Tại sao một chính sách thiếu thỏa đáng lại được đưa ra vào lúc này?

Phạm Ngọc Hưng

10-7-2026

Hôm nay, sau khi nghị định 174 của Chính phủ có hiệu lực mới viết về nó thì quá trễ, nhưng dẫu sao, trễ còn hơn không, vì có hai câu hỏi liên quan.

Đề xuất luận cứ biện hộ cho vụ án hình sự liên quan đến ông Nguyễn Thành Nam và các cộng sự

Trương Nhân Tuấn

8-7-2026

Với tư cách một người Việt Nam luôn trăn trở với tình hình đất nước, tôi cho rằng việc buộc hành vi biên soạn, tàng trữ và phát tán tác phẩm “Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng” (từ nay sẽ viết là CVT) của Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các cộng sự vào tội danh “Chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là một sự áp đặt khiên cưỡng, chưa đánh giá đúng bản chất hành vi và sự xung đột sâu sắc với các cam kết quốc tế về tinh thần trọng luật (Rule of Law) mà Nhà nước Việt Nam đang xây dựng.

Chính trị của quy hoạch và đầu óc trương tuần

Nguyễn Hoàng Văn

8-7-2026

Nếu hành động như những đồng nghiệp đi trước vào năm 1974 ở Sài Gòn thì, hiện tại, những nhà báo đang bị thất nghiệp vì luật “quy hoạch báo chí” sẽ bị khép những thứ tội gì?

Lúng túng, rề rà, lãng phí

Nguyễn Thông

2-7-2026

Hôm nay 2.7, đã vào kỷ nguyên mới được tròn một năm, thêm một ngày.

Màn tẩy chay ngày 1/7: Kịch bản “tự cô lập” và cú tự sát chí mạng của truyền thông chính thống

Lê Anh

2-7-2026

Làn sóng đồng loạt chặn báo đài nhà nước từ ngày 1/7 không đơn thuần là phản ứng tự phát của cư dân mạng, nhằm né án phạt “không xin phép”. Thực chất, đây có thể là một “bàn cờ ngược” được tính toán kỹ lưỡng, nơi việc báo chí chính thống đẩy mình vào thế “tự cô lập” và bị mạng xã hội quay lưng là một “đòn tự sát chiến lược” đầy bất lợi.

Cái bẫy “Tự cô lập”

Sắc lệnh phạt vạ vô lý này chủ động đẩy người dân về phía các nền tảng mạng xã hội thuần túy. Khi dòng chảy thông tin chính thống bị cắt đứt, một “khoảng trống thông tin” khổng lồ xuất hiện, mở đầu cho chuỗi bất lợi chí mạng:

Theo giới quan sát, đây là những bất lợi chí mạng cho hệ thống truyền thông chính thống khi bị 100 triệu, dân mạng “ngó lơ”:

1. Mất hoàn toàn “Thế độc quyền định hướng”

Từ trước đến nay, vũ khí mạnh nhất của truyền thông chính thống là khả năng định hướng dư luận xã hội khi có biến cố. Tuy nhiên, khi mạng xã hội quyết định “không thèm quan tâm”, báo chí chính thống bỗng chốc trở thành một ốc đảo cô độc.

Hệ quả: Khi một sự kiện nóng xảy ra, người dân sẽ tìm kiếm, mổ xẻ và tin tưởng vào các nguồn tin lan truyền trên mạng xã hội trước tiên. Báo chí nhà nước lúc này mất đi vai trò “người phát ngôn đầu tiên”, các bài viết định hướng xuất hiện sau đó sẽ bị coi là lỗi thời, áp đặt và không còn ai buồn đọc.

2. Khủng hoảng tài chính và sự “Chết lâm sàng” của các tòa soạn

Để vận hành bộ máy, báo chí dù là của cơ quan nào cũng cần lượng truy cập (traffic) để thu hút quảng cáo và nguồn thu. Khi đại khối dân mạng đồng loạt chặn và tẩy chay:

– Lượng truy cập tụt dốc không phanh.

– Các doanh nghiệp quay lưng, rút ngân sách quảng cáo vì không ai muốn đặt dòng tiền vào một nơi không có người xem.

