Ấn Độ sẽ trở thành quốc gia đông dân nhất thế giới vào năm 2023

The Economist

Cù Tuấn, dịch

17-11-2022

Tóm tắt: Trung Quốc hiện đang phải chịu sự sụt giảm về nhân khẩu học.

VOA gỡ bài viết làm Thủ tướng Việt Nam xấu hổ

Washington Post

Tác giả: Paul Farhi

Dịch giả: Dương Lệ Chi

15-11-2022

Một bài viết về những lời bình luận không mang tính ngoại giao của Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính bị thu được khi ông nói chuyện qua micro đã lan truyền nhanh chóng — trước khi hãng tin [VOA] do Hoa Kỳ tài trợ, đã bị gỡ bỏ sau khi có khiếu nại từ đại sứ quán của ông ta.

Nga đã cố gắng hấp thu một thành phố của Ukraine, nhưng không thành công

The New York Times

Cù Tuấn, dịch

15-11-2022

Tóm tắt: Ở Kherson, các bài hát Ukraine bị cấm, nói tiếng Ukraina có thể bị bắt và học sinh được bảo rằng họ là người Nga.

Chính phủ Hà Lan chống lại các văn phòng công an của Trung Quốc

TAZ

Tác giả: Sven Hansen

Vũ Ngọc Chi chuyển ngữ

3-11-2022

Ngoại trưởng Hoekstra ra lệnh đóng cửa hai văn phòng công an bất hợp pháp của Trung Quốc. Chúng được lập ra nhằm mục đích đe dọa những người bất đồng chính kiến.

Công an Trung Quốc ở gần họ hơn là họ nghĩ: Người Uigur biểu tình ở Amsterdam 2019. Nguồn: Remko de Waal/ EPA Den Haag

BERLIN taz | Chính phủ Hà Lan hôm thứ Ba đã yêu cầu đại sứ quán Trung Quốc đóng cửa ngay lập tức hai văn phòng công an Trung Quốc ở Amsterdam và Rotterdam. Theo hãng tin ANP, những chỗ này chưa bao giờ có sự chấp thuận của các nhà chức trách Hà Lan, Bộ trưởng Ngoại giao Wopke Hoekstra cho biết. Do đó, chúng “không thể chấp nhận được”.

Hôm thứ Tư, Triệu Lập Kiên (Zhao Lijian), phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Bắc Kinh đã phủ nhận sự tồn tại của các văn phòng công an Trung Quốc ở Hà Lan. Tuy nhiên, theo Reuters, ông thừa nhận sự tồn tại của các “trung tâm dịch vụ”.

Tuần trước, truyền thông Hà Lan lần đầu tiên đưa tin về các văn phòng công an Trung Quốc. Từ đó, chính quyền Trung Quốc cũng sẽ gây áp lực lên những người bất đồng chính kiến ​​tị nạn, dưới chiêu bài cung cấp các dịch vụ như cấp giấy chứng nhận kết hôn hoặc gia hạn giấy phép lái xe.

Chính phủ Hà Lan sau đó đã công bố một cuộc điều tra, theo Bộ trưởng Hoekstra, nhằm tìm hiểu chính xác những điều mà các văn phòng ở Hà Lan, vốn được coi là bất hợp pháp, đang thực sự làm gì.

Sở công an hải ngoại là văn phòng cấp tỉnh

Theo tường thuật của các phương tiện truyền thông, các văn phòng đã có ở đó từ năm 2018. Văn phòng ở Amsterdam do hai công an tỉnh Chiết Giang điều hành. Còn văn phòng ở Rotterdam nằm trong một căn hộ và do một người lính tỉnh Phúc Kiến chỉ huy.

Cả hai tỉnh miền đông Trung Quốc đều được biết đến với tỷ lệ người nhập cư cao. Cũng không có gì lạ khi chính quyền Trung Quốc ở nước ngoài sử dụng các hiệp hội đồng hương và lấy đó làm chính trị cho các tỉnh tương ứng hoặc toàn bộ nước Cộng hòa Nhân dân. Các hiệp hội ở hải ngoại thường là tay sai của các sứ quán.

Nhà bất đồng chính kiến ​​người Trung Quốc Vương Tịnh Du (Wang Jingyu), là người tị nạn chính trị ở Hà Lan, nói với báo Guardian của Anh rằng, ông đã được văn phòng công an Trung Quốc ở đó liên lạc ngay khi đến Rotterdam.

Họ yêu cầu tôi quay trở lại Trung Quốc. Tôi cũng được bảo rằng hãy nghĩ về cha mẹ mình”, Vương nói. Sau đó anh ấy đã bị gây áp lực qua những tin nhắn và các cuộc gọi. Và anh đã bị dọa giết.

Tuần trước, tin tức về các đồn công an Trung Quốc như vậy đã xuất hiện ở một số thành phố, chủ yếu ở châu Âu, bao gồm London, Glasgow, Dublin, Paris, Madrid, Valencia, Prague, Porto và Frankfurt am Main.

Báo cáo của tổ chức Tây Ban Nha gây rúng động

Nguồn chính là một bài tường thuật của tổ chức phi chính phủ về nhân quyền Tây Ban Nha Safeguard Defenders vào cuối tháng Chín. Trong đó, tổ chức này đã liệt kê 54 văn phòng công an như vậy ở 25 thành phố của 21 quốc gia, phần lớn là ở châu Âu.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã bênh vực các văn phòng này vào tuần trước và bác bỏ mọi cáo buộc. Họ là những trợ thủ đắc lực trong đại dịch khi công dân Trung Quốc không thể về nhà như thường lệ.

Các văn phòng cũng phục vụ cho việc chống tội phạm xuyên biên giới, đồng thời tuân thủ nghiêm ngặt chủ quyền của nước sở tại.

Văn phòng công an Trung Quốc ở Frankfurt?

Tường thuật của Safeguard Defenders nêu tên một văn phòng tại Frankfurt am Main ở Đức mà không cho biết thêm chi tiết. Tuần trước, Bộ Nội vụ Hessen thông báo, sẽ điều tra bài tường thuật.

Theo Safeguard Defenders, lần đầu tiên Trung Quốc thành lập các văn phòng công an như vậy ở nước ngoài vào năm 2018. Mục đích của họ là hạn chế gian lận qua Internet và điện thoại. Nhiều kiều bào Trung Quốc bị liên lụy trong việc này, thường là vì chính họ từng là nạn nhân của những lời hứa hão huyền và tống tiền.

Theo Safeguard Defenders, cơ quan công an Trung Quốc khoe rằng, từ tháng 4 năm 2021 đến tháng 7 năm 2022, có tổng cộng 230.000 công dân của họ đã “được thuyết phục” quay trở lại Trung Quốc.

Điều này thường xảy ra với áp lực lớn đối với các thành viên trong gia đình, bao gồm cả việc cấm con cái của họ hàng đến trường. Tuy nhiên, theo bài tường thuật, các vụ lừa đảo qua Internet và điện thoại của bọn tội phạm Trung Quốc chủ yếu đến từ 9 quốc gia, trong đó 7 quốc gia ở Đông Nam Á và miền bắc Miến Điện và Campuchia là trung tâm, thì các văn phòng công an ở nước ngoài không tập trung ở đó, mà chủ yếu ở châu Âu.

Giới quan sát cho rằng, việc Trung Quốc sử dụng các văn phòng trái phép này cung cấp thêm bằng chứng, cho thấy, chính quyền Bắc Kinh, với quyền lực chính trị và kinh tế ngày càng tăng, ngày càng ít có xu hướng tuân thủ các quy tắc hành xử theo luật pháp quốc tế.

Các yếu tố nội địa đằng sau các vụ thử tên lửa của Bắc Triều Tiên

Diplomat

Tác giả: Mitchell Lerner

Thục Quyên, phỏng dịch

26-10-2022

Lời người dịch: Bắc Triều Tiên đã phóng hơn 40 tên lửa các loại và tầm bắn khác nhau trong năm 2022. Sáu trong số các vụ thử đó diễn ra trong tháng 102022, bao gồm vụ phóng hai tên lửa hành trình bay hơn 1.200 dặm trước khi đâm xuống Biển Đông ngày 12102022. Mới nhất là vụ bắn ngày 28102022. Các hành động đối ngoại khiêu khích nhất của Bình Nhưỡng thường xảy ra trong bối cảnh các vấn đề căng thẳng trong nước.

Trung Quốc: Chúng ta phải nhanh chóng đổi mới tư duy

Zeit

Tác giả: Peter R. Neumann và Moritz Rudolf

Vũ Ngọc Chi chuyển ngữ

24-10-2022

Nó không còn là về giá trị đạo đức và thương mại: Đối với phương Tây, thái độ đối với Trung Quốc dưới sự cai trị của Tập Cận Bình là một vấn đề sống còn. Ba mục tiêu cho một chính sách mới đối với Trung Quốc.

Scholz đối mặt với Xi như thế nào? Rạn nứt rõ ràng trong mối quan hệ giữa Bắc Kinh và Moscow

NTV

Tác giả: Andreas Landwehr

Việt Hùng dịch

20-10-2022

Kể từ khi bắt đầu cuộc xâm lược Ukraine, Vladimir Putin đã nhận được sự ủng hộ của Trung Quốc – đôi khi lớn tiếng hơn, đôi khi im lặng hơn. Tuy nhiên, nó đang ngày càng ít đi. Trung Quốc ngày càng khó chịu trước sự leo thang của chiến tranh. Nhưng các kế hoạch riêng của Trung Quốc cũng vấp phải sự chỉ trích, chẳng hạn ở Đức.

Chiến tranh Ukraine có thể kết thúc như thế nào mà không có leo thang hạt nhân

NZZ

Tác giả: Timothy Snyder

Vũ Ngọc Chi, chuyển ngữ

16-10-2022

Với lời đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân, Putin đã gài công chúng phương Tây vào một trò chơi tâm lý nhằm che phủ sự phán đoán rõ ràng của họ. Nếu bạn muốn biết chiến tranh có thể kết thúc như thế nào, bạn nên theo dõi dấu vết của logic quyền lực trong Điện Kremlin.

Bao giờ chúng ta nhìn thẳng vào sự thật?

T-Online

Tác giả: Fabian Reinbold, Phóng viên chính trị CHLB Đức

Thuc Quyên, phỏng dịch

17-10-2022

Ảnh: Tàu sân bay Liêu Ninh (Liaoning) của Trung Quốc: Bắc Kinh đang theo đuổi chủ nghĩa dân tộc và tích cực tái vũ trang. Nguồn: Bộ Quốc phòng Nhật Bản / Reuters

Chính sách ngoại giao để phục vụ Đảng Cộng sản Trung Quốc

TV5 Monde

Tác giả: Séraphine Charpentier

Thục Quyên, lược dịch

15-10-2022

Ảnh: Vương Nghị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc, đóng một vai trò rất quan trọng trong ảnh hưởng quốc tế của Trung Quốc, đặc biệt tại các nước đang phát triển, là nơi tranh giành ảnh hưởng giữa phương Tây và Trung Quốc. Nguồn: AP Photo/ Mary Altaffer

Ưu điểm của hệ thống phòng không IRIS-T SLM

NTV

Tác giả: Kai Stoppel

Vũ Ngọc Chi, chuyển ngữ

14-10-2022

Đức vừa cung cấp cho Ukraine Iris-T SLM, một trong những hệ thống phòng không hiện đại nhất thế giới. Các chuyên gia và các chính trị gia rất phấn khởi. Nhưng điều gì làm cho hệ thống này trở nên đặc biệt? Và nó có đáp ứng được những gì nó hứa hẹn?

Hệ thống phòng không đất đối không IRIS-T SLM. Nguồn: Diehl Defence

Nga tiến sang khủng bố từ trên trời chống lại Ukraine. Hàng loạt hỏa tiễn, hỏa tiễn hành trình và máy bay không người lái chiến đấu tấn công các thành phố và cơ sở hạ tầng năng lượng của Ukraine. Theo phòng không Ukraine, họ đã bắn rớt nhiều hỏa tiễn, nhưng nhiều hỏa tiễn khác lọt qua được. Nhiều người chết, nguồn cung cấp điện lực có lúc bị gián đoạn.

Đức hỗ trợ thiết bị công nghệ cao: Hệ thống phòng không đầu tiên IRIS-T SLM đã đến Ukraine. Phản ứng từ Kyiv rất hào hứng, Bộ trưởng Quốc phòng Ukraine Oleksij Resnikow nói về một “kỷ nguyên phòng không mới“. Các cựu sĩ quan quân đội Đức cũng lạc quan. Họ cho đó là một “bước nhảy lượng tử”. Nhưng điều gì thực sự làm cho hệ thống này trở nên đặc biệt?

***

Một điểm mạnh của Iris-T SLM là radar 360 độ của nó, có thể được kết hợp với các cảm biến hồng ngoại trong hỏa tiễn để ghi nhận và theo đuổi mục tiêu, Markus Reisner, Đại tá của Quân đội Áo và Trưởng phòng Nghiên cứu và Phát triển tại Học viện Quân sự Theresia ở Wiener Neustadt, nói với NTV.de. Một lợi thế khác: Với Iris-T SLM, “một số mục tiêu có thể được ghi nhận và bắn phá cùng một lúc”, Reisner nói.

Iris-T hiện thời là hệ thống hiện đại nhất trên thế giới”, Ralph Thiele, một cựu Đại tá quân đội Đức giải thích trong một cuộc phỏng vấn với NTV. Rốt cuộc, nó vừa mới được đưa ra thị trường. Ngay cả Bundeswehr (quân đội Đức) cũng không có một hệ thống như vậy. Nhà sản xuất Diehl Defense từ Überlingen bên hồ Bodensee đã “tham gia vào việc phát triển các hệ thống phòng thủ chiến thuật trong nhiều thập kỷ”, Thiele nói. Diehl là nhà sản xuất dẫn đầu trên tất cả về độ chính xác mà các mục tiêu có thể bị bắn trúng.

Ảnh: Hỏa tiễn đất đối không IRIS-T SL – phát triển từ hỏa tiễn không đối không IRIS-T mà quân đội Đức sở hữu. Nguồn: Diehl Defence

Như con mắt của một con tắc kè hoa

IRIS-T SLM có thể được sử dụng để chống lại hỏa tiễn và hỏa tiễn hành trình của Nga, chẳng hạn như những hỏa tiễn được sử dụng trong cuộc tấn công hàng loạt gần đây nhất. Và tất nhiên, nó cũng có thể được dùng để bắn rớt máy bay và trực thăng đối phương bay từ trên trời. Toàn bộ hệ thống bao gồm ba đến năm phương tiện di chuyển. Thiết bị điều hành cả hệ thống được đặt trong một chiếc, một chiếc khác có radar, cộng với một đến ba chiếc, mỗi chiếc có tám hỏa tiễn đánh chặn. Khả năng di chuyển nhanh chóng là một ưu điểm khác của hệ thống. Tất cả các thành phần có thể thay đổi địa điểm nhanh chóng để không bị đối phương khám phá và phá hủy.

Đây là cách nó hoạt động: Khi radar 360 độ ghi nhận một hỏa tiễn của đối phương, một hỏa tiễn đánh chặn được bắn thẳng đứng từ một thùng chứa trên mặt đất (S trong SLM là viết tắt của Surface Launched, phóng từ mặt đất). Với sự trợ giúp của GPS và điều hướng quán tính, hỏa tiễn bay về hướng mục tiêu, nhưng trên đường đi nó có thể được radar cập nhật dữ liệu về vị trí của mục tiêu.

Chỉ ở đoạn tiếp cận cuối cùng, thiết bị tìm kiếm hồng ngoại nằm ở phần đầu hỏa tiễn Iris-T (IRIS là viết tắt của Infra Red Imaging System: Hệ thống Hình ảnh Hồng ngoại) mới được mở lộ ra và sử dụng. Giống như mắt của một con tắc kè hoa, nó có thể xoay theo một góc rộng để tìm kiếm và ghi nhận mục tiêu. Hỏa tiễn sẽ khó bị gây ảnh hưởng. Ví dụ, xử lý hình ảnh thông minh có thể phân biệt giữa nguồn nhiệt của mục tiêu và vật thể hồng ngoại đánh lừa. Hỏa tiễn cũng được cho là miễn nhiễm phần lớn với các biện pháp gây nhiễu điện tử.

Iris-T đánh chặn, mà hỏa tiễn đất đối không IRIS-T SL phát triển từ đó, bay với tốc độ gấp ba lần âm thanh và theo Bundeswehr, vẫn đạt được “khả năng cơ động độc đáo”. Nó nhờ có một vòi phun có thể xoay (tiếng Anh: Tail/Thrust Vector-Controlled đuôi/lực đẩy điều khiển vector – đó là những gì T đứng trong Iris-T) và cánh được tối ưu hóa. Khi tiếp cận mục tiêu, cuối cùng nó nổ tung ra nhiều mảnh để phá hủy hỏa tiễn tấn công.

