôi đến chúc Tết ông như thường lệ. Khi tới, các vị đến trước đang bàn về “dân chủ ở cơ sở”. Khách về rồi, tôi nói những điều vô thưởng vô phạt với ông Sáu, chẳng  hạn như: Ông Nguyễn Khắc Viện có ý kiến là nước ta không có truyền thống dân chủ nên bây giờ phải tập dân chủ ở mọi nơi, mọi cấp… Tôi không ngờ ông Sáu Kiệt nói một thôi: Xưa kia tôi đi làm cách mạng vì thấy ngoài đời mất dân chủ quá, kẻ giàu ức hiếp người nghèo, cường hào ác bá đè nén dân đen. Khi vào Đảng, tôi thấy trong Đảng thật thương yêu nhau, đồng chí với nhau thật dân chủ, có gì cũng bàn bạc, trao đổi dân chủ, không ai đè nén, áp đặt ai… Nay Đảng là nơi mất dân chủ nhất. Cái mất dân chủ của Đảng nó ô-tô-ma-tic ra ngoài dân. Dân học Đảng để mất dân chủ với nhau… Tôi nhớ nhất cái từ “ô-tô-ma-tic” của ông Sáu Kiệt!

Võ Văn Kiệt bộc trực như thế. Có lẽ vì cái bộc trực “Anh Hai Nam Bộ” này mà ông gặp nạn. Cái chết của ông thật khó hiểu. Đang khỏe mạnh, còn mua vé trước để đi Hà Lan với Tiến sỹ Tô Văn Trường để… nghiên cứu về chống nước biền dâng tràn tới ĐBSCL… Vậy mà, chỉ đi Hà Nội về là lăn ra chết. Bác sỹ Quế – Phó Ban Bảo vệ Sức khỏe TW, bạn với tôi nói: – Chụp phổi thấy trắng xóa (tức là đen) là điều rất hiếm. Bệnh phổi không thể chết nhanh thế được!!! Tôi là một trong những người được biết tin ông Sáu Kiệt mất sớm nhất. Tôi điện cho vợ anh Tô Văn Trường, ít phút sau thì từ bên Đức, nơi anh Trường hẹn đợi ông Sáu qua để cùng đi Hà Lan… Anh Trường vừa nói chuyện với tôi vừa khóc trong điện thoại. Anh cứ khóc nấc lên, rất tội. Lúc đó tôi cũng cứ thấy cay xè hai con mắt!

Nhìn lại thời gian ông Võ Văn Kiệt làm Thủ tướng, đất nước chuyển mình rõ rệt. Năm 1990, tổng thu nhập bình quân đầu người Việt Nam chỉ đạt ước khoảng 200 đôla Mỹ. Đến năm 1997, chỉ số này là 300 đôla Mỹ. Lạm phát được kiềm chế đến một chữ số trong hai năm 1996-1997. Xuất khẩu lương thực tăng liên tục. Năm 1997, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 3 thế giới. Đầu tư nước ngoài sau 10 năm kêu gọi (1987-1997) đã lên đến gần 30 tỷ đôla Mỹ. Trên trường quốc tế, từ thế bị bao vây, Việt Nam trở thành một quốc gia chuyển mình mạnh mẽ qua kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Có thể nói, thời gian ông Võ Văn Kiệt làm Thủ tướng, Việt Nam có gương mặt sáng sủa nhất từ sau chiến tranh, được thế giới tin tưởng và hy vọng nhiều về một Việt Nam trên đường đổi mới. Đó là một dấu son của lịch sử.