Đây có thể là một cuộc “thanh lọc ngầm” từ cấp cao nhằm triệt tiêu bớt các đầu báo làm ăn kém hiệu quả, ép các tòa soạn phải tự sinh, tự diệt hoặc buộc phải hoàn toàn phụ thuộc vào ngân sách bao cấp, từ đó siết chặt quyền kiểm soát tuyệt đối.

3. Tự tước bỏ “Khiên chống đỡ” trước thông tin phương Tây

Mạng xã hội là một chiến trường thông tin không biên giới. Khi truyền thông nhà nước tự rút lui và bị cô lập, họ đã tự tay dâng toàn bộ “trận địa” 100 triệu dân cho các luồng thông tin đa chiều, các thế lực truyền thông quốc tế và các KOLs tự do.

Khi không còn một cơ quan báo chí chính thống nào đủ uy tín hoặc đủ độ phủ để “phản bác” hay “đính chính” trên không gian mạng, người dân sẽ dần coi thông tin trên mạng xã hội là sự thật hiển nhiên.

Kết luận: Kiểu phạt vạ “không xin phép” tưởng như là một đòn răn đe để giành thế thượng phong, nhưng thực chất đã đẩy truyền thông chính thống vào thế “gậy ông đập lưng ông”.

Họ không những không quản được mạng xã hội, mà còn tự biến mình thành kẻ vô hình trong mắt thế hệ số, một bất lợi không thể cứu vãn trong cuộc chiến giành giật niềm tin của công chúng.

Ngay cả Tổng Bí thư cũng bị “bịt miệng” khi nói về giáo dục khai phóng

Mạc Văn Trang

29-6-2026

LGT từ Tiếng Dân: Chưa đầy một ngày sau khi Cổng Thông tin Chính phủ đăng bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm về “môi trường học thuật khai phóng”, thì bài viết đã âm thầm biến mất. Khi truy cập vào đường dẫn cũ, người đọc chỉ còn thấy dòng thông báo: “Nội dung này đã bị gỡ hoặc không tồn tại”.

Từ phát biểu của ông Trần Thanh Mẫn: Vai trò thật sự của báo chí Việt Nam

Trúc Lam

24-6-2026

Tại lễ trao Giải Báo chí Quốc gia lần thứ XX diễn ra ở Hải Phòng tối 21-6-2026, nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã nhấn mạnh vai trò của báo chí trong việc “bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”, đồng thời yêu cầu báo chí phải là lực lượng tiên phong trong đấu tranh phản bác các quan điểm mà nhà nước cho là sai trái, thù địch.

Neo giữ “sự thật” và “tính người” trong kỷ nguyên AI

Nguyễn Phương Mai

21-6-2026

Nhân ngày của các nhà báo, xin chia sẻ bài tôi viết cho tạp chí Một Thế Giới. 

Ngày 21/6: Nói với những ai sắp thành “cựu” nhà báo

Mai Phan Lợi

20-6-2026

Mai 21/6: Ngày của người làm báo Việt Nam

Báo chí

Nguyễn Thông

15-6-2026

Cứ phải nói thế này cho khách quan, công bằng: Việc chính quyền dẹp bớt đơn vị báo chí truyền thông, tém lại cho gọn là phải rồi, thậm chí cần dọn dẹp, loại bỏ, chấm dứt nhiều hơn nữa.

Chuyện Budapest (Kỳ 1)

Nguyễn Thọ

13-6-2026

Tôi từng đến Budapest nhiều lần và cảm thấy nó rất ít thay đổi. Lần này cũng vậy, vẫn là các công trình mang ánh hào quang của quá khứ đế quốc Áo-Hung, từ hệ thống tàu điện ngầm Metro cùng các nhà ga hoành tráng đến những tòa lâu đài lừng lững hai bên sông Đa-Nuyp.

Báo chí sẽ có thêm ngày kỷ niệm 15/6 hay 30/6?

Mai Bá Kiếm

9-6-2026

Được biết, ngày 2/7/2026, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình TP.HCM sẽ phát hành số báo đầu tiên của kỷ nguyên mới trên lãnh vực truyền thông.

Tiễn một cái tên — Và mười sáu năm thanh xuân

Mai Phan Lợi

6-6-2026

Mấy ngày tới, có thể PLO.vn sẽ đăng bài cuối cùng. Tôi không biết bài đó viết về chuyện gì. Nhưng tôi biết — dù đề tài là gì — nó vẫn sẽ mang cái hơi thở quen thuộc của một tờ báo từng có thói quen rất kỳ lạ: Đi ngược dòng.