Bảo vệ toàn thành phố lớn

Toàn bộ hệ thống IRIS-T SLM có thể bao phủ bán kính 40 km và tấn công các mục tiêu lên tới độ cao 20 km. M trong SLM là viết tắt của phạm vi trung bình, Medium Range. Ngoài ra còn có một phiên bản với phạm vi ngắn hơn (SLS) đạt tới 25 km mà hỏa tiễn không đối không Iris-T được sử dụng. Một tên lửa phòng thủ đường dài đang được phát triển.

Toàn bộ một thành phố lớn có thể được bảo vệ chống lại các cuộc không kích bằng IRIS-T SLM, Thủ tướng Liên bang Olaf Scholz ca ngợi. Vậy Ukraine hiện nay có an toàn trước các cuộc tấn công khủng bố của Nga? Theo quan điểm của Đại tá Reisner, vẫn chưa rõ liệu hệ thống phòng không này có đáp ứng được kỳ vọng cao hay không: “Hiệu quả thực tế sẽ chỉ được thể hiện trong hoạt động”. Cho đến nay, hệ thống đã không được chứng tỏ khả năng trong một cuộc chiến thực sự.

Ảnh minh họa. Nguồn: DPA

Ngoài ra, bán kính hoạt động 40 km mặc dù đủ để bảo vệ một thành phố, nhưng Ukraine là một quốc gia rộng lớn – phòng không toàn diện sẽ không thể thực hiện được với một số ít IRIS-T SLM. Theo quan điểm của cựu Đại tá Thiele, hệ thống này là một “phần quan trọng của tổng thể”. Với nó, “các trung tâm chính phủ, cơ sở hạ tầng và trung tâm hậu cần quan trọng” có thể được bảo vệ.

Ba hệ thống IRIS-T SLM nữa sẽ được chuyển giao cho Ukraine trong năm tới. Bộ trưởng Quốc phòng Liên bang Christine Lambrecht hứa: “Chúng tôi đang làm mọi thứ để nó có thể được thực hiện càng sớm càng tốt”. Tuy nhiên, “các hệ thống hiện đại, phức tạp cao” như IRIS-T SLM lại mất nhiều thời giờ để sản xuất. Điều tương tự cũng áp dụng với NASAMS của Mỹ, một hệ thống phòng không tương đương mà Mỹ muốn chuyển giao cho Ukraine – hai trong số đó được chuyển ngay lập tức, sáu hệ thống khác sẽ được chuyển trong thời gian dài hơn.

Nga dựa vào máy bay không người lái Kamikaze

Nhưng ngay cả IRIS-T SLM cũng không được coi là không thể vượt qua. Rốt cuộc, một hệ thống chỉ có tối đa 24 hỏa tiễn sẵn sàng phóng cùng lúc. Với số lượng hỏa tiễn tấn công cao, trên thực tế nó có thể bị áp đảo. Theo các chuyên gia, mặc dù có những dấu hiệu cho thấy Nga đang dần đạt đến giới hạn của mình, ít nhất là về kho dự trữ tên lửa hành trình chính xác. Nhưng số lượng vũ khí tầm xa chính xác cao đến mức nào thì không ai có thể đánh giá được.

Phía Ukraine cũng báo cáo rằng, Nga cũng đã sử dụng máy bay không người lái kamikaze từ Iran trong cuộc tấn công hàng loạt gần đây nhất. Ví dụ, máy bay không người lái Shahed-136 thường tấn công cặp đôi vào một mục tiêu, tương đối nhẹ và bay thấp đến mức chúng rất khó phát hiện bởi hệ thống phòng không Ukraine, một chỉ huy Ukraine nói với Wall Street Journal. Theo Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky, Moscow đã đặt hàng 2.400 chiếc máy bay không người lái này từ Iran.

IRIS-T SLM cũng có thể làm điều gì đó chống lại máy bay không người lái? Điều đó có thể xảy ra, cựu tướng Erhard Bühler nói với MDR. “Bạn phải quyết định ngay tại chỗ có bắn một tên lửa rất đắt tiền như vậy vào một máy bay không người lái của Iran hay không”. Ít nhất thì phiên bản không đối không IRIS-T có giá khoảng 400.000 Euro cho mỗi tên lửa. Không có thông tin về giá cả hỏa tiễn phát triển mới IRIS-T SL. Toàn bộ hệ thống sẽ có giá khoảng 140 triệu Euro.

Nhưng có thể có một giải pháp khác cho mối đe dọa từ máy bay không người lái: NATO đã thông báo rằng họ dự định cung cấp cho Ukraine hàng trăm thiết bị gây nhiễu để chống lại máy bay không người lái. Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg cho biết, những thiết bị này có thể giúp làm cho các máy bay không người lái do Nga và Iran sản xuất không còn hiệu quả.

“Đây là tên lửa của bạn” – Làm thế nào một gia đình Ukraine chạy qua Nga để trốn sang Đức

NTV

Maryna Bratchyk trò chuyện với Volodymyr F

Việt Hùng phỏng dịch

15-10-2022

Volodymyr đã lái xe 4.500 km đến Đức cùng vợ, con gái 9 tuổi và mẹ của họ.

Nguyên nhân nào gây ra cuộc chiến Ukraine?

Project – Syndicate

Tác giả: Joseph S. Nye, Jr.

Đỗ Kim Thêm, dịch

4-10-2022

Giữa những cuộc tranh luận sôi nổi về các yếu tố khiến Nga xâm lăng Ukraine vào ngày 24 tháng 2 năm 2022, nó giúp phân biệt các nguyên nhân sâu xa, trung gian và trực tiếp. Nhưng trong khi mỗi nguyên nhân có thể gây ra vấn đề theo những cách riêng của nó, chiến tranh không cần phải được coi là không thể tránh được, ngay cả khi tất cả các nguyên nhân đều hiện diện.

Nga không có nhân vật số hai – Điều gì sẽ xảy ra nếu Putin chết?

NTV

Tác giả: Kevin Schulte

Việt Hùng dịch

14-10-2022

Vladimir Putin là người đàn ông quyền lực nhất ở Nga trong gần 23 năm. Nhưng Tổng thống Nga hiện đã 70 tuổi – và kể từ cuộc tấn công vào Ukraine, đã có nhiều đồn đoán về một căn bệnh nghiêm trọng.

Mối quan hệ của Trung Quốc với Nga và cuộc chiến ở Ukraine (Phần 2)

BPB

Sabine Peschel phỏng vấn Zhang Yunhua

Thục Quyên phỏng dịch

14-10-2022

Ảnh hưởng của sự rạn nứt toàn cầu bởi cuộc chiến Ukraine

Ngay cả khi không có chiến tranh, toàn cầu hóa đã bước vào giai đoạn thứ ba. Điều này có nghĩa là các chuỗi cung ứng sẽ ngày càng đa dạng hơn trong tương lai, ít phụ thuộc vào Trung Quốc hơn. Một dòng vốn nhất định đang thất thoát từ Trung Quốc. Trước tình hình đó, Trung Quốc ngày càng quan tâm đến các nước phi dân chủ. Trước đây, Trung Quốc chỉ chú trọng đến hai khu vực, Mỹ là thị trường lớn nhất và Liên minh Âu châu. Trung Quốc đã thay đổi hướng đi, bởi vì bây giờ các nước ASEAN đã thành đối tác thương mại lớn nhất, không còn là Mỹ, cũng không còn là Liên minh Âu châu.

Mặc dù vậy, Trung Quốc vẫn phụ thuộc vào các nước phương Tây. Bởi vì khi nói đến mãi lực, tất nhiên sức mua lớn nhất không phải ở các nước ASEAN, mà là ở thế giới phương Tây. Xuất khẩu là cơ sở quan trọng của nền kinh tế Trung Quốc.

Mặt khác, việc chuyển giao công nghệ then chốt từ Mỹ sang Trung Quốc gần như không thể thực hiện được nữa. Nói một cách dễ hiểu, điều này có nghĩa là sự phát triển công nghệ của Trung Quốc trong tương lai sẽ không suôn sẻ, và tốc độ phát triển sẽ tự động chậm lại. Tập Cận Bình sẽ ngày càng tập trung vào thị trường trong nước và thị trường của các nước phi dân chủ.

“Liên minh của những kẻ chuyên quyền”

Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Nga có là một mối đe dọa đối cho phương Tây?

Trong vấn đề Đài Loan, Trung Quốc là một mối đe dọa thực sự.

Liên quan tới Âu châu, mục đích của Trung Quốc là chia rẽ Liên minh Âu châu để làm suy yếu khối này. Và trên thực tế, thực sự là toàn bộ châu Âu đã hành động trái ngược nhau trong những năm gần đây. Điều đó tốt cho Trung Quốc. Kể từ khi chiến tranh xảy ra, tình hình đã thay đổi, nhưng bất chấp điều này, Trung Quốc sẽ nắm bắt mọi cơ hội để đẩy mạnh sự chia rẽ. Ví dụ, Trung Quốc đã chuyển giao tên lửa phòng không cho Serbia vào tháng Tư. Về khía cạnh này, Trung Quốc thực sự là một mối đe dọa.

Một thí dụ khác là Trung Quốc muốn thành lập chi nhánh của Đại học Phúc Đán ,Thượng Hải ở Budapest (Fudan University). Điều này vấp phải sự phản đối, nhưng vẫn chưa rõ dự án này đã thực sự kết thúc hay chưa. Chỉ riêng nỗ lực này đã cho thấy Trung Quốc muốn có được chỗ đứng ở mọi nơi, không chỉ ở các quốc gia độc tài mà còn ở những khu vực dân chủ.

Cuộc chiến Ukraine trên truyền thông Trung Quốc

Hình ảnh nào về cuộc chiến Ukraine đang chiếm ưu thế tại Trung Quốc?

Trong giai đoạn đầu, báo chí Trung Quốc hoàn toàn chỉ đưa tin những gì báo chí Nga đăng tải. Khi những người Ukraine sống tại Trung Quốc phát tán bất kỳ thông tin nào khác, ngay lập tức họ bị cảnh sát đe dọa.

Từ giữa tháng Tư là giai đoạn thứ hai, đôi khi xuất hiện những tin tức khác hơn các báo cáo từ Nga. Quân đội Ukraine càng mạnh vì được hỗ trợ bởi vũ khí công nghệ cao của phương Tây, thì Trung Quốc càng trở nên thận trọng với cách loan truyền tin tức.

Dù vậy, Trung Quốc vẫn sử dụng hai giọng lưỡi khác nhau: Trên sân khấu Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc dùng một ngôn ngữ ít nhiều tương ứng với các tiêu chuẩn quốc tế và nhấn mạnh tính trung lập của mình, nhưng đối với dân trong nước thì giọng điệu hoàn toàn về phe Nga.

Zhang Jun, Đại diện thường trực của Trung Quốc tại LHQ, đã bỏ phiếu trắng khi Đại hội đồng LHQ lên án với tỷ lệ áp đảo việc Nga xâm lược Ukraine trong nghị quyết ngày 2/3/2022. Tiếng nói của Trung Quốc rất quan trọng, do đó chỉ việc bỏ phiếu trắng cũng đã được quốc tế đánh giá tích cực. Nguồn: © picture-alliance, Pacific Press.

Giống như trên các phương tiện truyền thông Nga, Trung Quốc không bao giờ dùng từ “chiến tranh”, mà là “hoạt động quân sự nhằm đảm bảo hòa bình tại Ukraine”, hay gần đây là “cuộc khủng hoảng Ukraine”. Trong giai đoạn thứ hai, Trung Quốc sử dụng thuật ngữ chiến tranh, nhưng chắc chắn không có từ “xâm lược”. Và nếu có đề cập đến chiến tranh thì đó là một cuộc chiến khởi động bởi NATO, không phải Nga.

Tin tức về cuộc chiến Ukraine hoàn toàn bị kiểm duyệt tại Trung Quốc

Việc kiểm duyệt khá hoàn hảo. Hiện nay Trung Quốc là một đất nước nơi người dân, bao gồm cả trí thức, coi như đã có một thỏa thuận với chính phủ: Chúng tôi không đưa ra bất kỳ nhận xét chỉ trích nào, đổi lại hãy để chúng tôi yên. Thỏa thuận này dường như đang còn hiệu lực tại Trung Quốc. Đối với những phát biểu hiếm hoi vượt quá phạm vi, thì Trung Quốc có đủ một số lượng nhân viên ngồi trước màn hình để xóa ngay lập tức mọi lời chỉ trích. Một bài viết phê bình không tồn tại trên mạng được quá nửa giờ hoặc một giờ.

Đa số công chúng Trung Quốc tin vào sự tuyên truyền của Nga-Trung qua giới truyền thông, trong khi một thiểu số im lặng nhỏ bé không có không gian để nói lên suy nghĩ của họ.

Dù sao kết quả của cuộc chiến cũng sẽ có tác động lớn đến Trung Quốc, có nghĩa là một kết quả tiêu cực về phía Nga có thể khiến người dân Trung Quốc thức tỉnh – điều này sẽ không tốt cho giới lãnh đạo.

Lập luận được Trung Quốc loan truyền trong giới đồng minh của mình

Tất nhiên, khi cuộc chiến và toàn bộ tình hình liên tục thay đổi, cách thức tuyên truyền của Trung Quốc cũng thay đổi, nhất là khi Nga đã không thể dễ dàng đánh bại Ukraine.

Phương Tây và đặc biệt là Mỹ không thể để Ukraine thất bại. Một thất bại của Ukraine có thể đồng nghĩa với sự thất bại của Đài Loan trong tương lai, điều mà Trung Quốc biết rõ. Và điều này có nghĩa là tuyên truyền ủng hộ Nga của chính phủ chỉ nhắm vào chính người dân Trung Quốc.

Còn đối với các nước đồng minh, Trung Quốc không thể hoàn toàn bưng bít tin tức thì họ sử dụng những lập luận quen thuộc: Nguyên nhân của cuộc chiến là sự bành trướng của NATO. Vì vậy, nếu cuộc chiến này cũng gây ra những hậu quả như tình trạng thiếu lương thực trên toàn thế giới và đặc biệt là ở Nam Bán cầu, thì tất nhiên chỉ có phương Tây cần bị chỉ trích chứ không phải Nga.

Nhưng nhìn chung, Trung Quốc vẫn sẽ chọn một quan điểm thực dụng.

Trung Quốc đang theo dõi sát sao và phân tích kỹ diễn biến cuộc chiến ở Ukraine vì theo quan điểm của họ, đây có thể coi là sự mô phỏng một cuộc chiến tại Đài Loan. Do đó Trung Quốc đã cực lực cảnh báo khi xuất hiện một tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường của Hải quân Mỹ đi qua eo biển Đài Loan vào ngày 26/4: Dấu hiệu về sự bảo vệ Đài Loan của Hoa Kỳ. Nguồn: © picture-alliance/ AP

Bắc Kinh rút ra bài học gì từ cuộc xâm lược Ukraine của Nga đối với Đài Loan?

Trong mọi trường hợp, Trung Quốc sẽ tránh những gì mà họ đánh giá là Nga hiện đang làm sai: Có nghĩa là không tấn công theo kiểu “ngạo mạn” đó. Nếu bây giờ Trung Quốc tấn công Đài Loan, họ sẽ sử dụng công nghệ cao hơn chứ không như Nga – với các phương tiện quân sự đơn giản. Trung Quốc sẽ thận trọng hơn nhiều vì một cuộc tấn công vào Đài Loan chỉ có thể được thực hiện với sự chuẩn bị kỹ càng nếu Trung Quốc muốn nắm chắc phần thắng. Một đòn giáng mạnh vào Tập Cận Bình là một bài học khác từ cuộc chiến Ukraine: Cả Putin và Tập đều đánh giá bản thân quá cao và đánh giá phương Tây quá thấp.

Tập Cận Bình khi học được bài học này sẽ khiêm tốn hơn trong tương lai. Không có nghĩa là chính sách ngoại giao chiến binh sói hung hãn sẽ hoàn toàn thay đổi vì còn có vấn đề quán tính. Nhưng nói chung, Trung Quốc sẽ điều chỉnh sự kiêu ngạo của mình đôi chút.

Trung Quốc sẽ tấn công Đài Loan trong thời gian tới?

Nhiều dấu hiệu cho thấy, quân đội Trung Quốc có vẻ hoan nghênh một cuộc chiến, vì vậy chỉ còn phụ thuộc vào cách tính toán của Tập Cận Bình. Câu hỏi chính là công nghệ quân sự đã phát triển đến đâu. Có vẻ Trung Quốc phải cần thêm vài năm nữa, hay chỉ là hai hoặc ba?