Nhưng thật là thiếu khách quan, công bằng nếu không nói đến những sai lầm của Võ Văn Kiệt trong một công trình lớn là đường dây tải điện Bắc-Nam 500 kilôvôn. Chỉ có những người trong cuộc, ở ngành tài chính và điện lực mới hiểu rõ điều này. Nhưng trong một thể chế toàn trị thì những con số “bí mật” luôn được che đậy, giữ kín. Đường dây 500 kilôvôn là một công trình lấy tư duy chính trị để làm kinh tế. Đến nay công trình này vẫn không quyết toán được. Khi làm một công trình lớn lao như thế nhưng Quốc hội không được bàn bạc và thông qua. Việc bảo quản và duy tu cho đường dây này là một gánh nặng lâu dài cho ngành điện lực mà các chi phí của nó luôn được dấu kín. Nếu chỉ để hòa mạng lưới điện quốc gia thì không cần đến đường dây này, còn để tải điện thì ở đầu phía bắc dường dây đỏ rực mà ở đầu phía nam điện vẫn chập chờn. Tiêu hao trên đường đi là vô cùng lớn, vì thế, khi có ý định làm đường dây này, tôi đã được đọc rất nhiều phản biện của các chuyên gia về điện lực là Việt Kiều ở Pháp, Mỹ… gửi về, do các chuyên gia ở Việt Nam đưa cho tôi, với hy vọng là môt nhà báo tôi có thể lên tiếng! Nhưng làm gì có chuyện đó ở Việt Nam với các nhà báo. Đấy là chưa kể đến tham nhũng trong việc mua bán vật tư để thi công đường dây này.

Vì thế, khi đường dây làm đến địa phận miền Nam, Đài TNVN (Cơ quan thường trú tại TPHCM) đã cử tôi đi viết tin bài về công trình đường dây này, tôi đã không đi và còn phát biểu rất gay gắt trong cuộc họp phân công ai đi viết bài. Giám đốc Cơ quan thường trú lúc đó là ông Hồng Mão đã phải gào lên: – Không đi thì thôi, anh Khải đừng phát ngôn như thế mà đi tù cả cơ quan! Cuối cùng nhà báo Đặng Xuân Mai của cơ quan tôi, cháu gọi ông Trường Chinh là ông (ông bác) phải đi thế tôi. Đi về, ông Mai đã kêu trời về sự vất và của công nhân, phải gùi từng can nước ngọt lên đỉnh núi để đổ bê-tông!

Đương nhiên làm thì có đúng, có sai, với tôi, Võ Văn Kiệt luôn là hình ảnh của một con người suốt đời tận tâm, tận lực với đất nước, với dân tộc cho dù ông ở ý thức hệ hay chiến tuyến nào.

– – – – –

VÕ VIẾT THANH

Một buổi sáng đẹp trời 2008, Võ Viết Thanh đem xe đến rước tôi đi Bến Tre với anh. Thanh sinh năm 1943, kém tôi một tuổi, anh khiêm tốn gọi tôi là anh và xưng em. Tôi không hình dung nổi, một con người từng vào sinh ra tử, 17 tuổi đã ngồi tù, dày dặn trên chính trường, bất khuất và gang thép như Võ Viết Thanh lại có dáng vẻ nho nhã, ăn nói từ tốn khiêm nhường như thế. Hôm đó anh nói với tôi, anh vừa xin được một người bạn ngoại quốc trong lúc đánh gôn một số tiền để làm “xóa đói giảm nghèo” cho quê Bến Tre của mình. Anh còn than: – Em dại quá, người bạn này hỏi cần bao nhiêu. Em nói 90.000 đô, anh ta gật liền. Bây giờ thấy tiếc, biết thế nói 200.000 đô có hơn không! Tôi bảo VVT: – Ông tham quá, thế là tốt rồi. Trên xe hôm đó còn có một anh chàng Singapore gốc Hoa, nói Tiếng Việt bập bẹ vì đã ở Việt Nam lâu năm. Anh chàng này chừng ngòai 50 tuổi, luôn mồm than “Nước Singapore chúng tôi hẹp! Việt Nam lớn quá!”. Quả thật sau này tôi có đi Singapore và thấy cái nước này không rộng bằng huyện Giồng Trôm quê Võ Viết Thanh.