Quy hoạch và Tầm nhìn

Hiệu Minh

2-6-2026

Tin về vụ sáp nhập báo chí ở TP.HCM rất buồn với người làm báo. Sau một đêm thức dậy thấy mình không còn đến văn phòng nữa sau 30-40 năm theo nghề, không đau mới lạ.

Vài dấu hiệu nhẹ

Nhật Minh

1-6-2026

Tự do báo chí có một vai trò rất lớn làm cho xã hội phát triển. Một đất nước giàu có, nhưng bước sang phía u tối hay văn minh, hãy nhìn vào sự tự do báo chí của đất nước đó ở mức độ nào sẽ thấy.

Một số chi tiết đáng lưu ý về Nghị định 174

Dương Quốc Chính

30-5-2026

Hôm trước mình đã viết một bài về Nghị định 174 này, có một chi tiết mình chưa đọc tới, có bạn nhắn tin nhắc, nay mình viết bổ sung ở đây. Đó là quy định xử phạt ở điều 95 thuộc chương VI của Nghị định này. Đây là điều RẤT QUAN TRỌNG, mà người dùng mạng xã hội rất dễ bị phạt, nên mọi người cần chú ý. Có lẽ 80% các vụ bị phạt trước đây đều liên quan đến điều này.

Quyền được nói

Tạ Duy Anh

30-5-2026

Trong một cuộc phỏng vấn diễn ra khoảng năm 2004, thủ tướng sắp mãn nhiệm của Singapore lúc bấy giờ là ông Goh Chok Tong đã lấy thành tích thu nhập đầu người ở Singapore gần 30.000 USD một năm để phản bác lại các quy kết đất nước ông hạn chế quyền tự do ngôn luận và hội họp của công dân. Ý của ông Goh: Giữa việc mất một chút tự do, với mức thu nhập lớn như vậy giữa một thế giới còn nhiều nghèo đói, chắc chắn rất đáng để quý vị đánh đổi?

Hiểu thế nào cho đúng về quy định xử phạt khi share bài báo lên mạng xã hội?

Lê Thọ Bình

29-5-2026

LGT: Trong khi báo chí nhà nước ngang nhiên “chôm” bài của người dân, thậm chí “tái phạm nhiều lần và ở mức độ khá nghiêm trọng“, thì với Nghị định 174/2026/NĐ-CP sắp có hiệu lực thi hành, không chỉ người dân, mà đến cựu nhà báo cũng phải thốt lên rằng, “với quy định xử phạt như trên thì khác gì yêu cầu người dân không đọc báo“.

Giải cứu truyền thông

Dương Quốc Chính

28-5-2026

Làm truyền thông bây giờ không đơn giản, vì dân giờ khôn hơn xưa nhiều, lại có nhiều nguồn thông tin xuyên biên giới mà nhà nước không thể kiểm soát. Vì thế, công tác tuyên giáo cần phải khôn khéo hơn cái thời mà thông tin dễ dàng bưng bít, nhồi sọ.

Nhiều tờ báo trở thành con nợ khó đòi

Lê Thiếu Nhơn

28-5-2026

Cơ quan Thuế TP.HCM vừa công khai danh sách 4.642 đơn vị còn nợ thuế, tính đến hết tháng 4/2026. Trong đó, có 15 tờ báo mà tòa soạn hoặc văn phòng trên địa bàn TP.HCM.

Truyền thông độc lập (Kỳ 3): Báo chí và đạo đức

Nguyễn Thọ

14-5-2026

Tiếp theo kỳ 1kỳ 2

Loạt bài viết này chỉ đề cập đến nền báo chí ở các nước dân chủ, nơi mà quyền lực được nhiều lực lượng chia sẻ và người dân được tự làm báo. Do vậy, mọi so sánh với Việt Nam đều lạc đề.