Tuy nhiên, tình thế hiện tại đã thay đổi theo hướng có lợi cho Đài Loan, vì cộng đồng quốc tế sẽ khó chấp nhận thêm một cuộc chiến tranh xâm lược khác. Chỉ điều đó thôi cũng có thể khiến Trung Quốc không tránh được thất bại bất chấp mọi nỗ lực.

Tất cả phụ thuộc vào việc Tập Cận Bình có thể hạn chế tham vọng của mình hay không. Và điều này sẽ rõ khi Đại hội Đảng năm nay kết thúc.

(Chú thích của người dịch: Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt đầu ngày 16/10/2022).

Chiến tranh ở Ukraine có thể kết thúc như thế nào

The New Yorker

Tác giả: Keith Gessen

Bùi Xuân Bách, dịch

29-9-2022

Trong những năm gần đây, một nhóm nhỏ các học giả đã tập trung vào lý thuyết về chấm dứt chiến tranh. Họ thấy có lý do để lo ngại về những kết quả có thể xảy ra ở Ukraine.

Hein Goemans lớn lên ở Amsterdam vào thập niên 1960 và 70, xung quanh là những câu chuyện và ký ức về Chiến tranh thế giới thứ hai. Cha ông là người Do Thái và đã trốn “dưới sàn nhà”, như ông nói, trong thời gian Đức Quốc xã chiếm đóng. Khi Goemans đến Hoa Kỳ để học chuyên ngành “quan hệ quốc tế”, ông nhớ lại, khi ông được hỏi trong một lớp học về trải nghiệm riêng tư nhất của ông trong việc hình thành các khái niệm về lĩnh vực này. Ông nói rằng đó là Chiến tranh thế giới thứ hai. Các sinh viên khác phản đối rằng, điều này không đủ riêng tư. Nhưng nó rất riêng tư đối với Goemans. Ông nhớ lại lần tham dự lễ kỷ niệm lần thứ 40 ngày giải phóng Amsterdam vào tháng 5 năm 1985. Nhiều người lính Canada tham gia cuộc giải phóng vẫn còn sống, và họ đã tái hiện quang cảnh quân đội Canada tiến vào giải phóng thành phố. Goemans nhớ mình đã nghĩ rằng, người dân Amsterdam sẽ quá xuề xòa khi tham dự lễ kỷ niệm, và xúc động rằng ông đã sai. “Toàn bộ thành phố chật cứng người hai bên đường”, ông ấy nói với tôi gần đây. “Tôi thực sự ngạc nhiên là mọi người đã cảm nhận sự kiện đó sâu sắc tới mức nào”.

Goemans, hiện đang giảng dạy môn khoa học chính trị tại Viện Đại học Rochester (Hoa Kỳ), đã viết luận văn của mình về lý thuyết chấm dứt chiến tranh – tức là nghiên cứu về cách các cuộc chiến tranh kết thúc. Goemans biết được đã có nhiều công trình về các cuộc chiến bắt đầu như thế nào, nhưng lại biết rất ít về cách chúng có thể kết thúc. Có lẽ, có những nguyên nhân lịch sử cho sự bỏ qua này: vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ và Liên Xô có nghĩa là một cuộc chiến tranh giữa họ có thể kết thúc nền văn minh nhân loại; không chỉ một số người sắp chết, mà là cái chết của tất cả mọi thứ. Do đó, việc nghiên cứu chiến tranh trong thời Chiến tranh Lạnh đã làm phát sinh vốn từ vựng phong phú về răn đe: Răn đe trực tiếp, răn đe mở rộng, răn đe bằng trừng phạt, răn đe bằng cách từ chối. Nhưng Chiến tranh Lạnh đã kết thúc, và chiến tranh vẫn tiếp tục diễn ra. Goemans nhìn thấy một cơ hội cho sự can thiệp bằng trí tuệ.

Trong luận văn và trong cuốn sách tiếp theo của mình, “Chiến tranh và trừng phạt”, Goemans đã đưa ra lý thuyết về cách thức và lý do tại sao một số cuộc chiến kết thúc nhanh chóng và những cuộc chiến khác lại kéo dài một cách tàn bạo. Cuộc chiến trong tiêu đề là Chiến tranh thế giới thứ nhất; “Sự trừng phạt” là điều mà các nhà lãnh đạo ở Đức nói riêng, lo sợ đang chờ đợi họ, nếu họ mang về bất cứ điều gì ít hơn một chiến thắng. Khi cuốn sách của Goemans ra mắt vào năm 2000, đây là nghiên cứu toàn thời gian hiện đại đầu tiên dành hoàn toàn cho vấn đề chiến tranh kết thúc và nó đã giúp khởi động lĩnh vực này.

Goemans viết, thường chiến tranh được cho là kết thúc do một bên đầu hàng. Một tác giả đã nói vào năm 1944: “Cho đến khi kẻ bại trận bỏ cuộc, chiến tranh vẫn tiếp diễn”. Nhưng ghi chép thực nghiệm cho thấy điều này, cao nhất cũng chỉ là một lời giải thích không đầy đủ. Thường phải có hai bên để bắt đầu một cuộc chiến, ngay cả khi họ có những tội lỗi khác nhau, và thường cũng phải có hai bên để kết thúc nó; kẻ chiến bại có thể chấp nhận các điều khoản đã được đề xuất vào tuần trước, nhưng đâu có điều gì để ngăn người chiến thắng nghĩ thêm ra các điều khoản mới? Thí dụ kinh điển từ Chiến tranh thế giới thứ nhất là việc từ chối của những người Bolshevik, sau khi họ nắm chính quyền ở Nga, để tiếp tục cuộc chiến chống lại Đức; tuyên bố “không chiến tranh cũng không hòa bình”, họ chỉ đơn giản là rời khỏi các cuộc đàm phán tại Brest-Litovsk. Goemans viết: “Theo nghĩa đen, những kẻ thất bại đã bỏ cuộc”. Nhưng người Đức, thay vì chấp nhận điều này, tiếp tục tiến sâu hơn vào Nga. Chỉ sau khi những người Bolshevik đồng ý với những điều khoản, thậm chí còn khắc nghiệt hơn so với những điều khoản đã được đề xuất chỉ ba tuần trước đó, người Đức mới đồng ý rút lui khỏi cuộc chiến.

Các tài liệu lý thuyết gần đây đã thừa nhận tính hai mặt của chiến tranh, Goemans viết, nhưng ở đây, các khía cạnh quan trọng đã bị bỏ qua. Lý thuyết chiến tranh du nhập từ kinh tế học khái niệm “thương lượng” và các cuộc chiến tranh được cho là bắt đầu khi quá trình thương lượng – về một phần lãnh thổ, thường là – đổ vỡ. Nguyên nhân phổ biến nhất của sự đổ vỡ, theo các nhà lý thuyết chiến tranh (và một lần nữa vay mượn từ kinh tế học), là một số dạng bất cân xứng về thông tin. Nói một cách đơn giản, một hoặc cả hai bên đã đánh giá quá cao sức mạnh của mình so với đối thủ. Có nhiều lý do giải thích cho sự bất cân xứng về thông tin này, đặc biệt là khả năng chiến đấu trong chiến tranh của các quốc gia hầu như luôn là một bí mật được bảo vệ chặt chẽ. Trong mọi trường hợp, cách tốt nhất để tìm ra ai mạnh hơn là thực sự bắt đầu chiến cuộc. Sau đó, mọi thứ trở nên rõ ràng khá nhanh chóng. Nhiều cuộc chiến tranh đã kết thúc theo cách này, với việc các bên đánh giá lại sức mạnh tương đối của mình và chọn việc đi tới một thỏa thuận.

Nhưng có những loại chiến tranh khác, trong đó các yếu tố ngoài thông tin chiếm ưu thế. Những yếu tố này, một phần do chúng không đóng vai trò nổi bật trong kinh tế học, nên ít được hiểu rõ hơn. Một thực tế là các hợp đồng trong hệ thống quốc tế – trong trường hợp này là các thỏa thuận hòa bình – có rất ít hoặc không có cơ chế thực thi. Nếu một quốc gia thực sự muốn phá vỡ một thỏa thuận, thì không có tòa án trọng tài nào mà bên kia có thể kháng cáo. (Về lý thuyết, Liên Hiệp quốc có thể là tòa án này; trên thực tế thì không). Điều này dẫn đến vấn đề được gọi là “cam kết đáng tin cậy”: một lý do khiến các cuộc chiến tranh có thể không kết thúc nhanh chóng là do một hoặc cả hai bên không thể tin tưởng phía bên kia sẽ tôn trọng bất kỳ thỏa thuận hòa bình nào mà họ đã đạt được. Trong cuốn sách “Chiến tranh kết thúc ra sao” năm 2009 của mình, Dan Reiter, đồng nghiệp của Goemans, đã sử dụng ví dụ về Vương quốc Anh vào cuối mùa xuân năm 1940, sau khi nước Pháp sụp đổ. Nước Anh đã thua trong cuộc chiến và không có gì chắc chắn rằng Hoa Kỳ sẽ tham gia kịp thời để cứu nó. Nhưng người Anh vẫn tiếp tục chiến đấu, bởi vì họ biết rằng không thể tin cậy được vào bất cứ một cuộc thương thảo nào với Đức Quốc xã. Như Winston Churchill đã đưa chuyện này ra nội các của mình, theo cách không thể bắt chước của ông ấy: “Nếu câu chuyện về hòn đảo dài này của chúng ta cuối cùng kết thúc, hãy để nó kết thúc chỉ khi mỗi người trong chúng ta nằm nghẹt thở trong máu của chính mình trên mặt đất”.

Theo Goemans, một yếu tố khác đã bị bỏ qua trong tài liệu là nền chính trị trong nước. Các quốc gia được coi là những chủ thể thống nhất với những lợi ích nhất định, điều này đã để lại những áp lực nội bộ đặt lên chính phủ của một quốc gia-nhà nước hiện đại. Goemans đã tạo ra một bộ dữ liệu về mọi nhà lãnh đạo của tất cả các quốc gia có chiến tranh trong khoảng thời gian từ năm 1816 đến 1995, và mã hóa mỗi người theo một hệ thống ba bên. Một số nhà lãnh đạo là nhà dân chủ; một số là nhà độc tài; và một số ở giữa. Theo Goemans, các nhà dân chủ có xu hướng phản ứng với thông tin do chiến tranh đưa lại và hành động phù hợp theo đó; trong trường hợp tồi tệ nhất, nếu họ thua trận nhưng đất nước của họ vẫn tồn tại, họ sẽ bị đuổi khỏi nhiệm sở và về ngồi viết hồi ký. Các nhà độc tài, bởi vì họ có toàn quyền kiểm soát dân chúng trong nước của mình, cũng có thể kết thúc chiến tranh khi họ cần. Sau Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, Saddam Hussein là một nhà lãnh đạo như vậy; ông ta chỉ đơn giản là giết bất cứ ai chỉ trích ông ta.

Goemans nhận thấy rắc rối nằm ở những nhà lãnh đạo không phải là nhà dân chủ hay độc tài: bởi vì họ đàn áp, họ thường gặp những kết cục tồi tệ, nhưng vì họ đàn áp không đủ mạnh tay, họ phải tính đến dư luận và liệu nó có đang chĩa mũi dùi vào họ hay không. Goemans nhận thấy, những nhà lãnh đạo này sẽ bị cám dỗ “đánh bạc để phục sinh”, tiếp tục tiến hành cuộc chiến, thường với  cường độ ngày càng lớn hơn, bởi vì bất cứ điều gì ngoài chiến thắng đều có thể đồng nghĩa với việc họ phải sống lưu vong hoặc chết. Ông ấy nhắc tôi (tác giả) nhớ rằng vào ngày 17 tháng 11 năm 1914 – bốn tháng sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu – Kaiser Wilhelm II đã họp với nội các chiến tranh của mình và kết luận rằng cuộc chiến là bất khả kháng. “Tuy nhiên, họ đã chiến đấu trong bốn năm nữa”, Goemans nói. “Và lý do là họ biết rằng nếu họ thua, họ sẽ bị lật đổ, sẽ có một cuộc cách mạng”. Và họ đã đúng. Những nhà lãnh đạo như thế này rất nguy hiểm. Theo Goemans, chúng là nguyên nhân khiến Chiến tranh thế giới thứ nhất, và nhiều cuộc chiến khác, đã kéo dài hơn nhiều so với những gì lẽ ra chúng nên có.

Gần đây tôi đã nói chuyện với một số nhà lý luận về chấm dứt chiến tranh, gồm cả Goemans, để xem quan điểm lý thuyết có thể cho chúng ta biết gì về cuộc chiến ở Ukraine. Các nhà lý thuyết hóa ra là một nhóm gắn kết và sôi nổi, hầu hết trong số họ dán mắt vào Twitter và Telegram, bằng nhiều ngôn ngữ, khi họ cố gắng theo dõi cuộc chiến trong thời gian thực. Họ tin rằng các cuộc chiến mà họ đã nghiên cứu có thể làm sáng tỏ cuộc xung đột hiện tại. Rõ ràng, họ không phải là những người duy nhất nghĩ như vậy. Nhà lý thuyết chiến tranh Branislav Slantchev, một trong những sinh viên cũ của Goemans và là giáo sư tại Đại học California San Diego (UCSD), nói với tôi rằng, vào tháng 8, anh ấy đã được yêu cầu tham gia hội nghị qua Zoom về chấm dứt chiến tranh do cơ quan tình báo Hoa Kỳ triệu tập.

Reiter, tác giả cuốn sách “Chiến tranh kết thúc ra sao”, đã bị hấp dẫn bởi thực tế rằng cuộc xung đột ở Ukraine là một cuộc chiến kiểu cũ. Có rất ít chiến tranh mạng và Nga chỉ sử dụng một vài tên lửa siêu thanh. Ông nói rằng, về phía Nga, “đó là pháo binh, thiết giáp, bộ binh, sự tàn bạo đối với dân thường. Đó là thế kỷ 20”. Và về phía Ukraine cũng vậy: “Họ có vũ khí khá tinh vi, cùng với sự huấn luyện đầy đủ, kết hợp cùng với rất nhiều bản lĩnh. Mọi thứ không thay đổi nhiều như chúng tôi đã nghĩ ”.

Tanisha Fazal, một học giả tại Đại học Minnesota (Hoa Kỳ), là người đang viết một cuốn sách về y tế  trên chiến trường, đã ngạc nhiên bởi tỷ lệ người Nga bị thương trên số người thiệt mạng quá thấp. Tỷ lệ lịch sử trong một 150 năm qua là khoảng ba hoặc bốn trên một. Trong các cuộc chiến gần đây, chẳng hạn như ở Afghanistan, Hoa Kỳ đã cố gắng đạt được tỷ lệ người bị thương trên người chết lên tới 10 trên một, có nghĩa là ít binh sĩ chết hơn sau khi bị thương. Người Nga được ước tính sẽ kém xuống còn bốn ăn một. Lý do, Fazal nói, là người Nga đã không cố gắng thiết lập ưu thế trên không; họ không thể đưa những người lính bị thương của họ ra ngoài đủ nhanh, và do đó nhiều người trong số họ đã chết.

Nói rộng hơn, chiến tranh đã thể hiện nhiều đặc điểm quen thuộc với các nhà lý thuyết về chiến tranh. Tính toán sai lầm ban đầu của Vladimir Putin rằng ông ta có thể đè bẹp Ukraine trong vài ngày là một trường hợp kinh điển của sự bất cân xứng về thông tin; nó cũng là một thí dụ kinh điển về một chế độ đàn áp bị chính người dân của nó cung cấp thông tin kém giá trị. Mọi người đều đồng ý rằng chúng ta đang phải đối mặt với một vấn đề cam kết đáng tin cậy “kinh điển”. Nga tuyên bố rằng họ không thể tin tưởng Ukraine sẽ không trở thành một quốc gia NATO về bản chất; về phần mình, Ukraine không có lý do gì để tin tưởng một chế độ Nga đã nhiều lần thất hứa và xâm lược nước này vào tháng 2 mà không có hành động khiêu khích nào (từ phía Ukraine). Nhưng việc giải quyết vấn đề cam kết đáng tin cậy rất phức tạp. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nó đã được giải quyết bằng sự tan rã của chế độ Đức Quốc xã, việc viết lại hiến pháp của Đức và sự phân chia nước Đức. Nhưng không có nhiều cuộc chiến kết thúc với kết cục tuyệt đối như vậy.