… Sau khi làm việc với huyện, với xã, Thanh đưa tôi về nhà anh ở xã Lương Phú. Cảnh sắc quê anh rất thanh bình, êm ả. Mỗi nhà ở trong một vườn dừa rộng mênh mông, mát rượi. Có những cây dừa già nằm ngả xuống đất, muốn đi qua phải bước qua thân dừa mà chủ nhà cũng không muốn chặt. Có lẽ vì nhiều dừa quá. Ở miền Bắc ít đất, vườn nhà thường hẹp, vì thế mỗi lần vô một vùng miệt vườn như ở Bến Tre, tôi cứ thơ thẩn ngắm vườn. Đi trên những con đường nhỏ rợp bóng dừa tôi lại nhớ đến câu thơ của Tố Hữu: “nắng quê hương rười rượi đường dừa”.

Điểm nhấn của chuyến đi này mà tôi không bao giờ quên là trước khi vô nhà ăn cơm, Võ Viết Thanh đưa tôi ra viếng mộ ông bà già anh. Mộ chí được xây cất ngay trong vườn. Võ Viết Thanh thành kính thắp nhang cúi lậy cha mẹ. Tôi đọc rất kỹ trên bia, hai cụ Võ Văn Nhuận và Phạm Thị Giang đều chết cùng ngày, cùng giờ, 20 giờ ngày 26/8/1962. Thanh nhìn tôi, nói trong uất ức: Một toán lính Ngô Đình Diệm, đứng đầu là tên Tổng Giám đồn Long Phú đã chặt đầu, mổ bụng, moi ruột… rồi trôi sông cha mẹ tôi trên đất này, phía bờ sông kia… ai cũng biết, cả xã, cả huyện này đều biết… vậy mà bọn họ lại bảo là cha mẹ tôi bị cách mạng giết…

Tôi không quên nhờ anh bạn Singapore cùng đi chụp cho tôi và Võ Viết Thanh một tấm hình hai người ngồi bên mộ chí của các cụ thân sinh ra VVT. Bức hình tôi đội mũ nồi, Võ Viết Thanh để đầu trần, vầng trán rộng mênh mông… tôi còn giữ làm kỷ niệm.

Bọn họ mà VVT nói ở đây chính là Lê Đức Anh, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Đức Tâm, Đòan Khuê… trước Đại hội Đảng lần thứ 7, lập án giả định hại Đại Tướng Võ Nguyên Giáp trong vụ án “Bà Sáu Sứ” tai tiếng cả nước, được giao cho Võ Viết Thanh với tư cách là Thứ trưởng Bộ Công an lúc đó đi điều tra và kết luận theo “hướng của trên”, nhưng Võ Viết Thanh đã không làm theo ý họ. Thanh đã điều tra đúng người, đúng tội, tôn trọng luật pháp… nên sau đó họ không làm gì được Võ Viết Thanh, bèn nghĩ ra cái “võ” điều tra lại lý lịch của Thanh theo đơn tố cáo… và gạt Thanh ra khỏi chính trường. VVT còn nói cho tôi rõ, theo nguyên tắc thì anh đã là Ủy viên TW nên Khóa Đại hội 7 đương nhiên anh được dự. Thanh còn cho biết, khi được phát phiếu bầu Uỷ viên TW khóa mới (7), cái phiếu ghi tên anh chỉ để trắng, không kèm theo chức vụ Uỷ viên TW khóa 6, như mọi ủy viên TW khác tái cử… Anh thắc mắc thì Ban tổ chúc nói là: – Lỗi in ấn!!! Thanh nói: Tôi định cầm cái lá phiếu tên mình xông thẳng lên diễn đàn và giơ lá phiếu ấy lên để tố cáo sự gian lận này trước toàn thể đại hội, nhưng nghĩ lại nếu làm thế là tôi đã phá cả đại hội, nên tôi thôi!!!