Truyền thông độc lập (Kỳ 2): Đi hai chân

Nguyễn Thọ

12-5-2026

Tiếp theo kỳ 1

Sau năm 1945, người Đức coi truyền thông nhà nước là cái ổ tiềm ẩn cho chế độ độc tài. Khi xây dựng hiến pháp, bên cạnh việc phân chia đất nước theo thể chế liên bang, kiểm soát quyền lực bằng tam quyền phân lập người ta cũng xóa bỏ các đài phát thanh và truyền hình nhà nước, lập ra hệ thống phát thanh và truyền hình công cộng (öffentlicher Rundfunk, public broadcasting). Chính quyền từ địa phương đến liên bang bị cấm, không được lập cơ quan truyền thông để tự tuyên truyền cho mình. Tư nhân vẫn có quyền làm báo, in ấn, lên sóng phát thanh, truyền hình, điện ảnh, sân khấu.

Truyền thông độc lập (Kỳ 1)

Nguyễn Thọ

10-5-2026

Ngày 22.04 vừa qua khán thính giả phát thanh và truyền hình Tiệp (nước Cộng hòa Séc) bỗng ngạc nhiên khi thấy các chương trình toàn quốc dừng lại 15 phút. Rồi các đại diện nghiệp đoàn lên sóng phản đối dự luật báo chí của chính phủ [1]. Điều gì đã xảy ra?

Mai Du Lân và Thực nghiệp Dân báo (Kỳ 2)

Mai Phan Lợi

30-4-2026

Tiếp theo kỳ 1

Bài viết nhân 40 năm ngày giỗ 30/4/1986— dâng lên ông như một nén hương tưởng nhớ

Ghi chú của tác giả: Bài viết tổng hợp từ tư liệu báo chí lịch sử đã được xác minh qua nghiên cứu học thuật (kể cả bài của TS. Nguyễn Cẩm Ngọc về quảng cáo báo chí 1900–1930; tài liệu Lưu Ngọc An về Nam Đồng thư xã; tư liệu Bảo tàng Lịch sử Thành phố Huế về báo Tiếng Dân công bố qua Vietnam.vn/ Báo Nhân Dân) và tư liệu gia đình do người viết — cháu nội của ông Mai Du Lân — ghi chép và lưu giữ.

Các chi tiết về đời tư và gia đình (bà Lê Thị Cả, vùng Lập Thạch) được trình bày rõ ràng là theo tư liệu gia đình, chưa được kiểm chứng qua nguồn độc lập. Bài công bố nhân ngày giỗ 30/4 hàng năm của ông.

***

I. MỘT CÁI TÊN BỊ LỊCH SỬ QUÊN LÃNG

Trong khi các tên tuổi như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi đã được nghiên cứu, thảo luận và trở thành những nhân vật quen thuộc trong lịch sử văn hóa Việt Nam thế kỷ XX, thì Mai Du Lân — người đã tạo ra “cơ sở hạ tầng” để nhiều ngòi bút ấy cất tiếng — vẫn còn là một cái tên mờ nhạt, ít khi được nhắc đến.

Ông không viết những bài nghị luận đình đám như Phan Khôi, không có những cuộc tranh biện nảy lửa như Nguyễn Văn Vĩnh. Ông đứng ở phía sau — xây nhà in, lập tòa soạn, trả lương cho người viết, đối phó với kiểm duyệt. Và chính sự vô danh tự nguyện ấy đã giúp ông tồn tại và hoạt động trong một thời đại mà tiếng nói độc lập luôn có giá phải trả.

Nhưng “phía sau” không có nghĩa là vô nghĩa. Người cháu nội của ông — người viết bài này, nhà báo duy nhất trong dòng dõi tiếp nối nghề báo — tin rằng không có hậu thuẫn của Mai Du Lân, rất nhiều trang sử báo chí Việt Nam thập niên 1920–1930 sẽ phải viết lại.

II. SỰ NGHIỆP BÁO CHÍ — TỪ CHỦ NHIỆM ĐẾN KIẾN TRÚC SƯ

Mai Du Lân — còn được biết đến với tên Mai Du Quế — bắt đầu hành trình báo chí của mình ở thời điểm lịch sử đặc biệt: từ Thái Bình lên Hà Nội lập nghiệp, năm 1920 khi mới 21 tuổi, ở thời điềm làn sóng khai thác thuộc địa lần hai của Pháp đang tái cơ cấu toàn bộ nền kinh tế Bắc Kỳ và tầng lớp tư sản dân tộc Việt Nam đang hình thành một cách chật vật nhưng không thể đảo ngược.