Thêm vào sự phức tạp, cuộc chiến này, giống như những cuộc chiến khác, rất năng động. Nhiều chuyện lớn đã xảy ra kể từ khi Nga xâm lấn Ukraine vào sáng ngày 24 tháng 2. Những tiết lộ về điểm yếu của Nga và sức mạnh của Ukraine đã nâng cao tinh thần dân chúng Ukraine; việc phát hiện ra các vụ thảm sát thường dân ở Bucha và bây giờ là Izyum đã khiến dư luận phẫn nộ. Nếu trước đây dư luận Ukraine có khoảng trống để nhượng bộ Nga thì giờ đây không gian đó đã đóng lại. “Đôi khi chiến tranh lại tạo ra nguyên nhân chiến tranh”, Goemans nói.

Hàng chục tác nhân bên ngoài đã bị lôi kéo vào cuộc xung đột: Ba mươi quốc gia thuộc Liên minh NATO, đứng về phía Ukraine; Belarus, bây giờ, đứng về phía Nga. Goemans nói: “Đây là một cuộc chiến tranh lớn ở châu Âu, điều mà chúng tôi nghĩ rằng nó sẽ không xảy ra trong thời đại chúng ta. Đó là chiến tranh chiến hào, giống như Thế chiến thứ nhất. Và đó là vì sự tồn tại của Ukraine với tư cách là một nhà nước”. Hệ quả là rất lớn. “Điều này sẽ định hình phần còn lại của thế kỷ XXI. Nếu Nga thua hoặc không đạt được điều mình muốn, thì sau này sẽ là một nước Nga khác. Nếu Nga thắng, sau này sẽ là một châu Âu khác”. Phạm vi và sự phức tạp của cuộc chiến đòi hỏi một giải pháp nhanh chóng. Goemans nói: “Đây là điều đã làm cho Thế chiến thứ nhất trở nên to lớn, đó cũng là điều khiến Thế chiến thứ hai trở nên rộng lớn như vậy”, Goemans nói. “Không chỉ là ‘Tôi muốn một mảnh lãnh thổ vì những người anh em đồng tộc của tôi ở đó.’ Nó là — tất cả những thứ nhảm nhí này”.

Khi chúng tôi nói chuyện lần đầu tiên vào đầu tháng 9, Goemans dự đoán một cuộc xung đột kéo dài. Không có yếu tố nào trong ba yếu tố chính của lý thuyết chấm dứt chiến tranh – thông tin, cam kết đáng tin cậy và chính trị trong nước – đã được giải quyết. Cả hai bên vẫn tin rằng họ có thể giành chiến thắng, và sự ngờ vực của họ dành cho nhau ngày càng sâu sắc hơn. Về chính trị trong nước, Putin chính xác là kiểu nhà lãnh đạo mà Goemans đã cảnh báo. Bất chấp bộ máy đàn áp đáng kể của mình, ông ta không có toàn quyền kiểm soát đất nước. Ông tiếp tục gọi cuộc chiến là một “hoạt động quân sự đặc biệt” và trì hoãn việc động viên toàn quốc, để không phải đối mặt với tình trạng bất ổn trong nước. Goemans dự đoán nếu ông ta bắt đầu thua cuộc, ông ta chỉ đơn giản là sẽ leo thang.

Và sau đó, trong những tuần sau khi tôi và Goemans lần đầu tiên nói chuyện, các sự kiện đã nhanh chóng diễn ra dồn dập. Ukraine đã tiến hành một cuộc phản công thành công ngoạn mục, chiếm lại những vùng lãnh thổ rộng lớn ở khu vực Kharkiv và đe dọa chiếm lại thành phố Kherson đã bị chiếm đóng. Putin, như dự đoán, đã chống trả, tuyên bố “động viên một phần” trong nước và tổ chức “cuộc trưng cầu dân ý” vội vàng về việc gia nhập Liên bang Nga tại các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng. Việc động viên cục bộ đã được thực hiện một cách hỗn loạn, và như khi bắt đầu chiến tranh, khiến hàng chục ngàn người phải bỏ chạy khỏi nước Nga. Đã có những cuộc biểu tình lẻ tẻ trên toàn quốc, và những cuộc biểu tình này đe dọa ngày càng lớn về quy mô. Trong khi đó, các lực lượng Ukraine tiếp tục tiến về phía đông đất nước họ.

Trong một bài đáng sợ đăng trên blog, Branislav Slantchev, cựu học sinh của Goemans, đã đưa ra một vài tình huống tiềm năng. Ông tin rằng mặt trận của Nga ở Donbas vẫn có nguy cơ sụp đổ không tránh khỏi. Nếu điều này xảy ra, Putin sẽ cần phải leo thang hơn nữa. Điều này có thể diễn ra dưới dạng nhiều cuộc tấn công hơn vào cơ sở hạ tầng của Ukraine, nhưng nếu mục tiêu là ngăn chặn những bước tiến của Ukraine, thì một lựa chọn khả thi hơn sẽ là một cuộc tấn công hạt nhân chiến thuật nhỏ. Slantchev dự báo rằng nó có thể nhỏ hơn một kiloton – tức là nhỏ hơn khoảng mười lăm lần so với quả bom ném xuống Hiroshima. Tuy nhiên, nó sẽ rất tàn khốc và gần như chắc chắn sẽ dẫn đến phản ứng dữ dội từ phương Tây. Slantchev không nghĩ rằng NATO sẽ đáp trả bằng các cuộc tấn công hạt nhân của riêng mình, nhưng chẳng hạn, NATO có thể tiêu diệt Hạm đội Biển Đen của Nga. Điều này có thể dẫn đến một hiệp leo thang khác. Trong tình huống như vậy, phương Tây cuối cùng có thể bị cám dỗ để lui bước. Slantchev kêu gọi họ không nên làm vậy. Anh ấy viết: “Đây là bây giờ. Đây là chuyện được ăn cả“.

Goemans nói với tôi: “Branislav rất lo lắng và anh ấy không phải là người nhút nhát (sợ hãi quá mức)”. Goemans cũng lo lắng, mặc dù dòng thời gian giả định của ông đã kéo dài hơn. Ông tin rằng lực lượng tăng viện mới của Nga, dù được huấn luyện và trang bị kém, và sự khởi đầu của một mùa đông sớm sẽ tạm dừng chiến dịch của Ukraine và cứu người Nga vào lúc này. “Mọi người nghĩ rằng nó sẽ nhanh chóng kết thúc, nhưng thật không may, chiến tranh không diễn ra như vậy”, ông nói. Nhưng ông cũng tin rằng Ukraine sẽ tiếp tục tấn công vào mùa xuân, tại thời điểm đó động lực như vậy và những mối nguy hiểm tương tự sẽ trở lại. Goemans nói: “Để chiến tranh kết thúc, yêu cầu tối thiểu của ít nhất một trong các bên phải thay đổi“. Đây là quy tắc chấm dứt chiến tranh đầu tiên. Và chúng ta vẫn chưa đạt đến điểm mà mục tiêu chiến tranh đã thay đổi đủ để có thể đạt được một thỏa thuận hòa bình.

Dự đoán của các nhà lý thuyết về điều gì sẽ xảy ra tiếp theo, phụ thuộc một phần vào cách họ đánh giá các diễn biến. Liệu mặt trận của Nga ở Donbas có thực sự sụp đổ, và nếu có thì bao lâu nữa? Nếu nó sụp đổ, thì Điện Kremlin có thể kiểm soát được bao nhiêu thông tin về nó? Những điều này không thể đoán trước, nhưng người ta phải dự đoán. Ví dụ, Dan Reiter tỏ ra lạc quan hơn một chút so với Goemans về việc Putin có thể bán một phần chiến thắng cho người dân Nga, vì sự quản lý chặt chẽ của ông ta đối với các phương tiện truyền thông Nga. Đối với Reiter, Putin đã đủ là một nhà độc tài, song ông ta có khả năng lùi bước.

Mặc dù là nhà lý thuyết hàng đầu về cam kết đáng tin cậy, Reiter tin rằng chiến tranh có thể kết thúc trong thời gian ngắn với một kết quả tuyệt đối, chẳng hạn như sự tan rã của Liên bang Nga. Ông nói: “Bạn thực sự không muốn một đất nước, vốn là nguồn gây ra một số kiểu đe dọa kéo dài. Tuy nhiên, đôi khi  đó chỉ là thế giới mà bạn phải sống, bởi vì thực sự loại bỏ hoàn toàn mối đe dọa thì quá tốn kém”. Ông nhìn thấy một tương lai mà Ukraine đồng ý ngừng bắn và sau đó dần dần biến mình thành một “con nhím quân sự”, một quốc gia gai góc mà không ai muốn xâm lược. Reiter nói: “Các quốc gia quy mô trung bình có thể tự bảo vệ mình ngay cả trước những kẻ thù rất nguy hiểm. Ukraine có thể tự làm cho mình trở nên dễ phòng thủ hơn trong tương lai, nhưng nó sẽ trông rất khác với tư cách một quốc gia và một xã hội so với trước khi xâm lược“. Nó sẽ giống Israel hơn, với thuế cao, chi tiêu quân sự và nghĩa vụ quân sự bắt buộc kéo dài. Reiter nói: “Nhưng Ukraine có thể bảo vệ được. Họ đã chứng minh điều đó“.

Goemans cảm thấy lo lắng hơn. Một lần nữa, những suy nghĩ của anh lại đưa anh đến với Thế chiến thứ nhất. Năm 1917, Đức không còn hy vọng chiến thắng, quyết định đánh cược để phục sinh. Nó giải phóng vũ khí bí mật của mình, chiếc tầu ngầm U-boat, để tiến hành các hoạt động không giới hạn trên biển cả. Rủi ro của chiến lược này là nó đưa Hoa Kỳ vào cuộc chiến; hy vọng rằng nó sẽ bóp nghẹt Vương quốc Anh và dẫn đến chiến thắng. Theo cách nói của Goemans, đây là một chiến lược “có phương hướng sai cao”, nghĩa là nó có thể dẫn đến một phần thưởng lớn hoặc một tai họa lớn. Trong trường hợp này, nó đã dẫn đến việc Hoa Kỳ tham chiến và đánh bại Đức, và việc Kaiser bị loại khỏi quyền lực.

Trong tình huống này, vũ khí bí mật là hạt nhân. Và việc sử dụng nó mang theo rủi ro, một lần nữa, thậm chí còn lớn hơn sự tham gia của Hoa Kỳ vào cuộc chiến. Nhưng ít nhất nó cũng có thể tạm thời ngăn chặn bước tiến của Quân đội Ukraine. Nếu được sử dụng hiệu quả, nó thậm chí có thể mang về một chiến thắng. Goemans nói: “Mọi người rất vui mừng về sự sụp đổ của mặt trận. Nhưng đối với tôi, nó giống như, ‘Ah-h-h!’” Vào thời điểm đó, Putin thực sự sẽ bị mắc kẹt.

Hiện tại, Goemans vẫn tin rằng khó có thể xảy ra lựa chọn hạt nhân. Và ông ấy tin rằng Ukraine sẽ chiến thắng trong cuộc chiến. Nhưng điều đó cũng sẽ mất nhiều thời gian, với cái giá phải trả là hàng trăm ngàn sinh mạng.

Mối quan hệ của Trung Quốc với Nga và cuộc chiến ở Ukraine (Phần I)

BPB

Sabine Peschel phỏng vấn Zhang Yunhua

Thục Quyên phỏng dịch

13-10-2022

Zhang Junhua sinh năm 1958 tại Thượng Hải, là Phó Giám đốc cấp cao tại Viện Nghiên cứu Châu Âu về Châu Á ở Brussels, Giám đốc điều hành của Trung tâm Phát triển và Chuyển đổi Châu Á ở Berlin, và là giáo sư thỉnh giảng tại Freie Universität Berlin. Ông học triết học và lấy bằng tiến sĩ ở Frankfurt am Main.

Cuộc chiến tại Ukraine có mang lợi ích cho Trung Quốc?

Table China

Tác giả: Marina Rudyak Silas Dreier

Thục Quyên phỏng dịch

7-9-2022

Từ lâu, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chưa từng phải chịu nhiều áp lực trong những ngày cận đại hội đảng (lần thứ 20) như hiện nay. Căng thẳng chung quanh Đài Loan đòi hỏi ông phải có hành động mang tính biểu tượng, thí dụ như về mặt kinh tế nắm được ngành công nghiệp bán dẫn của Đài Loan sẽ là một chiêu hấp dẫn. Tuy nhiên, một cuộc xâm lược hòn đảo này, dù lý do là chất bán dẫn hay động cơ chính trị, cũng sẽ gây ra hậu quả nặng nề cho Trung Quốc.

‘Một cuộc khủng hoảng sắp xảy ra’: Hai mối đe dọa đối với nền dân chủ Mỹ

New York Times

Tác giả: David Leonhardt

Đỗ Kim Thêm dịch

21-9-2022

Hoa Kỳ đã trải nghiệm sự bất ổn chính trị nghiêm trọng nhiều lần trước đó trong thế kỷ qua. Cuộc Đại Suy thoái khiến cho người Mỹ nghi ngờ về hệ thống kinh tế của đất nước. Thế chiến thứ hai và Chiến tranh Lạnh cho thấy những mối đe dọa từ các phong trào toàn trị trên toàn cầu. Thập niên 1960 và 1970 bị đánh dấu bởi các vụ ám sát, bạo loạn, thua chiến và một tổng thống bị thất sủng.

Mỗi giai đoạn trước đó là mỗi một lần báo động theo một số cách khác nhau so với bất cứ những gì đã xảy ra gần đây ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trong mỗi thời kỳ hỗn loạn trước đây, các năng động cơ bản của nền dân chủ Mỹ vẫn còn vững chắc. Các ứng cử viên giành được nhiều phiếu bầu nhất đã có thể nắm quyền và cố gắng giải quyết các vấn đề của đất nước.

Giai đoạn hiện nay là khác hẳn. Do đó, ngày nay Hoa Kỳ tự thấy mình đang ở trong một tình huống có ít tiền lệ lịch sử. Nền dân chủ Mỹ đang đối mặt với hai mối đe dọa riêng biệt, cùng thể hiện thách thức nghiêm trọng nhất đối với lý tưởng cai trị đất nước trong nhiều thập niên.

Mối đe dọa đầu tiên là nghiêm trọng: Một phong trào ngày càng gia tăng trong lòng một trong hai chính đảng của đất nước: Đảng Cộng hòa phủ nhận thất bại trong cuộc bầu cử.

Cuộc tấn công bằng bạo lực tại Quốc Hội vào ngày 6 tháng 1 năm 2021 nhằm ngăn chặn việc chứng nhận Biden thắng cử tổng thống là biểu hiện rõ ràng nhất của phong trào này, nhưng nó vẫn tiếp tục kể từ đó. Hàng trăm quan chức thuộc đảng Cộng hòa được bầu trên khắp đất nước tuyên bố sai sự thật rằng cuộc bầu cử năm 2020 đã bị gian lận. Một số trong nhóm người này đang tranh cử vào các chức vụ trên toàn tiểu bang sẽ giám sát các cuộc bầu cử trong tương lai, có tiềm năng đưa họ vào vị thế lật ngược một cuộc bầu cử vào năm 2024 hoặc sau đó nữa.

Lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, một tổng thống được bầu một cách hợp pháp sẽ không thể nhậm chức, chuyện có thể xảy ra“, Yascha Mounk, nhà khoa học chính trị tại Đại học Johns Hopkins, người nghiên cứu về nền dân chủ, nói.

Mối đe dọa thứ hai đối với nền dân chủ là kinh niên nhưng cũng đang gia tăng: Quyền lực thiết lập chính sách của chính phủ đang ngày càng trở nên mất kết nối với công luận.

Theo các cuộc thăm dò, việc thực hiện các quyết định gần đây của Tối cao Pháp viện, cả trong tầm bao quát và không được ưa chuộng, nó làm nổi bật việc mất kết nối này. Mặc dù Đảng Dân chủ đã thắng số phiếu phổ thông trong bảy của tám cuộc bầu cử tổng thống vừa qua, Tối cao Pháp viện bị khống chế bởi những người được đảng Cộng hòa bổ nhiệm dường như đã sẵn sàng định hình nền chính trị Mỹ trong nhiều năm, nếu không nói là nhiều thập niên. Và tòa án chỉ là một trong những phương tiện mà qua đó các kết quả chính sách đang trở nên ít gắn bó chặt chẽ hơn với ý muốn của quần chúng.

Hai trong số bốn tổng thống trong quá khứ đã nhậm chức mặc dù thua phiếu phổ thông. Các thượng nghị sĩ đại diện cho đa số người Mỹ thường không thể thông qua các dự luật, một phần là do việc họ sử dụng ngày càng nhiều thủ tục kéo dài thời gian. Ngay cả Hạ viện cũng vậy, được xem như một bộ phận trong công quyền để phản ánh hầu hết ý chí quần chúng, không phải lúc nào cũng làm như vậy, vì phương cách được các địa phương quy định.