Cô Võ Thị Cẩm Hồng, em ruột của Võ Viết Thanh, khi còn ở Sở Công an Tiền Giang, đã nói với tôi ngay từ năm 1991, lúc đó tôi cũng còn đang thường trú tại Mỹ Tho rằng: Khi là Thứ trưởng Bộ Công an, lúc lấy phiếu tín nhiệm, anh Bảy Thanh được phiếu cao nhất, vậy mà trước Đại hội 7, em thấy anh Tư Bốn (tức Trung tướng Nguyễn Việt Thành sau này), Giám đốc Sở gọi em lên bảo khai lại lý lịch… thì em biết ngay anh Bảy Thanh của em ở Bộ Công an ngoài Hà Nội đang gặp nạn rồi. Em còn lạ gì cái trò bày đặt đơn tố cáo để bắt khai lại lí lịch, kiểm tra tư cách đại biểu trước Đại hội, để trì hoãn, để loại trừ nhau trước một Đại hội Đảng…

… Sau một ngày về Bến Tre, lúc đó cầu Rạch Miễu qua sông Tiền sang Bến Tre còn chưa được bắc nên lúc về đến Sài Gòn đã tối lại kẹt đường, ngồi trên xe buồn quá Võ Viết Thanh còn đọc cho tôi nghe mấy câu thơ của Verlaine… Tôi hỏi: Ông cũng đọc được Tiếng Pháp à? Thanh kể: Anh có xem phim “Ván bài lật ngửa chưa?”. Trong phim có đoạn tỉnh trưởng Bến Tre lúc đó là Phạm Ngọc Thảo có gọi một thanh niên 17 tuổi đang ở tù ra hỏi cung, ông tỉnh trưởng chỉ hỏi vài câu lấy lệ rồi sau đó thả người thanh niên này ra. Người đó chính là em. Lúc đó em vừa học xong trung học ở Bến Tre…

Hai năm sau cái ngày anh đưa tôi về Bến Tre, Võ Viết Thanh sai cô em Võ Thị Cẩm Hồng lúc này đã lên Sài Gòn làm ở Báo Công an TP.HCM đến đưa cho tôi một cuốn sách dầy, khổ lớn, bìa cứng do Nhà xuất bản QĐND, xuất bản 2010 có tên là “Bến Tre đồng khởi anh hùng”. Cùng với cuốn sách là một cái đĩa ghi hình và một lá thư ngắn. Nguyên văn lá thư đó như sau:

“Kính gửi anh Lê Phú Khải, xem lại cho vui những chuyện đã qua của một gia đình và con người.  

 Kính thăm anh và gia đình. 19.4.2010. Thân ái (ký tên Thanh)”

Bức thư tôi còn giữ làm kỷ niệm.

Mộ Song thân của Võ Viết Thanh tại xã Phú Lương Giồng Trôm Bến Tre: Hai ông bà Võ Văn Nhuận và Phạm Thị Giang bị giết hại dã man chặt đầu mổ bụng…cùng ngày cùng giờ (20h ngày 26/08/1962) – Ảnh LPK.
Thủ bút của Võ Viết Thanh.

Tôi đọc sách, xem đĩa ghi hình, tìm hiểu về gia đình Võ Viết Thanh mà bàng hoàng. Có lẽ trên thế gian này chưa có gia đình nào hy sinh mất mát cho một cuộc cách mạng như gia đình Võ Viết Thanh, sau đó lại chịu những oan khuất, cay nghiệt như gia đình anh. Cả hai vợ chồng ông Võ Văn Nhuận và bà Phạm Thị Giang đều là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương từ những năm 30 thế kỷ trước, đấu tranh trong Công hội Đỏ ở Ba Son chống Pháp cùng lứa với Tôn Đức Thắng, Dương Quang Đông. Suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ông bà đều là cán bộ nòng cốt. Ông làm quân giới tận U Minh. Năm 1958, ông bà bị bắt, bị đánh đập tra tấn dã man mà không hề khai báo gì. Sau 3 năm tù ông bà lại được tổ chức đưa về Bến Tre họat động bí mật… Đến năm 1962, cả hai vợ chồng người cán bộ kháng chiến này bị giết hại thảm khốc: cắt cổ, mổ bụng, trôi sông… cùng một lúc…