Ngay từ số đầu tiên của Thực nghiệp Dân báo ra ngày 10/7/1920, ông đảm nhận vị trí Chủ nhiệm — không phải chủ bút theo nghĩa văn chương, mà là người điều hành toàn bộ hoạt động của tờ báo như một doanh nghiệp. Đến tháng 3/1933, khi báo đổi bộ mới, ông chuyển sang chức danh Giám đốc chính trị — vị trí khẳng định tầm nhìn chiến lược trong việc định hướng tiếng nói của tờ báo giữa những biến động chính trị ngày càng phức tạp.

Ảnh chụp một trang Thực nghiệp Dân báo. Nguồn: Mai Phan Lợi

Dưới sự điều hành của ông, Thực nghiệp dân báo cùng với Trung Bắc tân văn đã trở thành hai nhật báo lớn nhất Hà Nội trong thập niên 1920. Tờ báo đạt tổng cộng 3.733 số — con số không chỉ nói lên sự bền bỉ mà còn nói lên khả năng giữ thăng bằng giữa áp lực kiểm duyệt và nhu cầu độc giả trong suốt gần hai thập kỷ.

Mô hình báo chí hiện đại đầu tiên

Điều khiến Mai Du Lân khác biệt so với hầu hết những người làm báo cùng thời là ông không chỉ nghĩ đến trang báo — ông nghĩ đến toàn bộ hệ sinh thái. Tòa soạn tại số 83 phố Hàng Gai được biến thành một trung tâm liên hoàn: nhà in Thực nghiệp, tòa soạn báo, hệ thống phát hành. Sự tự chủ về hạ tầng in ấn là điều kiện sống còn — khi không có nhà in riêng, chỉ cần nhà cầm quyền gây áp lực lên xưởng in là tờ báo lập tức câm lặng.

Với mô hình liên hoàn ấy, tòa soạn Hàng Gai trở thành một “pháo đài” bền vững. Và chính sự bền vững đó đã cho phép ông làm được điều mà nhiều tờ báo khác không thể: nuôi dưỡng những cây bút gai góc mà không sợ mất nguồn nuôi báo.

III. ÔNG TRÙM BIẾT TRỌNG NHÂN TÀI

Nếu có một đặc điểm nổi bật nhất trong phong cách điều hành của Mai Du Lân, đó là khả năng nhận ra và giữ chân nhân tài — kể cả khi những tài năng ấy mang theo những tư tưởng có thể gây rắc rối cho tờ báo.

Phan Khôi — ngòi bút sắc sảo, hay tranh luận và thường xuyên đụng chạm những vấn đề nhạy cảm về luân lý và xã hội — đã có những năm cộng tác quan trọng với Thực nghiệp Dân báo. Việc Mai Du Lân mời và giữ Phan Khôi cho thấy ông không tìm kiếm những cây bút “vâng lời” để làm hài lòng chính quyền bảo hộ, mà tìm kiếm những bộ óc có khả năng tạo ra sức nặng thực sự. Ông đã dùng vị thế và tài chính của mình để bảo vệ không gian ngôn luận tương đối cho các cộng tác viên.

Nhượng Tống (Hoàng Phạm Trân) — người sau này trở thành yếu nhân của Việt Nam Quốc dân đảng — đã được tạo điều kiện giữ vai trò “trông coi tòa soạn, sửa chữa bài vở”. Đây không chỉ là công việc — đây là sinh kế giúp Nhượng Tống có thể theo đuổi đồng thời sự nghiệp dịch thuật và hoạt động chính trị bí mật. Mai Du Lân biết điều đó, hay ít nhất cũng không ngăn cản.

Phạm Tuấn Tài và Phạm Tuấn Lâm — hai anh em sáng lập Nam Đồng thư xã — cũng từng khởi sự và duy trì tiếng nói trên mục Văn đàn của Thực nghiệp Dân báo và Khai hóa Nhật báo. Điều này khiến tòa soạn ở phố Hàng Gai trở thành nơi giao thoa của thế hệ doanh nhân – nhà báo thực dụng như Mai Du Lân và thế hệ trí thức – cách mạng trẻ đang tìm đường.