“Chúng ta đang ngày càng xa rời với nền dân chủ chống lại đa số nhất trên thế giới,” Steven Levitsky, giáo sư ngành Công quyền, thuộc học Đại học Harvard nói. Cùng với Daniel Ziblatt, ông là đồng tác giả của cuốn sách “How Democracies Die”.  (Các nền dân chủ chết như thế nào).

Nguyên nhân của hai mối đe dọa đối với nền dân chủ rất phức tạp và được các học giả tranh luận.

Các mối đe dọa kinh niên đối với nền dân chủ thường xuất phát từ những đặc điểm lâu dài của chính phủ Mỹ, một số được quy định trong Hiến pháp. Nhưng các đe doạ này đã không mâu thuẫn với ý kiến của đa số ở cùng một mức độ trong những thập niên qua. Một lý do là, các tiểu bang đông dân hơn, nơi các cư dân nhận được ít quyền lực hơn vì Thượng viện và Đại cử tri đoàn đã phát triển rộng lớn hơn rất nhiều so với các tiểu bang nhỏ.

Các mối đe dọa cấp thời đối với nền dân chủ – và sự gia tăng của tình cảm độc đoán, hoặc ít nhất là việc chấp nhận nó, trong số nhiều cử tri – có những nguyên nhân khác nhau. Chúng phản ánh phần nào sự thất vọng trong gần nửa thế kỷ về mức sống phát triển chậm chạp của tầng lớp lao động và trung lưu Mỹ. Chúng cũng phản ánh nỗi sợ hãi về văn hóa, đặc biệt là ở người da trắng, rằng Hoa Kỳ đang được biến đổi thành một quốc gia mới, đa dạng hơn về chủng tộc và ít tín ngưỡng tôn giáo hơn, cùng với các thái độ đang thay đổi một cách nhanh chóng đối với giới tính, ngôn ngữ và hơn thế nữa.

Những thất vọng về kinh tế và nỗi sợ hãi về văn hóa đã kết hợp nhau để tạo ra một sự ngăn cách trong sinh hoạt chính trị của Mỹ, giữa các khu vực đô thị lớn thịnh vượng, đa dạng và các thành phố nhỏ và khu vực nông thôn còn nặng về truyền thống, tôn giáo và đang đấu tranh về kinh tế hơn. Loại thứ nhất là ngày càng tự do và theo đảng Dân chủ, loại thứ hai ngày càng bảo thủ và theo đảng Cộng hòa.

Ảnh: Cuộc tấn công điện Capitol ngày 6-1-2022 là biểu hiện rõ ràng nhất của phong trào ngày càng gia tăng trong đảng Cộng hòa phủ nhận việc thất cử. Nguồn: Ashley Gilbertson /NYT.

Cuộc cạnh tranh chính trị giữa hai bên có thể cảm thấy vấn đề sinh tồn đối với người dân ở cả hai phe, họ có những bất đồng gần như mọi vấn đề nổi bật. Lilliana Mason, nhà khoa học chính trị và là tác giả của tác phẩm Uncivil Agreement: “How Politics Became Our Identity” nói: “Khi  bỏ phiếu, chúng tôi không chỉ bỏ phiếu cho một loạt các chính sách, mà còn cho những gì mà chúng tôi nghĩ khiến mình trở thành người Mỹ và với tư cách là một dân tộc. Nếu đảng của chúng tôi thua cử, thì tất cả những phần này của chúng tôi đều cảm thấy như những kẻ thua cuộc”.

Những bất đồng gay gắt này đã khiến nhiều người Mỹ nghi ngờ hệ thống chính phủ của đất nước. Trong một cuộc thăm dò gần đây của đại học Quinnipiac, 69% đảng viên Dân chủ và 69% đảng viên Cộng hòa nói rằng, nền dân chủ “có nguy cơ sụp đổ”. Tất nhiên, hai bên có quan điểm rất khác nhau về bản chất của mối đe dọa.

Nhiều đảng viên của đảng Dân chủ chia sẻ các mối quan tâm của các nhà sử học và học giả, họ nghiên cứu nền dân chủ, chỉ ra khả năng của việc kết quả bầu cử bị lật ngược và sự suy tàn của chế độ theo quy luật đa số. Trong một bài diễn văn đọc trước Independence Hall ở Philadelphia tháng này, Tổng thống Biden nói: “Tình trạng bình đẳng và nền dân chủ đang bị tấn công. Tự chúng ta không lợi khi ngụy tạo một cách khác đi“.

Nhiều đảng viên của đảng Cộng hòa đã bảo vệ các chiến thuật công kích ngày càng tăng lên của họ bằng cách nói rằng, họ đang cố gắng bảo vệ các giá trị Mỹ. Trong một số trường hợp, những lời tuyên bố này dựa trên sự giả dối về gian lận bầu cử, “chủ nghĩa xã hội” được cho là của ông Biden, nơi sinh của Barack Obama, v.v…

Những người khác, bắt nguồn từ sự lo lắng về những phát triển thực sự, bao gồm việc nhập cư bất hợp pháp và “văn hóa phủ nhận”. Một số người thuộc cánh tả hiện nay coi những ý kiến được tôn trọng một cách rộng rãi giữa những người Mỹ bảo thủ và ôn hòa – về các vấn đề phá thai, trị an, biện pháp chiếu cố đặc biệt đến các thành phần trước đây bị xem là kỳ thị, Covid-19 và các chủ đề khác – là có thể bị phản đối đến mức là họ không thể tranh luận được. Theo quan điểm của giới bảo thủ và một số chuyên gia, tình thế không thể khoan dung này đang bóp nghẹt cuộc tranh luận mở rộng ở trọng tâm của hệ thống chính trị Mỹ.

Ý nghĩa dị biệt về cuộc khủng hoảng phe cánh tả và hữu tự nó có thể làm suy yếu nền dân chủ, và nó đã trở nên trầm trọng hơn bởi công nghệ.

Các thuyết âm mưu và những lời nói dối trơ trẽn có một lịch sử lâu dài của Mỹ, bắt nguồn từ các cuộc tấn công cá nhân vốn là sản phẩm chính yếu của báo chí thuộc đảng phái trong thế kỷ 18. Vào giữa thế kỷ 20, hàng chục ngàn người Mỹ đã gia nhập Hiệp hội John Birch, một nhóm cực hữu đã cáo buộc Dwight Eisenhower là mật vụ Cộng sản.

Tuy nhiên, ngày nay, sự giả dối có thể lan truyền một cách dễ dàng hơn, thông qua phương tiện truyền thông xã hội và môi trường tin tức bị rạn nứt. Trong thập niên 1950, không có mạng lưới truyền hình quan trọng nào truyền tải những lời nói dối về Eisenhower. Trong những năm gần đây, Fox News, kênh truyền hình cáp được theo dõi nhiều nhất của đất nước, thường xuyên quảng bá sự giả dối về kết quả bầu cử, nơi sinh của ông Obama và các chủ đề khác.

Những lực lượng tương tự này – truyền thông kỹ thuật số, thay đổi văn hóa và đình trệ kinh tế ở các nước giàu có – giúp giải thích tại sao nền dân chủ cũng đang tranh đấu ở những nơi khác trên thế giới. Chỉ hai thập niên trước, vào đầu thế kỷ 21, dân chủ là hình thức chính phủ chiến thắng trên khắp thế giới, chế độ chuyên chế lâm cảnh thoái trào ở đế chế Liên Xô cũ, Argentina, Brazil, Chile, Nam Phi, Hàn Quốc và các nơi khác. Ngày nay, xu hướng trên toàn cầu đang đi theo hướng khác.

Vào cuối thập niên 1990, 72 quốc gia đang dân chủ hóa và chỉ có ba quốc gia ngày càng phát triển độc đoán hơn, theo dữ liệu của V-Dem, một viện nghiên cứu Thụy Điển theo dõi nền dân chủ. Năm ngoái, chỉ có 15 quốc gia phát triển dân chủ hơn, trong khi 33 quốc gia ngã theo phía chủ nghĩa độc tôn.

Một số chuyên gia vẫn còn hy vọng rằng, sự quan tâm ngày càng gia tăng ở Hoa Kỳ đối với các vấn đề của nền dân chủ có thể giúp ngăn chặn một cuộc khủng hoảng hiến pháp ở đây. Những nỗ lực của Donald Trump vốn dĩ nhằm lật ngược cuộc bầu cử năm 2020 đã thất bại, một phần là do sự từ chối tham gia của nhiều quan chức thuộc đảng Cộng hòa, và cả các công tố viên liên bang và tiểu bang đang điều tra các hành vi của ông ta. Trong khi sự suy vi kinh niên của quy luật theo đa số sẽ không sớm thay đổi, nó cũng là một phần của cuộc đấu tranh lịch sử rộng lớn hơn để tạo ra một nền dân chủ Mỹ gắn kết toàn diện hơn.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia chỉ ra rằng, vẫn chưa rõ làm thế nào đất nước sẽ thoát ra khỏi một cuộc khủng hoảng lan rộng hơn, chẳng hạn như một cuộc bầu cử bị lật ngược, vào một thời điểm nào đó trong thập niên tới. Carol Anderson, giáo sư Đại học Emory và là tác giả của cuốn sách, “One Person, No Vote,” nói về sự đàn áp cử tri: “Đây không phải là nền chính trị bình thường, hãy sợ hãi”.

Ý chí của đa số

Các bậc quốc phụ đã không thiết kế cho Hoa Kỳ thành một nền dân chủ thuần túy. Họ không tin tưởng vào khái niệm cổ điển về nền dân chủ trực tiếp, trong đó một cộng đồng cùng nhau bỏ phiếu về từng vấn đề quan trọng và tin rằng điều đó sẽ không thực tế đối với một quốc gia rộng lớn. Họ không coi nhiều cư dân của đất nước mới là những công dân xứng đáng có tiếng nói trong chính sự, bao gồm cả người bản địa, người châu Phi bị bắt làm nô lệ và phụ nữ. Giới lập quốc cũng muốn hạn chế chính phủ quốc gia có quá nhiều quyền lực, khi họ tin rằng đó là trường hợp ở Anh. Họ có một vấn đề thực tế là cần thuyết phục cho 13 tiểu bang bỏ một số quyền lực cho một chính phủ liên bang mới.

Ảnh: Những nỗ lực của Donald Trump nhằm lật ngược kết quả cuộc bầu cử năm 2020 đã thất bại, một phần là do nhiều quan chức đảng Cộng hòa không tham gia. Nguồn: Saul Martinez / NYT

Thay vì một nền dân chủ trực tiếp, những nhà lập quốc đã tạo ra một nước cộng hòa, với các đại diện được bầu để đưa ra các quyết định và một chính phủ có nhiều tầng lớp, trong đó các ban ngành khác nhau kiểm soát lẫn nhau. Hiến pháp cũng tạo ra Thượng viện, nơi mọi tiểu bang đều có tiếng nói bình đẳng, bất kể dân số.

Khi chỉ ra lịch sử này, một số chính trị gia đảng Cộng hòa và các nhà hoạt động bảo thủ đã lập luận rằng, giới lập quốc cảm thấy thoải mái với sự nguyên tắc thiểu số. “Tất nhiên, chúng ta không phải là một nền dân chủ,” Thượng nghị sĩ Mike Lee của Utah viết.

Nhưng bằng chứng lịch sử cho thấy rằng, các bậc khai quốc tin rằng ý muốn của đa số – được định nghĩa là quan điểm chiếm ưu thế của những công dân có quyền đầu phiếu- nói chung, họ nên quy định chính sách quốc gia, như George Thomas của Claremont McKenna College và các học giả khác về hiến pháp giải thích.

Trong luận phẩm Federalist Paper, James Madison đã đánh đồng giữa “một liên minh của đa số trên toàn xã hội” với “công lý và tiện ích chung”. Alexander Hamilton cũng đưa ra những quan điểm tương tự, khi mô tả “nền dân chủ đại nghị” là “hạnh phúc, thường xuyên và bền vững”. Đó là một ý tưởng cấp tiến vào thời điểm đó.

Đối với hầu hết lịch sử Hoa Kỳ, ý tưởng này chiếm ưu thế. Ngay cả với sự hiện hữu của Thượng viện, Đại cử tri đoàn và Tối cao Pháp viện, quyền lực chính trị phản ánh quan điểm của dân chúng, những người có quyền bầu cử. Ziblatt, nhà khoa học chính trị thuộc đại học Harvard, nói: “Để nói rằng chúng ta là một nước cộng hòa, không phải một nền dân chủ, là xem thường 250 năm lịch sử quá khứ“.

Trước năm 2000, chỉ có ba ứng cử viên thắng cử tổng thống trong khi thua phiếu phổ thông (John Quincy Adams, Rutherford Hayes và Benjamin Harrison) và mỗi ứng cử viên chỉ phục vụ một nhiệm kỳ duy nhất. Trong cùng thời gian đó, các đảng thắng cử nhiều lần có thể cầm quyền, bao gồm đảng Dân chủ-Cộng hòa trong thời Thomas Jefferson, Dân chủ thời New Deal và Cộng hòa thời Reagan.

Tình hình đã thay đổi trong thế kỷ 21, đảng Dân chủ đang ở giữa hàng loạt chiến thắng lịch sử. Bảy trong số tám cuộc bầu cử tổng thống vừa qua, từ chiến thắng năm 1992 của Bill Clinton, ứng cử viên đảng Dân chủ, đã thắng trong cuộc bầu phiếu phổ thông. Trải qua hơn hai thế kỷ của nền dân chủ Mỹ, trước đây không có đảng nào phát triển tốt như vậy trong một thời kỳ kéo dài.

Tuy nhiên, giai đoạn hiện tại hầu như không phải là thời thống trị của đảng Dân chủ.

Điều gì đã thay đổi? Một yếu tố quan trọng là trong quá khứ, nhiều nơi trên đất nước được Hiến pháp trao quyền lực quá lớn – cho các tiểu bang ít dân cư hơn, có xu hướng thiên về nông thôn hơn – đã bỏ phiếu theo những cách tương tự như các tiểu bang rộng lớn và khu vực thành thị.

Sự tương đồng này có nghĩa là phần thưởng của các tiểu bang nhỏ tại Thượng viện và Đại cử tri đoàn chỉ có ảnh hưởng hạn chế đến kết quả trên toàn quốc. Cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa đều được hưởng lợi và phải chịu đựng những đặc điểm phi dân chủ của Hiến pháp.

Đảng Dân chủ đôi khi thắng cử ở các tiểu bang nhỏ như Idaho, Montana, Utah và Wyoming vào giữa thế kỷ 20. Và tiểu bang California từ lâu đã là một bang dao động: Giữa cuộc Đại Suy thoái và năm 2000, các ứng viên tổng thống của đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa đã thắng cử với một số lần bằng nhau. Việc Hiến pháp trao các lợi thế cho các cư dân của các tiểu bang nhỏ và những bất lợi cho người dân thuộc tiểu bang California đã không thúc đẩy một cách đáng tin cậy cho cả một trong hai đảng.

Trong những thập niên gần đây, người Mỹ ngày càng tự mình tuân theo các đường lối về ý thức hệ. Những người theo chủ thuyết tự do đã đổ xô đến các khu vực đô thị lớn, tập trung nhiều ở các tiểu bang lớn như California, trong khi cư dân của các thành phố nhỏ hơn và các khu vực nông thôn hơn đã trở nên bảo thủ hơn.

Sự kết hợp này – cấu trúc của Hiến pháp và sự phân vùng địa lý của đất nước – đã tạo ra sự mất kết nối giữa công luận và các kết quả về bầu cử. Nó đã ảnh hưởng đến mọi cơ quan của chính phủ liên bang: Nhiệm kỳ tổng thống, Quốc hội và thậm chí cả Tối cao Pháp viện.

Ảnh: Joe Biden vận động tranh cử ở Los Angeles hồi tháng 3-2020 và tiếp tục thắng cử với 29 phần trăm điểm ở tiểu bang California. Nguồn: Josh Haner/ NYT.

Ông Levitsky nói: “Trong quá khứ, hệ thống này vẫn là phản dân chủ, nhưng nó không có tác dụng đảng phái. Bây giờ nó phi dân chủ và có tác dụng đảng phái. Nó nghiêng sân chơi về phía đảng Cộng hòa. Đó là điều mới lạ trong thế kỷ 21“.