Cô Hồng đã kể với tôi,  lúc chúng xông vào nhà bắt bố mẹ đi thì cô còn bé quá, ngồi ở thềm nhà chúng không để ý nên thoát chết. Chị cô bụng đang mang thai cũng bị bắt đi nhưng vùng chạy thóat…

Võ Víết Thanh mới 18 tuổi đầu đã mang nặng thù nhà, nợ nước, cha mẹ bị giết, chị gái và em trai cũng hy sinh. Sau 1975, Võ Viết Thanh đã về quê tìm bắt được Tổng Gốm, kẻ đã giết cha mẹ anh. Nó quì lạy và anh đã tha cho nó… Anh xông pha lửa đạn, chỉ huy một xưởng quân giới chế tạo ra nhiều vũ khí để diệt tàu Mỹ trên dòng sông quê hướng. Trận đánh cầu Cá Lọc của anh được ghi chép trong lịch sử của Bến Tre. Anh từng được phong anh hùng lực lượng vũ trang… Vậy mà chính các “đồng chí” cao cấp của anh lại lập mưu vu khống cha mẹ anh, những người đã yên nghỉ nơi suối vàng, là kẻ phản bội. Còn gì đau xót hơn cho một người Việt Nam là cha mẹ mình đã mất mà còn bị vu oan, vu oan một cách bỉ ổi. Cái thiêng liêng nhất đối với VVT là linh hồn của cha mẹ mình lại bị đồng chí của mình đem ra bôi nhọ để lấy cớ cho những âm mưu đấu đá quyến lực bẩn thỉu nhất. Nếu Võ Viết Thanh cúi đầu nghe theo bọn họ thì anh sẽ lên quan to hơn, lên làm Bộ trưởng Bộ Công an, vào Bộ Chính trị. Nhưng anh đã chấp nhận bị vùi dập để đứng thẳng làm một con người chân chính, lương thiện và tử tế. Gia đình VVT đủ để Shakespeare viết một bi kịch về một cuộc cách mạng ở xứ Châu Á xa xôi và hoang dại (sauvage) trong thế kỷ 20! Vậy mà trong thư anh viết cho tôi chỉ nói: “xem lại cho vui, những chuyện đã qua của một gia đình…”.

Tôi biết tâm hồn anh đã rã rời với một cuộc cách mạng đang bị phản bội. Anh thấy bẽ bàng cho nó và cho cả những gì mà anh đã cống hiến cho nó với tất cả sự trong trắng của tâm hồn mình. Anh đang nhìn xã hội quay cuồng xung quanh bằng con mắt của kẻ chỉ thấy đời như một giấc mộng phù du… của “những chuyện đã qua…”

Gần đây, tôi có gặp anh trong đám cưới con trai của cô em Võ Thị Cẩm Hồng của anh. Vẫn dáng vẻ nho nhã, vẫn giọng nói ấm áp, khiêm nhường, và trên vầng trán mênh mông của anh, tôi như thấy những đám mây buồn đang lãng đãng trôi…

– – – – –

MỤC LỤC:

Lời nói đầu

Ch 1.  Hà nội, nơi tôi sinh ra

Ch 2.  Đi tản cư lên Chí Chủ, Phú Thọ

Ch 3.  Hai lần “thi trượt” nhưng số phận vẫn mỉm cười với tôi

Ch 4.  Đời sinh viên

Ch 5.  Những chuyện kể của tướng Qua

Ch 6.  Chín năm dạy học ở thôn quê

Ch 7.  Ba mươi tám năm làm báo “lề phải” và “lề trái”

Ch 8.  Người cùng thời:

Ch 9.  “Chấm phá” chân dung những nhà dân chủ:

Ch 10.  Cuộc biểu tình ngày 9/12/2012

Thay lời kết

 

Bình Luận từ Facebook

BÌNH LUẬN

Xin bình luận ở đây
Xin nhập tên của bạn ở đây