IV. NHƯỜNG MÁY IN CHO CỤ HUỲNH — MỘT NGHĨA CỬ ĐƯỢC LỊCH SỬ GHI NHẬN

Có một chi tiết đặc biệt trong hành trình báo chí của Mai Du Lân mà lịch sử đã ghi lại, dù ít người chú ý: sự liên kết giữa ông và báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng — tờ báo in đầu tiên của người Việt ở miền Trung.

Năm 1927, cụ Huỳnh Thúc Kháng ra Hà Nội mua thiết bị in để chuẩn bị xuất bản tờ báo Tiếng Dân tại Huế. Không ai trong nhóm sáng lập có kinh nghiệm làm báo. Và chính tại Hà Nội, họ đã gặp Mai Du Lân.

“Lúc bấy giờ ông Mai Du Lân, Chủ nhiệm báo Thực Nghiệp tại Hà Nội có nhã ý nhường lại cho Cụ Huỳnh một máy in còn mới. Nhà in Nghiêm Hàm cũng ủng hộ bằng cách đưa thợ nhà in vào Huế trợ lực.”

(Nguồn đã xác minh: Bài viết “Nơi ra đời tờ báo in đầu tiên của người Việt ở miền Trung”, Vietnam.vn, trích từ tư liệu Bảo tàng Lịch sử Thành phố Huế, do Báo Nhân Dân công bố).

Chiếc máy in còn mới từ nhà in Thực nghiệp đã vào Huế. Và từ chiếc máy đó, ngày 10/8/1927, báo Tiếng Dân ra số đầu tiên. Tờ báo hoạt động suốt 17 năm (1927–1943), ra được 1.766 số, trở thành tiếng nói dân quyền dài hơi nhất ở Trung Kỳ. Từ năm 1930, những ngòi bút như Võ Nguyên Giáp và Hải Triều cũng xuất hiện trên trang báo đó.

Như vậy, hành trình báo chí của Mai Du Lân không chỉ giới hạn ở Hà Nội. Thông qua một nghĩa cử tưởng chừng đơn giản — nhường một máy in — ông đã góp phần tạo ra “tiếng nói của dân” ở miền Trung. Đây là đóng góp với lịch sử báo chí dân tộc mà ngay cả các sử gia cũng chưa ghi nhận đầy đủ.

V. NGƯỜI VỢ XỨ VĨNH YÊN VÀ HÀNH TRÌNH KINH DOANH BÁO CHÍ

(Phần V trình bày theo tư liệu gia đình do người viết — cháu nội của ông Mai Du Lân — ghi chép và lưu giữ. Chưa được kiểm chứng qua nguồn lưu trữ độc lập. Người viết kêu gọi các nhà nghiên cứu có tư liệu liên quan hãy cùng đóng góp để phục dựng đầy đủ hơn).

Trong hành trình hoạt động báo chí đầy gian nan và tốn kém, Mai Du Lân có một chỗ dựa không thể không nhắc đến — dù chưa từng xuất hiện trên bất kỳ trang báo nào: bà Lê Thị Cả, người vợ thứ hai của ông, một địa chủ có cơ nghiệp vững chắc ở vùng Lập Thạch, Vĩnh Yên (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc).

Theo tư liệu gia đình, trong quá trình hoạt động báo chí, ông Lân đã hỏi bà Lê Thị Cả làm vợ hai và có với bà bốn người con — ba trai, một gái. Bà Cả không xuất hiện trên văn đàn, không để lại bút danh hay lời phát biểu nào được ghi lại. Nhưng với tư cách là một địa chủ có tài sản đất đai, đồn điền ổn định ở vùng Lập Thạch trù phú, bà là hậu thuẫn tài chính vững chắc cho những giai đoạn tờ báo cần vốn mở rộng, nâng cấp nhà in, hoặc đương đầu với những khó khăn kinh doanh không thể tránh khỏi.

Điều này không phải suy đoán. Vận hành Thực nghiệp Dân báo với 3.733 số trong gần hai thập kỷ đòi hỏi một nguồn tài chính liên tục và đáng tin cậy. Nhà in, tòa soạn, lương nhân viên, chi phí in ấn và phát hành — tất cả cần tiền. Và trả lương cho Phan Khôi, Nhượng Tống, Phạm Tuấn Tài không phải chuyện nhỏ.