Trong các cuộc bầu cử tổng thống, sự thiên vị của các tiểu bang nhỏ là quan trọng, nhưng nó thậm chí không phải là vấn đề chính. Một yếu tố tinh tế hơn là tính chất kẻ thắng cử nắm tất cả trong các cuộc bầu cử của Đại cử tri ở hầu hết các tiểu bang. Các ứng viên chưa bao giờ nhận được thêm tín nhiệm để thắng cử trong các vụ thắng phiếu gây long trời lở đất ở cấp tiểu bang. Nhưng đặc tính này thường không quan trọng, bởi vì thắng cử trên quy mô lớn này rất hiếm khi xảy ra ở các tiểu bang lớn hơn, có nghĩa là, có ít phiếu bầu bị “lãng phí” một cách tương đối, như các nhà khoa học chính trị nói.

Ngày nay, đảng Dân chủ chế ngự một số tiểu bang lớn, lãng phí nhiều phiếu bầu. Năm 2020, ông Biden đã thắng ở tiểu bang California với 29 phần trăm điểm; New York tăng 23 điểm; và Illinois với 17 điểm. Bốn năm trước đó, mức thắng của Hillary Clinton cũng tương tự.

Sự thay đổi này có nghĩa là hàng triệu cử tri ở các khu vực đô thị lớn đã rời xa Đảng Cộng hòa mà không có bất kỳ tác động nào đến các kết quả bầu cử tổng thống. Đó là lý do chính mà cả George W. Bush và Trump đều có thể giành chiến thắng trong nhiệm kỳ tổng thống trong khi thua trong cuộc bỏ phiếu phổ thông.

Mindy Romero, Giám đốc Trung tâm Hội nhập Dân chủ tại Đại học Nam California nói: “Ngày nay, chúng ta đang ở trong một thế giới rất khác biệt so với khi hệ thống đã thiết kế. Động lực của việc bị đẩy sang một bên là rõ ràng hơn và tôi nghĩ càng nản lòng nhiều hơn“.

Đảng viên đảng Cộng hòa đôi khi chỉ ra rằng, hệ thống này ngăn cản một vài tiểu bang đông dân chế ngự nền chính trị của đất nước, điều này là đúng. Nhưng sự lật ngược nhanh và bất ngờ cũng đúng: Hiến pháp dành những đặc quyền cho cư dân của các tiểu bang nhỏ. Trong các cuộc bầu cử tổng thống, nhiều cử tri ở các tiểu bang lớn đã trở nên không liên quan theo cách không có tiền đề trong lịch sử.

Nguyên nhân tai hoạ là do việc phân vùng địa lý

Ảnh: Sau vụ kiện Roe v. Wade đã bị đảo ngược vào tháng 6, nhiều người đến biểu tình bên ngoài Tối cao Pháp viện. Nếu các cuộc bầu cử phản ánh ý kiến của quần chúng, thì những thẩm phán do đảng Dân chủ bổ nhiệm sẽ khống chế Tòa, nhưng hiện nay, Toà có đa số theo bảo thủ với sáu thành viên. Nguồn: Doug Mills/ NYT

Các mô hình về dân số của đất nước đang thay đổi, có thể đã có tác động thậm chí còn lớn hơn đối với Quốc hội – đặc biệt là Thượng viện – và Tối cao Pháp viện so với nhiệm kỳ tổng thống.

Việc phân vùng của những người theo chủ thuyết tự do vào trong các khu vực đô thị lớn và những người bảo thủ vào trong các khu vực nông thôn chỉ là một lý do. Một lý do khác là các tiểu bang lớn đã phát triển nhanh hơn nhiều so với các tiểu bang nhỏ. Năm 1790, tiểu bang lớn nhất (Virginia) có số lượng cư dân gấp 13 lần so với tiểu bang nhỏ nhất (Delaware). Ngày nay, California có số lượng cư dân gấp 68 lần so với Wyoming; gấp 53 lần so với Alaska; và ít nhất gấp 20 lần so với 11 tiểu bang khác.

Cộng chung lại, những xu hướng này có nghĩa là Thượng viện có khuynh hướng mạnh để ủng hộ đảng Cộng hoà, mà nó sẽ tồn tại trong tương lai trước mắt.

Ngày nay, Thượng viện được chia theo tỷ lệ 50-50 giữa hai đảng. Nhưng 50 thượng nghị sĩ của đảng Dân chủ đại diện một cách hiệu quả cho 186 triệu người Mỹ, trong khi 50 thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa đại diện đúng cho 145 triệu. Để giành quyền kiểm soát Thượng viện, đảng Dân chủ cần thắng hơn một nửa số phiếu bầu trên toàn quốc trong cuộc bầu cử Thượng viện.

Tình trạng này đã dẫn đến vấn đề bất bình đẳng về chủng tộc trong việc đại diện chính trị. Các cư dân của các tiểu bang nhỏ được Hiến pháp tạo thêm ảnh hưởng một cách không cân xứng là người da trắng,  trong khi các tiểu bang lớn là nơi sinh sống của nhiều cử tri người Mỹ gốc Á, da đen và Latin hơn.

Ngoài ra, hai khu vực của đất nước có người da đen hoặc người Mỹ La tinh không cân xứng – Washington, DC và Puerto Rico – không có đại diện của Thượng viện. Washington có nhiều cư dân hơn Vermont hoặc Wyoming, và Puerto Rico có nhiều cư dân hơn 20 tiểu bang. Do đó, Thượng viện đưa ra tiếng nói chính trị cho người Mỹ da trắng lớn hơn số lượng của họ.

Hạ viện có một hệ thống công bằng hơn để phân bổ quyền lực chính trị. Nó chia đất nước thành 435 địa hạt bầu cử, mỗi địa hạt có số lượng người tương tự nhau (hiện tại là khoảng 760.000). Tuy nhiên, các địa hạt tranh cử Hạ viện có hai đặc điểm có thể khiến việc chuẩn bị thành hình cho Hạ viện không phản ánh ý kiến quốc gia, và cả hai đều trở nên quan trọng hơn trong những năm gần đây.

Việc đầu tiên đã được biết rõ: đó là các thủ thuật làm thay đổi các biên giới của các địa hạt tranh cử (gerrymandering). Các cơ quan lập pháp tiểu bang thường quy định ranh giới cho địa hạt tranh cử và trong những năm gần đây đã trở nên công hãm hơn trong các ranh giới này theo những cách thuộc về đảng phái. Ví dụ như ở Illinois, đảng Dân chủ kiểm soát chính quyền tiểu bang đã tập hợp các cử tri thuộc đảng Cộng hòa vào trong một số lượng nhỏ các địa hạt thuộc Hạ viện, để cho phép hầu hết các địa hạt khác nghiêng về đảng Dân chủ. Ở Wisconsin, đảng Cộng hòa đã làm điều ngược lại.

Bởi vì đảng Cộng hòa đã mạnh bạo trong các thủ thuật này hơn đảng Dân chủ, bản đồ Hạ viện hiện tại sẳn sàng ủng hộ cho đảng Cộng hòa, có thể là một vài ghế. Ở cấp tiểu bang, đảng Cộng hòa thậm chí còn táo bạo hơn. Các thủ thuật thay đổi biên giới tranh cử đã giúp họ chế ngự các cơ quan lập pháp tiểu bang ở Michigan, Bắc Carolina và Ohio, mặc dù các tiểu bang bị phân hoá nặng nề.

Tuy nhiên, các thủ thuật không phải là lý do duy nhất khiến tư cách dân biểu Hạ viện trở nên ít phản ánh quan điểm quốc gia hơn trong những năm gần đây. Nó thậm chí có thể không phải là lý do lớn nhất, theo Jonathan A. Rodden, nhà khoa học chính trị tại Đại học Stanford. Phân vùng tranh cử theo địa lý là vấn đề.

Rodden đã viết: “Không nghi ngờ gì là các thủ thuật này khiến cho mọi thứ trở nên tồi tệ hơn đối với đảng Dân chủ, nhưng vấn đề cơ bản của họ có thể được tóm tắt bằng câu châm ngôn cũ thuộc về giá trị bất động sản: địa thế, địa thế, địa thế.”

Các cử tri đảng Dân chủ tập trung ngày càng tăng nơi các khu vực có tàu điện ngầm lớn, có nghĩa là, ngay cả một hệ thống trung dung cũng sẽ gặp khó khăn trong việc phân phối cho những cử tri theo đảng Dân chủ đông đúc này trên khắp các địa hạt theo cách mà nó cho phép đảng thắng cử nhiều hơn.

Thay vào đó, đảng Dân chủ hiện thắng cử Hạ viện ở các khu vực thành thị do việc chia khu vực và mất nhiều phiếu bầu. Năm 2020, chỉ có 21 ứng viên Hạ viện của đảng Cộng hòa thắng cử với ít nhất 50 phần trăm điểm. Bốn mươi bảy đảng viên Đảng Dân chủ đã thắng.

Quan sát các nơi mà nhiều cuộc bầu cử trong số này đã xảy ra giúp cho Rodden đưa ra quan điểm. Những người chiến thắng vang dội bao gồm dân biểu Hạ viện Diana DeGette tại Denver; dân biểu Hạ viện Jerry Nadler tại thành phố New York; Đại biểu Jesús García tại Chicago; Đại biểu Donald Payne Jr. ở phía bắc New Jersey; và dân biểu Hạ viện Barbara Lee tại Oakland, California. Không có địa hạt tranh cử nào trong số đó nằm ở các tiểu bang mà đảng Cộng hòa đã kiểm soát ranh giới lập pháp, điều đó có nghĩa là, chúng không phải là kết quả trong thủ thuật quy định biên giới của đảng Cộng hòa.

Liên tục như vậy, việc phân vùng tranh cử theo địa lý đã gây ra nguyên nhân cho sự mất kết nối ngày càng tăng giữa công luận và các kết quả bầu cử, và sự mất kết nối này cũng đã định hình cho Tối cao Pháp viện. Tại bất kỳ thời điểm xác định nào, các thành viên của tòa án được quyết định bởi kết quả của cuộc bầu cử tổng thống và Thượng viện trong vài thập niên trước. Nếu các cuộc bầu cử này phản ánh ý kiến của quần chúng, những người được đảng Dân chủ bổ nhiệm sẽ chế ngự tòa án.

Mọi thẩm phán hiện tại đã được bổ nhiệm trong một trong chín nhiệm kỳ tổng thống vừa qua, và một đảng viên đảng Dân chủ đã giành được phiếu phổ thông ở bảy trong số chín nhiệm kỳ đó và nhiệm kỳ tổng thống ở năm trong số chín nhiệm kỳ. Tuy nhiên, tòa án hiện đang bị chi phối bởi đa số gồm sáu thành viên bảo thủ.

Có nhiều lý do (bao gồm cả quyết định của Ruth Bader Ginsburg không nghỉ hưu vào năm 2014, khi một tổng thống và Thượng viện của đảng Dân chủ có thể đã thay thế bà). Nhưng các bản chất ngày càng phi dân chủ của cả Đại cử tri đoàn và Thượng viện đóng các vai trò quan trọng.

Ông Trump đã có thể bổ nhiệm ba thẩm phán mặc dù thua phiếu phổ thông. (Ông Bush là một trường hợp phức tạp hơn, đã thực hiện các cuộc bổ nhiệm với tòa án sau khi ông tái thắng cử và cuộc bỏ phiếu phổ thông vào năm 2004.) Cũng tương tự như vậy, nếu các ghế ở Thượng viện dựa trên dân số, không ai trong số các ứng cử viên của ông Trump – Thẩm phán Neil M. Gorsuch, Brett M. Kavanaugh và Amy Coney Barrett – có thể sẽ được chuẩn nhận, Michael J. Klarman, giáo sư luật tại Harvard cho biết. Các đảng viên Cộng hòa tại Thượng viện cũng sẽ không thể ngăn cản ông Obama khi lấp đầy ghế tòa án trong năm cuối trong nhiệm kỳ của ông.

Ngay cả việc chuẩn nhận Thẩm phán Clarence Thomas vào năm 1991 cũng dựa vào cấu trúc của Thượng viện: 52 thượng nghị sĩ đã bỏ phiếu để chuẩn nhận cho ông ta làm đại diện cho một thiểu số người Mỹ.

Phương cách của tòa án hiện nay đã làm tăng việc mất kết nối giữa công luận và chính sách của chính phủ, bởi vì các thẩm phán do đảng Cộng hòa bổ nhiệm đã bác bỏ Quốc hội về một số vấn đề quan trọng. Danh sách này bao gồm các dự luật về quyền bầu cử và chiến dịch tài trợ mà các Quốc hội trước đó đã thông qua theo đường lối lưỡng đảng. Dựa trên các cuộc thăm dò, thì trong nhiệm kỳ này, tòa án đã đưa ra phán quyết về phá thai, chính sách khí hậu và luật về vũ khí dường như không phù hợp với ý kiến đa số.

Ông Klarman nói: “Các thẩm phán thuộc đảng Cộng hòa sẽ không nói gì về điều này và có thể không tin điều này, nhưng mọi thứ họ đã làm đều chuyển thành lợi thế trực tiếp cho Đảng Cộng hòa.”

Để đối phó với quyết định về quyền bầu cử vào năm 2013, các nhà lập pháp đảng Cộng hòa ở một số tiểu bang đã thông qua luật khiến việc bỏ phiếu trở nên khó khăn hơn, đặc biệt là ở các khu vực có phần đông theo đảng Dân chủ. Họ đã làm như vậy với lý do cần phải bảo vệ an ninh bầu cử, mặc dù không có gian lận lan tràn nào trong những năm gần đây.

Hiện tại, hiệu quả bầu cử của các quyết định này vẫn còn bất trắc. Một số nhà phân tích chỉ ra rằng, các hạn chế vẫn chưa đủ mạnh để kéo tỷ lệ cử tri đi bầu xuống thấp. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2020, tỷ lệ người Mỹ đủ điều kiện bỏ phiếu đã đạt mức cao nhất trong ít nhất thế kỷ.

Các chuyên gia khác vẫn còn lo ngại rằng, các luật mới cuối cùng có thể xoay chuyển một cuộc bầu cử chặt chẽ ở một tiểu bang có dao động. Bà Anderson, giáo sư Emory, nói: “Khi bạn có một bên đang chuẩn bị nói ‘Làm thế nào để chúng ta ngăn chặn kẻ thù bỏ phiếu?’ điều đó nguy hiểm cho một nền dân chủ.”

Một vụ kiện sắp tới tại Tối cao Pháp viện cũng có thể cho phép các cơ quan lập pháp của tiểu bang áp đặt nhiều hạn chế bỏ phiếu hơn. Tòa án đã đồng ý xét xử một trường hợp trong đó các nhà lập pháp đảng Cộng hòa ở tiểu bang Bắc Carolina lập luận rằng Hiến pháp trao cho họ thẩm quyền giám sát các cuộc bầu cử liên bang, chứ không phải là cho các tòa án tiểu bang.

Trong những năm gần đây, các tòa án tiểu bang đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hạn chế cả các nhà lập pháp đảng Cộng hòa và Dân chủ, những người đã cố gắng quy định thay đổi các biên giới thuộc địa hạt tranh cử để mang lại lợi ích nhiều hơn cho một đảng. Nếu Tối cao Pháp viện đứng về phía Cơ quan Lập pháp của tiểu bang Bắc Carolina, thủ thuật này có thể tăng lên, cũng như luật có thể thiết lập các rào cản mới đối với việc bỏ phiếu.

Khuếch đại những lời dối trá trong bầu cử

Ảnh: Các cuộc thăm dò cho biết, gần 70% cử tri thuộc đảng Cộng hòa tin rằng ông Biden đã không thắng cử hợp pháp trong năm 2020. Nguồn ảnh: Adriana Zehbrauskas/ NYT.

Nếu chỉ những thách thức đối với nền dân chủ liên quan đến các lực lượng kinh niên, phát triển lâu dài này, nhiều chuyên gia sẽ ít quan tâm hơn việc các thách thức này là gì. Sau rốt, nền dân chủ Mỹ luôn có thiếu sót.

Nhưng những cách xây dựng chậm chạp mà trong đó quy luật đa số bị suy yếu đang xảy ra cùng lúc với việc đất nước đối phó với một mối đe dọa trước mắt mà nó rất ít có tiền lệ. Ngày càng có nhiều quan chức thuộc đảng Cộng hòa đặt vấn đề về một tiền đề cơ bản của nền dân chủ: những người thua cử sẵn sàng chấp nhận sự thất bại.

Các nguồn gốc của phong trào hiện nay về phủ nhận bầu cử khởi đầu từ năm 2008. Khi ông Obama đang tranh cử tổng thống và sau khi ông thắng cử, một số nhà phê bình về ông đã cáo buộc một cách sai lạc rằng, chiến thắng của ông là bất hợp pháp, vì ông sinh ra ở Kenya, không phải là Hawaii. Phong trào này được biết đến như là chủ thuyết về sinh quán, và ông Trump là một trong những người ủng hộ. Bằng cách đưa ra các cáo buộc trên lên đài Fox News và các nơi khác, Trump đã giúp biến mình từ một ngôi sao truyền hình trong các chương trình thực tế thành một khuôn mặt chính trị.

Khi tự mình tranh cử tổng thống vào năm 2016, ông Trump đã biến các tuyên bố sai lệch về gian lận bầu cử làm thành trọng tâm trong chiến dịch tranh cử. Trong các cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Cộng hòa, ông cáo buộc đối thủ cạnh tranh gần nhất của mình cho việc đề cử, Thượng nghị sĩ Ted Cruz là gian lận. Trong cuộc tổng tuyển cử chống lại Hillary Clinton, ông Trump cho biết ông sẽ chỉ chấp nhận kết quả nếu thắng cử. Vào năm 2020, sau khi ông Biden thắng, những lời nói dối trong cuộc bầu cử đã trở thành thông điệp chính trị chủ yếu của ông Trump.

Việc ông chấp nhận những lời nói dối này hoàn toàn khác với phương cách của các nhà lãnh đạo trong quá khứ từ cả hai đảng. Vào những năm 1960, Reagan và Barry Goldwater cuối cùng đã cô lập những kẻ âm mưu của Hiệp hội John Birch. Năm 2000, Al Gore kêu gọi những người ủng hộ cho ông nên chấp nhận chiến thắng mong manh của George W. Bush, giống như Richard Nixon đã khuyến khích những người ủng hộ ông làm như vậy, sau khi ông thua suýt soát John F. Kennedy vào năm 1960. Năm 2008, khi một cử tri thuộc đảng Cộng hòa tại một cuộc biểu tình mô tả ông Obama là người Ả Rập, Thượng nghị sĩ John McCain, ứng cử viên đảng Cộng hòa và là đối thủ của ông Obama, đã điều chỉnh việc này.

Ngược lại, việc ông Trump thúc đẩy sự giả dối đã biến chúng thành một phần chủ yếu trong thông điệp của đảng Cộng hòa. Theo các cuộc thăm dò, khoảng hai phần ba cử tri đảng Cộng hòa nói rằng ông Biden đã không thắng cử trong năm 2020 một cách hợp pháp. Theo một phân tích của FiveThirtyEight, trong số các ứng cử viên đảng Cộng hòa tranh cử vào chức vụ trong toàn tiểu bang năm nay, 47% đã phủ nhận kết quả bầu cử năm 2020.

Mặt khác, hầu hết các chính trị gia thuộc đảng Cộng hòa, những người đã đối đầu với ông Trump, kể từ đó đã mất việc làm hoặc không bao lâu sau sẽ mất. Ví dụ như trong số 10 đảng viên Cộng hòa tại Hạ viện, những người đã bỏ phiếu luận tội dàn hặc ông vì vai trò của ông trong vụ tấn công ngày 6 tháng Giêng, kể từ đó tám người đã quyết định nghỉ hưu hoặc thua trong các cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Cộng hòa, kể cả dân biểu Liz Cheney của Wyoming.

Ông Levitsky nói: “Cho dù trong bất kỳ dấu hiệu nào, đảng Cộng hòa – dù ở cao cấp, trung cấp và cơ sở quần chúng – là một đảng chỉ có thể được mô tả là không cam kết với nền dân chủ.” Ông nói thêm rằng, ông quan tâm sâu xa đến nền dân chủ Mỹ hơn khi so với khi cuốn sách của ông và ông Ziblatt “How Democracies Die” ra mắt vào năm 2018.

Juan José Linz, nhà khoa học chính trị đã qua đời vào năm 2013, đã đặt ra thuật ngữ “các tác nhân chỉ trung thành nửa vời” để mô tả các quan chức chính trị mà họ thường không khởi xướng một cách đặc trưng các cuộc tấn công vào các quy tắc hoặc thể chế dân chủ, nhưng họ cũng không cố gắng ngăn chặn các cuộc tấn công này. Thông qua sự đồng lõa của họ, những tác nhân trung thành nửa vời này có thể khiến một đảng phái và một quốc gia nghiêng về phía chủ thuyết độc tài.

Đó là những gì đã xảy ra ở châu Âu vào những năm 1930 và ở Mỹ La tinh trong những năm 1960 và 70. Gần đây hơn, việc này đã xảy ra ở Hungary. Hiện nay, có nhiều dấu hiệu tương tự như vậy ở Hoa Kỳ.

Ngay cả những đảng viên Cộng hòa thường tự cho mình là khác với ông Trump, họ cũng đồng tình với các thuyết âm mưu của ông Trunp trong các chiến dịch tranh cử của họ, họ nói rằng họ, cũng tin rằng ” sự liêm chính của cuộc bầu cử” là một vấn đề chủ yếu. Ví dụ như Thống đốc Glenn Youngkin của Virginia và Thống đốc Ron DeSantis của Florida, gần đây đều đã vận động tranh cử khi thay mặt cho những người phủ nhận bầu cử.

Tại Quốc hội, các nhà lãnh đạo đảng Cộng hòa phần lớn đã ngừng chỉ trích cuộc tấn công bằng bạo lực vào điện Capitol. Dân biểu Kevin McCarthy, nhà lãnh đạo Hạ viện đảng Cộng hòa, đã đi quá xa khi báo hiệu sự ủng hộ của mình đối với các bạn đồng viện – như dân biểu Marjorie Taylor Greene của tiểu bang Georgia –  người đã sử dụng hình ảnh bạo lực trong các bình luận công khai. Bà Greene, trước khi được bầu vào Quốc hội, nói rằng bà ủng hộ ý tưởng hành quyết các đảng viên Dân chủ nổi tiếng.

Ông Levitsky nói: “Khi các đảng phái thuộc dòng chính dung túng cho những kẻ này, bào chữa, bảo vệ họ, đó là khi nền dân chủ gặp rắc rối, ở đó luôn có Marjorie Taylor Greenes. Điều mà tôi chú ý nhiều hơn là hành vi của Kevin McCarthys”.

Ảnh: Dân biểu Marjorie Taylor Greene thuộc đảng Cộng hòa tiểu bang Georgia trong một cuộc biểu tình ủng hộ Trump vào tháng Năm. Nguồn ảnh: Nicole Craine/ NYT.

Sự chấp nhận ngày càng tăng của đảng đối với những lời nói dối trong cuộc bầu cử đặt ra vấn đề là điều gì sẽ xảy ra nếu ông Trump hoặc một ứng cử viên tổng thống trong tương lai khác cố gắng lặp lại nỗ lực của ông để lật ngược kết quả trong năm 2020.

Theo nhóm nghiên cứu States United Action, trong năm nay, tại 11 tiểu bang, ứng cử viên của Đảng Cộng hòa cho chức vụ bộ trưởng tiểu bang, một vị trí thường là giám sát việc điều hành hành chánh cho cuộc bầu cử, được xem như là “người phủ nhận bầu cử”. Ở 15 tiểu bang, ứng cử viên cho chức vụ thống đốc là người phủ nhận, và ở 10 tiểu bang, ứng cử viên ch chức vụ tổng công tố cũng làm như vậy.

Sự phát triển của phong trào phủ nhận bầu cử đã tạo ra một sác xuất mà dường như không thể nào tưởng tượng được cách đây không lâu. Hiện vẫn chưa rõ liệu người thua cuộc bầu cử tổng thống sắp tới sẽ nhượng bộ hay thay vào đó cố gắng lật ngược kết quả.

‘Cuộc khủng hoảng đang đến’

Ảnh: Nếu đảng Dân chủ kiểm soát cả Nhà Trắng và Quốc hội, thì họ đã báo hiệu rằng họ sẽ cố gắng thông qua luật để giải quyết cả những mối đe dọa kinh niên và cấp tính đối với nền dân chủ. Nguồn: Oliver Contreras/ NYT.

Vẫn còn nhiều kịch bản mà trong đó Hoa Kỳ sẽ tránh được một cuộc khủng hoảng dân chủ.Vào năm 2024, ông Biden có thể tái thắng  cử lại với cách biệt lớn – hoặc một đảng viên Cộng hòa khác ngoài ông Trump có thể thắng với cách biệt lớn. Ông Trump sau đó có thể mờ dần trong chính trường, và những người kế nhiệm ông có thể chọn không chấp nhận sự giả dối trong cuôc bầu cử. Kỷ nguyên về việc phủ nhận bầu cử của đảng Cộng hòa có thể được chứng minh là sớm tàn lụn.

Việc cũng có thể xảy ra là ông Trump hoặc một ứng cử viên đảng Cộng hòa khác sẽ cố gắng đảo ngược thất bại sát nút vào năm 2024, nhưng sẽ thất bại, như đã xảy ra vào năm 2020. Sau đó, Brad Raffensperger, bộ trưởng thuộc đảng Cộng hòa của tiểu bang Georgia, người đã phản bác ông Trump sau khi ông Trump ra lệnh cho Raffensperger tìm 11. 780 phiếu, và Tối cao Pháp viện cũng từ chối can thiệp. Nhìn rộng hơn, Mitch McConnell, nhà lãnh đạo đảng Cộng hòa tại Thượng viện, gần đây đã nói rằng Hoa Kỳ có “rất ít gian lận bầu cử”.

Nếu một đảng viên Cộng hòa một lần nữa cố gắng đảo ngược cuộc bầu cử và thất bại, phong trào cũng có thể bắt đầu tan biến.

Nhưng nhiều chuyên gia về dân chủ lo ngại rằng những kịch bản này có thể là ước vọng. Những người kế nhiệm có khả năng nhất của ông Trump với tư cách là lãnh đạo đảng cũng đưa ra hoặc khoan dung cho những tuyên bố sai lệch về gian lận bầu cử. Phong trào là rộng lớn hơn một người – và được luôn luôn lập luận là: Một số nỗ lực để làm cho việc bỏ phiếu trở nên khó khăn hơn, một điều mà nói chung, thường được biện minh bằng những đề nghị sai lầm về gian lận cử tri phổ biến, nó có trước khi ông Trump ứng cử năm 2016.

Để tin rằng đảng Cộng hòa sẽ không lật ngược tình trạng thua cử khích khao trong những năm tới dường như phụ thuộc vào việc bỏ qua các quan điểm công khai của nhiều chính trị gia thuộc đảng Cộng hòa. Ông Mounk của Đại học Johns Hopkins nói: “Các kịch bản mà chúng ta không có một cuộc khủng hoảng dân chủ trầm trọng vào cuối thập kỷ này có vẻ khá ít.”

Và ông Levitsky nói: “Không rõ là cuộc khủng hoảng sẽ tự biểu hiện như thế nào, nhưng một cuộc khủng hoảng sắp xảy ra.” Ông nói thêm, “Chúng ta nên lo âu nhiều hơn.”

Nhiều học giả nói rằng, chiến lược hứa hẹn nhất để tránh một cuộc bầu cử bị lật ngược, liên quan đến một liên minh ý thức hệ rộng lớn, mà nó cô lập những người phủ nhận bầu cử. Nhưng vẫn chưa rõ là có bao nhiêu chính trị gia đảng Cộng hòa sẽ sẵn sàng tham gia một liên minh như vậy.

Cũng không rõ liệu việc các chính trị gia và cử tri đảng Dân chủ có quan tâm đến việc thực hiện các thỏa hiệp mà nó sẽ giúp cho họ thu hút nhiều cử tri hơn không. Thay vào đó, nhiều đảng viên Dân chủ đã chấp nhận một phiên bản thuần túy hơn của chủ thuyết tự do trong những năm gần đây, đặc biệt là về các vấn đề xã hội. Sự thay đổi sang cánh tả không ngăn cản được việc đảng này thắng phiếu phổ thông trong các cuộc bầu cử tổng thống. Nhưng nó đã làm tổn thương đảng Dân chủ bên ngoài các khu vực đô thị lớn và nói rộng ra là trong cuộc bầu cử Đại cử tri đoàn và quốc hội.

Nếu đảng Dân chủ đã kiểm soát cả Nhà Trắng và Quốc hội – và bằng hơn một phiếu duy nhất, như hiện nay họ đang làm tại Thượng viện – họ đã báo hiệu rằng họ sẽ cố gắng thông qua luật để giải quyết cả những mối đe dọa kinh niên và cấp thiết đối với nền dân chủ.

Năm ngoái, Hạ viện đã thông qua một dự luật để bảo vệ quyền bỏ phiếu và hạn chế các thủ thuật về đi6a lý để thay đổi luật về bầu cử theo địa hạt. Luật này không thành tại Thượng viện một phần vì nó bao gồm các biện pháp mà ngay cả một số đảng viên Dân chủ ôn hòa tin rằng đã đi quá xa, chẳng hạn như các hạn chế về luật nhận dạng cử tri, điều mà nhiều nền dân chủ khác trên thế giới thực hiện.

Hạ viện cũng đã thông qua một dự luật cấp cho Washington, DC có quyền hạn như một tiểu bang, điều này sẽ làm giảm sự thiên vị hiện tại của Thượng viện đối với các khu vực đô thị và người Mỹ da đen. Hoa Kỳ hiện đang trong giai đoạn dài nhất mà không thừa nhận một tiểu bang mới.

Các chuyên gia về dân chủ cũng đã chỉ ra các giải pháp khả thi khác cho sự mất kết nối ngày càng tăng giữa dư luận và chính sách của chính phủ. Trong số đó có sự mở rộng số lượng dân biểu Hạ viện, điều mà Hiến pháp cho phép Quốc hội làm – và  Quốc hội đã làm thường xuyên cho đến đầu thế kỷ 20. Một quốc hội đông đảo hơn sẽ tạo ra các địa hạt tranh cử nhỏ hơn, do đó, có thể làm giảm sự tham gia các địa hạt thiếu sức cạnh tranh.

Các học giả khác ủng hộ cho các đề xuất nhằm hạn chế quyền lực của Tối cao Pháp viện, điều mà Hiến pháp cũng cho phép và các tổng thống và Quốc hội trước đây đã làm.

Trong ngắn hạn, nói chung, những đề xuất này sẽ giúp cho đảng Dân chủ bởi vì các mối đe dọa hiện nay đối với quy luật theo đa số chủ yếu mang lại lợi ích cho đảng Cộng hòa. Tuy nhiên, về lâu dài, các tác động đảng phái của những thay đổi như vậy là ít rõ ràng.

Lịch sử của các tiểu bang mới đưa ra điểm này: Vào những năm 1950, ban đầu, đảng Cộng hòa ủng hộ cho việc biến Hawaii thành một tiểu bang, bởi vì nó có vẻ nghiêng về đảng Cộng hòa, trong khi đảng Dân chủ nói rằng Alaska cũng phải được kết nạp, cũng vì các lý do đảng phái. Ngày nay, Hawaii là một tiểu bang ủng hộ mạnh mẽ cho đảng Dân chủ, và Alaska là một bang ủng hộ mạnh cho đảng Cộng hòa. Dù bằng cách nào, thực tế là cả hai đều là các tiểu bang đã làm cho đất nước trở nên dân chủ nhiều hơn.

Trong suốt chiều dài của lịch sử, chính phủ Mỹ đã có xu hướng trở nên dân chủ hơn, thông qua quyền bầu cử của nữ giới, các luật về dân quyền, bầu cử trực tiếp cho  thượng nghị sĩ và hơn thế nữa. Các trường hợp ngoại lệ, như thời kỳ hậu Tái thiết, khi những người da đen ở miền Nam mất quyền, là rất hiếm. Giai đoạn hiện tại rất nổi bật một phần vì nó là một trong những trường hợp ngoại lệ đó.

Ông Mounk nói: “Vấn đề không phải là nền dân chủ Mỹ tồi tệ hơn so với trước đây. Trong suốt lịch sử nước Mỹ, việc loại trừ các nhóm thiểu số, và đặc biệt là người Mỹ gốc châu Phi, đã tồi tệ hơn nhiều so với hiện nay. Nhưng bản chất của mối đe dọa rất khác so với trước đây”, ông nói.

Việc chuẩn bị hình thành của chính phủ liên bang phản ánh công luận ít gắn bó chặt chẽ hơn so với việc làm này trước đây. Và khả năng xảy ra một cuộc khủng hoảng hiến pháp thực sự – trong đó người chiến thắng cử hợp pháp không thể nhậm chức – đã tăng lên một cách đáng kể. Sự kết hợp đó cho thấy nền dân chủ Mỹ chưa bao giờ phải đối mặt với một mối đe dọa nào giống như mối đe doạ hiện nay.

_______

Tác giả: David Leonhardt là một cây bút thâm niên của báo New York Times và đoạt giải thưởng Pulitzer với một bài viết về cuộc Đại suy thoái.