Khi tờ báo cần vốn, cơ nghiệp đất đai Lập Thạch của bà Lê Thị Cả đã là chiếc đệm tài chính không thể thiếu. Con cháu ông Mai Du Lân vẫn truyền tai nhau những giai thoại về việc mỗi lần ông hỏi tiền, trước khi đưa bà đều bắt ông ghi biên nhận có điểm chỉ để làm bằng. Ngày bà mất trong số di vật bà để lại có vô số các tờ biên nhận mượn tiền như vậy mà dường như ông không trả bao giờ…

Trong xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, mô hình một người đàn ông hoạt động trí thức tại đô thị với hậu phương là gia đình sở hữu đất đai ở nông thôn là không hiếm. Nhưng trong trường hợp Mai Du Lân, mối liên hệ giữa cơ nghiệp đồn điền đất đai Lập Thạch của bà Lê Thị Cả và sự trường tồn của Thực nghiệp Dân báo qua gần hai thập kỷ có thể lớn hơn những gì lịch sử báo chí chính thống ghi nhận. Bà Lê Thị Cả là người phụ nữ điển hình của một thời: Không hiện diện trên trang báo, không được ghi tên trong lịch sử, nhưng chính sự lặng lẽ ấy đã chống đỡ cho tiếng nói của cả một thế hệ nhà báo và trí thức yêu nước.

VI. DI SẢN VÀ HẬU DUỆ

Mai Du Lân mất vào ngày 30 tháng 4 năm 1986 (30/3 âm lịch) — ngày mà trước đó cả chục năm đã trở thành một trong những ngày lịch sử trọng đại nhất của dân tộc. Đối với gia đình ông, đó là ngày giỗ. Đối với người viết bài này — người cháu nội duy nhất theo nghề báo trong dòng họ — đó là ngày để nhớ và để tri ân.

Cụ Mai Du Lân mất vào ngày 30 tháng 4 năm 1986 (30/3 âm lịch). Nguồn: Internet

Ông để lại nhiều con cháu, và một điều thú vị là phần lớn họ chọn những con đường sáng tạo: điện ảnh, truyền hình, văn học, xuất bản — như thể tinh thần người làm ra “chữ in” đã di truyền theo đường riêng của nó qua các thế hệ. Nhưng báo chí — nghề của ông — chỉ có một người cháu nội tiếp nối.

Có lẽ đó cũng là lý do bài viết này được đặt bút: không phải để dựng tượng đài, mà để trả lại một vị trí đúng đắn hơn cho một con người đã sống và hoạt động theo cách mà thời ông không cho phép ông được vinh danh công khai.

VII. ÔNG LÀ AI, NHÌN TỪ LỊCH SỬ

Trong hệ sinh thái báo chí Bắc Kỳ thập niên 1920, có thể phân biệt ba kiểu nhà báo: nhà trí thức làm báo (Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh), nhà cách mạng dùng báo (Nhượng Tống, Phạm Tuấn Tài), và nhà báo – doanh nhân (Mai Du Lân). Kiểu thứ ba ít được nghiên cứu nhất, nhưng lại là người giữ cho toàn bộ sinh thái ấy tồn tại.

Mai Du Lân không phải nhà tư tưởng viết ra những câu được trích dẫn. Ông là người xây tòa soạn để người ta có chỗ viết. Ông trả lương để người ta không phải viết theo đơn đặt hàng của ai. Ông đứng mũi chịu sào với Phủ Thống sứ để người ta có thể viết những điều chính quyền không thích. Ông nhường máy in để cụ Huỳnh có “tiếng nói của dân” ở Huế. Và ông giữ cho tờ báo sống sót — 3.733 số — trong một thời đại mà mỗi số báo đều có thể là số cuối.

Nếu coi mỗi trang báo là một viên gạch xây nên ý thức quốc dân, thì Mai Du Lân là người đứng xây — lặng lẽ, kiên nhẫn, và gần như vô danh.

* Người viết: Cháu nội của nhà báo Mai Du Lân. Bài viết được công bố nhân 40 năm ngày giỗ 30/4 của ông, như một nén hương tưởng nhớ và một đóng góp vào hành trình phục dựng lịch sử báo chí Việt Nam.