Nick Corasaniti, Max Fisher, Adam Liptak, Jennifer Medina, Jeremy W. Peters và Ian Prasad Philbrick có đóng góp trong bài tường thuật này.

Phụ chú của người dịch:

Lúc còn tại chức, ông Trump bổ nhiệm ông Neil Gorsuch, ông Brett Kavanaugh và bà Amy Coney Barrett làm thẩm phán TCPV, nâng tổng số thành viên thuộc đảng Cộng Hoà lên sáu, nhưng không phải lúc nào TCPV cũng phán quyết có lợi cho ông Trump, bằng chứng là TCPV liên tục bác đơn của ông Trump kiện về kết quả bầu cử tống thống năm 2020.

Cuộc điều tra tại tiểu bang Georgia đi vào giai đoạn mới. Công tố viên Fani Willis, người đang điều tra xem ông Trump có vi phạm luật bầu cử năm 2020 hay không, cho biết là ông Trump phải làm sáng tỏ việc đã thuê một toán chuyên gia đến Coffee County để tạo bản sao dữ liệu và nhu liệu của thiết bị bầu cử. Bà Willis đang xin trát tòa cho phép lục soát thêm các tài liệu khác có liên quan. Ngoài ông Trump ra, còn có 16 đảng viên Cộng Hòa ở Georgia có thể bị dính líu hình sự. Nghị Sĩ Lindsey Graham thuộc Cộng Hòa ở South Carolina cũng gọi điện thoại cho Raffensperger gây áp lực, nên cũng là yếu tố mới cần xem xét.

Các diễn biến này sẽ có nhiều ảnh hưởng đến kết quả của cuộc bầu cử vào tháng 11 năm nay và năm 2024.

Đối với dân Mỹ, chủ đề chính cho hai kỳ bầu cử sắp tới là di dân, giáo dục, lạm phát, thuế và phạm pháp. Trong khi đảng Cộng hoà đề cao tối đa vai trò sắc tộc và các giá trị truyền thống Mỹ, ngược lại, đảng Dân chủ cổ cho vai trò bản sắc và khả năng hội nhập trong một xã hội đa dạng.

Thực tế cho thấy, trong tình trạng cực kỳ phân hoá nội bộ hiện nay, Mỹ sẽ còn gặp một thách thức nan giải. Nếu Mỹ muốn tiếp tục đóng vai trò lãnh đạo thế giới và chống Trung Quốc cũng như Nga thành công, Mỹ phải đạt quan điểm lưỡng đảng dung hoà.

Bài liên quan: Cái gì đang phá vở nền dân chủ?Chủ thuyết tự do và các giới bất mãnNgày 6/1 tại Quốc hội là một vết nhơ cho nền dân chủ Hoa KỳĐằng sau “cuộc khủng hoảng dân chủ” là gì?

Hoang tưởng phong kiến Đế chế của Putin, đất nước buồn nhất thế giới

NTV

Tác giả: Thomas Schmoll

Việt Hùng, dịch

9-10-2022

Bi kịch của Nga: Nó có thể là một trong những quốc gia đáng sống nhất trên trái đất, cạnh tranh một cách hòa bình với Trung Quốc và Mỹ. Sau đó, những nỗi đau ma quái của sự tự ti mặc cảm về mặt nhận thức sẽ biến mất. Nhưng nó còn cách đây vài năm ánh sáng.

Không một ngày nào trôi qua khi tin tức từ Nga hoặc tuyên bố của Putin và quần thần về các chính sách giết người của họ, không làm bạn lạnh máu. Nhưng cũng có những hình ảnh từ đất nước rộng lớn nhất trên trái đất khiến bạn choáng váng, ví dụ như khi các giáo sĩ rao giảng điều răn của Cơ đốc giáo, rằng bạn không được giết người, để lấy âm hưởng và hương khói ban phước cho binh lính trước khi họ ra trận cho một kẻ thống trị. Tự nhận bản thân là một hoàng đế ở đâu đó giữa Peter Đại đế và Stalin, nhưng thực sự là một kẻ tàn ác.

Putin đã biến đế chế của mình thành đất nước buồn nhất thế giới. Nga là một phiên bản đặc biệt hoàn hảo của một quốc gia thất bại. Nhà nước tuy hoạt động. Nhưng một người cai trị duy nhất và băng đảng của ông ta đã biến ông ta thành con mồi của họ và dựng lên một tòa nhà cai trị thuộc loại được biết đến từ các nước châu Phi. Sự tập trung quyền lực vào Putin đã mang những hình thức
phong kiến. Ngay cả sự hoang tưởng của ông ta về việc mắc bệnh hoặc bị giết cũng phù hợp với hình ảnh của các hoàng đế và các vị vua của những thế kỷ trước. Một cách ngẫu nhiên, cũng là sự vênh váo vô lý khi vị chúa tể của những chiếc bàn dài quá mức, sải bước qua các sảnh lớn trong cung điện của mình, những người lính trong bộ quân phục bắt chước từ thời Nga còn là một đế chế
thực sự chứ không phải chỉ là một nhận thức.

Tất nhiên, ở các nước phương Tây cũng có những cách trình bày kỳ quái tương tự. Tuy nhiên, các chính trị gia (và quốc vương) không quá coi trọng bản thân ở đó và không ăn mừng sự xuất hiện của họ theo cách mà người cai trị trong Điện Kremlin ưa thích. Nếu Putin từng có cảm giác về việc tự đề cao bản thân có vẻ ngớ ngẩn, thì ông ấy đã đánh mất nó. Nếu không ông ta sẽ biết rằng, lòng yêu
nước cường điệu ngày nay nhanh chóng kết thúc trong lĩnh vực trào phúng. Điều này đã được thể hiện trong buổi biểu diễn thôn tính điên cuồng ở Điện Kremlin, khi Putin và các nhà lãnh đạo phe ly khai mà ông đang chỉ đạo đặt tay lên nhau và cổ vũ, với những tiếng la hét “Rossiya”, một hành động vi phạm luật pháp quốc tế.

Trong ảo tưởng về sự vĩ đại

Tuy nhiên, Putin cũng không nhận thấy điều đó. Ông ấy đã thành công trong việc phong tỏa bản thân khỏi những lời chỉ trích và ảnh hưởng từ bên ngoài. Có lẽ Putin có ảo tưởng vĩ đại của mình đến mức thực sự tin rằng hàng triệu người Ukraine đã bỏ phiếu trong các cuộc trưng cầu dân ý để gia nhập Nga. Phải cẩn thận với bệnh lý – nhưng với Putin, có một số bằng chứng cho thấy, ông không còn đến từ thế giới này nữa, mà bị điều khiển bởi những bóng ma não của chính ông, những người liên tục nói với ông: Bạn là người vĩ đại nhất. bạn là hoàng đế.

Làm thế nào mà Darth Wladi có thể nói vô số điều vô nghĩa mà không ngừng lại hoặc phá ra cười. Khi sáp nhập lãnh thổ quốc gia Ukraine, kẻ xâm lược viện dẫn các nguyên tắc của Liên Hiệp quốc về “quyền bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc”. Chúng ta nhớ rằng: Liên Hiệp quốc là thể chế mà Putin coi thường và lạm dụng. “Chúng tôi đang kêu gọi chính quyền Kiev ngừng các cuộc pháo
kích và tất cả các cuộc giao tranh ngay lập tức và quay trở lại bàn đàm phán”
, Putin, lãnh chúa đã từng xâm lược đất nước láng giềng của mình, nói. Kẻ tấn công yêu cầu kẻ bị tấn công ngừng phản công. Đây là chứng điên mà không cần kiểm tra tâm thần để nhận ra.

Có những quốc gia rất đáng buồn khác trên trái đất, nhiều quốc gia trong số họ ở châu Phi, hoặc Afghanistan. Nhưng những quốc gia này, tất cả những cựu thuộc địa của các nước phương Tây, đã có rất ít cơ hội thực sự trong lịch sử gần đây của họ, để lật ngược tình thế theo hướng dân chủ. Không nói đến Bắc Triều Tiên. Tuy nhiên, sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc (tạm thời), Nga đã có cơ hội trở thành một quốc gia hiện đại, mở cửa và bảo tồn bản sắc của mình, xây dựng một nền
công nghiệp hiện đại và sống không chỉ bằng nguyên liệu thô và rượu vodka.

Chủ nhắm về phía Tây phương

Cánh cửa đã mở, để bỏ lại thời kỳ của những người cai trị bị ám ảnh bởi quyền lực và giải quyết tình trạng xung đột đã ảnh hưởng đến nước Nga trong nhiều thập niên: từ chối phương Tây nhưng vẫn muốn càng giống như phương Tây càng tốt. Để cạnh tranh với phương Tây, coi đó là thước đo thành công của chính mình và đồng thời coi thường nó, chắc chắn phải dẫn đến một thử thách, hiện đang
nổ ra trong cuộc chiến chống Ukraine.

Bất cứ ai cho phép chơi punk cũng phải chịu đựng những hình ảnh trông kỳ quặc trong khung cảnh đường phố. Cả hai đều không thể. Và do đó, dần dần có sự lên án mọi thứ tự do đã đến với Nga từ phương Tây. Bối cảnh văn hóa đổi mới vô cùng tốt đẹp như chết, nó chỉ diễn ra trong các ngõ ngách (hoặc ở nước ngoài). Cuối cùng, nhân quyền cũng trở thành nạn nhân của vòng xoáy bạo lực thể
xác và lời nói này. Nhân quyền không có giá trị gì ở đất nước buồn nhất thế giới này, ngoài sự tàn bạo cổ điển. Hãy nhìn người đứng đầu Cộng hòa Chechnya thuộc Nga, Ramzan Kadyrov, tự hào tuyên bố rằng ông sẽ cử ba người con trai chưa đủ tuổi tham gia cuộc chiến chống lại Ukraine. Thật là điên rồ.

TV màn hình phẳng và máy tính bảng

Việc một lãnh chúa châu Âu ở thế kỷ 21 dám coi hàng trăm nghìn người là bia đỡ đạn cho thấy sự thiếu tôn trọng hoàn toàn đối với loài người. Đối với Putin – một cách tiếp cận quản trị hậu phong kiến khác – công dân là quân nhân hoặc quần thần, trong mọi trường hợp là những người ủng hộ chính nghĩa của ông. Ngược lại, nếu bạn không ở bên ông ta, bạn đang chống lại ông ta. Lợi ích của người dân nói chung, đặc biệt là ở các khu vực xa Moscow và St.Petersburg, đóng một vai trò quan trọng. Putin chỉ quan tâm đến họ khi nhận ra rằng, mọi thứ đang trở nên căng thẳng với mình.

Sự nghèo đói là điều hiển nhiên, vì chỉ một bộ phận nhỏ người dân Nga được hưởng lợi từ sự giàu có của đất nước và ân sủng của Putin. Tác giả của những dòng này đã có vinh dự được giúp đỡ Julia Solska, người Ukraine, xuất bản ở Đức cuốn nhật ký của mình từ những ngày đầu của cuộc chiến. Trong đó, cô viết về nạn cướp bóc cho phép rút ra kết luận về mức sống trong đế chế của Putin. “Người Nga xâm lược một quốc gia, giết người và phá hủy để đánh cắp máy tính và giày dép. Nếu chúng tôi biết rằng binh lính của Putin muốn TV màn hình phẳng và máy tính bảng, chúng tôi đã gửi chúng cho họ. Vậy thì họ có thể tha cho chính mình và chúng tôi”.

Bi kịch của Nga là nó có thể là một trong những quốc gia đáng sống nhất trên trái đất, cạnh tranh một cách hòa bình với Trung Quốc và Mỹ. Khi đó, bóng ma của sự tự ti mặc cảm về mặt nhận thức sẽ biến mất và Nga sẽ không còn cần phải đổ lỗi cho phương Tây về những thiếu sót của chính mình. Có lẽ thế giới sẽ tồn tại để nhìn thấy nước Nga này. Đó sẽ là một may mắn cho nhân loại.

“Sky Wiper” EDM4S: Súng trường được Ukraine sử dụng để quét sạch máy bay không người lái từ trên không

NTV

Tác giả: Klaus Wedekind

Việt Hùng, dịch

07-10-2022

Rất lâu trước cuộc xâm lược của Nga vào ngày 24 tháng 2, quân đội Ukraine đã nhận ra mối đe dọa từ máy bay không người lái (drone) và đặt mua súng trường chống nhiễu đặc biệt từ Litva. Việc mua đó dường như không dễ dàng.

Quốc hội Ukraine công nhận các đảo do Nga quản lý là lãnh thổ Nhật Bản

NHK

Thục Quyên dịch

8-10-2022

Quốc hội Ukraine đã thông qua một nghị quyết công nhận tuyên bố chủ quyền của Nhật Bản đối với các đảo mà nước này gọi là “Lãnh thổ phương Bắc”, hiện đang do Nga nắm giữ (Nga gọi là quần đảo Kuril).

Cây cầu chiến lược quan trọng Kerch bị hư hại sau một vụ nổ

Thục-Quyên, tổng hợp

8-10-2022

Tin từ Deutschlandfunk (*) ngày 8 tháng 10 năm 2022 cho biết, cây cầu chiến lược quan trọng dùng cho đường bộ và đường xe lửa, nối bán đảo Crimea và đất liền, đã bị sập một phần sau một vụ nổ, tiếp theo là hoả hoạn.

Lính Mỹ bị Nga bắt, kể chi tiết nhiều tháng bị đánh đập và thẩm vấn

Washington Post

Tác giả: Dan Lamothe

Cù Tuấn, dịch

3-10-2022

Alex Drueke (trái) và Andy Tài Huỳnh đã được thả tự do ngày 21 tháng 9. Trong cuộc phỏng vấn lần đầu tiên kể từ khi được thả, hai người nói rằng họ đã bị thẩm vấn, bị ngược đãi về thể chất và tinh thần, và ít được cho đồ ăn hoặc nước sạch. Ảnh: AP

Tóm tắt: Trong cuộc phỏng vấn chi tiết đầu tiên kể từ khi được trả tự do, Alex Drueke và Andy Tài Huỳnh kể lại sự ngược đãi về thể chất và tâm lý mà họ phải chịu đựng trong hơn 104 ngày bị giam cầm

Giai đoạn mới trong chiến tranh: Mọi việc sẽ tiếp tục như thế nào sau cuộc thôn tính của Putin?

DPA

Tác giả: Hannah Wagner, Ulf Mauder và André Ballin

Việt Hùng phỏng dịch

30-9-2022

Với việc sáp nhập 4 khu vực Ukraine bị chiếm đóng, Nga đang sử dụng vũ lực để di chuyển biên giới ở châu Âu lần đầu tiên kể từ khi sáp nhập bán đảo Crimea ở Biển Đen vào năm 2014. Cuộc chiến kéo dài bảy tháng nay đang bước sang một giai đoạn mới. Dưới đây là một số câu hỏi và câu trả lời về cách tiến hành:

Putin đối phó với việc bại trận?

Wahsington Post

Greg Sargent phỏng vấn Francis Fukuyama

Đỗ Kim Thêm dịch

12-09-2022

Tổng thống Nga Vladimir Putin chủ trì một cuộc họp ở Moscow về các vấn đề kinh tế vào ngày 12 tháng 9. Nguồn: Gavriil Grigorov, Sputnik, Kremlin Pool Photo/ AP

Hồi giữa tháng 3, chưa đầy một tháng sau khi Nga xâm lăng Ukraine, nhà khoa học chính trị Francis Fukuyama đã đưa ra một dự đoán nổi bật: Ukraine sẽ chiến thắng.

Putin hiện có những lựa chọn nào?

NTV

Tác giả: Judith Görs

Việt Hùng phỏng dịch

13-9-2022

Tổng thống Nga Vladimir Putin. Nguồn AP

Nhân vật trong tuần: Salushnyi, vị tướng anh hùng đánh bại nước Nga

Germany Zero Detail

Tác giả: Wolfram Weimer

Việt Hùng phỏng dịch

13-9-2022

Tướng Zalushnyi. Nguồn: GZD

Nữ hoàng Elizabeth II: 1926-2022 (Phần 2)

Washington Post

Tác giả: Adrian Higgins

Cù Tuấn, dịch

9-9-2022

Tiếp theo Phần 1

Cuộc đấu trong nội bộ gia đình

Nữ hoàng Elizabeth II: 1926-2022 (Phần 1)

Washington Post

Tác giả: Adrian Higgins

Cù Tuấn, dịch

9-9-2022

Nữ hoàng Elizabeth năm 2013. Ảnh trên mạng

Tóm tắt: Nữ hoàng Anh là một nhân vật kiên định và khiến người khác yên tâm, và bà đã giúp lãnh đạo đất nước của mình vượt qua một thời kỳ thay đổi triệt để vào nửa sau của thế kỷ 20.