_______

Tài liệu tham khảo chính:

(1) TS. Nguyễn Cẩm Ngọc — “Quảng cáo báo chí với sự hình thành lối sống đô thị và tinh thần thực nghiệp tại Việt Nam (1900–1930)”, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông điện tử, 3/2026;

(2) Lưu Ngọc An — “Từ nhật báo đến sách: Hoạt động báo chí và xuất bản của các yếu nhân Nam Đồng thư xã”;

(3) “Nơi ra đời tờ báo in đầu tiên của người Việt ở miền Trung”, Vietnam.vn/Báo Nhân Dân, trích tư liệu Bảo tàng Lịch sử TP. Huế;

(4) Thực nghiệp Dân báo, số 1068, ngày 26/4/1924;

(5) Tư liệu gia đình do người viết lưu giữ.

Bài báo “Triệu người vui, triệu người buồn” của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt bị gỡ như thế nào?

Phạm Phú Thép

24-4-2026

Đại sứ Nguyễn Hồng Thạch kể, năm 2005, khi ông đang làm Phó tổng Biên tập tờ báo Quốc Tế của Bộ Ngoại giao, [ông] rất muốn làm một bài phỏng vấn với ông Võ Văn Kiệt về các vấn đề kinh tế, vì năm 2005 là năm kỷ niệm 10 năm ngày bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Mười năm Việt Nam hội nhập với thế giới. Dự tính bài phỏng vấn của ông Kiệt sẽ là bài “đinh” đăng vào số Tết của báo Quốc Tế.

Nhà văn, nhà báo Phạm Thị Hoài: Tự do ngôn luận khắp thế giới đang rất suy yếu. Báo chí độc lập phải chứng tỏ sự ưu việt bằng chất lượng

Thế Kỷ Mới

Tác giả: Song Chi

21-4-2026

Phạm Thị Hoài – nhà văn, Phạm Thị Hoài – dịch giả, Phạm Thị Hoài – nhà báo, ở vị trí nào thì chị cũng luôn là một cái tên đầy sức nặng, gây tranh cãi và khó có thể quên.

“Bức tường ô nhục”

Dương Quốc Chính

2-4-2026

Báo chí đột nhiên đồng loạt lên bài về việc đập “bức tường ô nhục” ở Huế như một chiến tích giải phóng, xóa bỏ nỗi nhục chia cắt đồng bào ta ở Huế! Đọc thấy hài, vì không biết cái tên ô nhục đó do ai bịa ra? Mình đi Huế mấy lần không biết luôn là có nó? Ai dân Huế cho biết là dân Huế có thấy ô nhục gì không vậy?!

Khi báo chí cách mạng “sống” nhờ view: Vòng xoáy nghiệt ngã của những “chiến sĩ” cầm bút

Mai Phan Lợi

22-3-2026

Suốt chục năm qua, khi đứng ra tổ chức các diễn đàn trực tuyến cho anh em nhà báo, phóng viên, tôi vẫn thường xuyên nhận được những tin nhắn riêng đầy trăn trở.

Bộ Công an muốn bảo vệ người dân hay dập tắt tiếng nói của dân?

Trúc Lam

5-3-2026

Bộ Công an vừa đưa ra đề xuất thiết lập Trung tâm Cơ sở dữ liệu quốc gia (CSDLQG) về phòng, chống vi phạm pháp luật liên quan đến tin giả, tin sai sự thật, để “bảo vệ người dân trên không gian mạng”. Đề xuất này là một ý tưởng mới nghe qua thì thấy có vẻ rất “hợp lý” trong bối cảnh nhiễu loạn thông tin hiện nay, thế nhưng…

Mỗi quốc gia sẽ phải chọn con đường riêng của mình… khi không còn luật pháp quốc tế

Vũ Hoàng Linh

2-3-20206

Đúng là thời thế đã thay đổi. Iran 2026 gợi nhớ đến Iraq 2003, cùng là cuộc chiến do Mỹ gây ra để huỷ diệt khả năng phát triển vũ khí hạt nhân và kèm với nó là thái độ “đố mày dám động bố mày” của một quốc gia thù địch nếu họ thành công. Cùng là một cuộc chiến không tuyên bố, trái với luật pháp quốc tế khi tấn công một quốc gia có chủ quyền, cho dù chính thể cai trị quốc gia đó rất tàn ác và vô đạo đức, là đối tượng gây bất ổn cho khu vực và tài trợ cho khủng bố.