Trump đã đi rồi nhưng thế giới không quên (Phần I)

  •  
  •  
  •  
  •  

Một chính quyền Trump thứ hai sẽ gây ra thiệt hại không thể cứu vãn cho Hoa Kỳ với tư cách là một vai chính trong chính trị thế giới. Nhưng ngay cả với sự thất cử của Trump, phần còn lại của thế giới không thể bỏ qua những vết sẹo sâu và biến dạng của nước Mỹ. Chúng sẽ không sớm lành lại.

Foreign Policy

Tác giả: Jonathan Kirshner

Dịch giả: Trần Ngọc Cư

Số tháng 3 và tháng 4/2021

Chiếc bóng đổ dài của Trump và bước đường cùng của uy tín Mỹ

Trong bài giảng đầu tiên của bất cứ phần dẫn nhập nào về lớp quan hệ quốc tế, sinh viên thường được cảnh báo về những hậu quả thô bạo của tình trạng hỗn loạn quốc tế. Chính trị thế giới, họ được cho biết, là một hệ thống tự lực cánh sinh: Trong trường hợp không có một thẩm quyền toàn cầu để thực thi các luật lệ, không có gì bảo đảm rằng, hành vi của những nước khác — đôi khi, những nước khác nguy hiểm và thâm độc — sẽ được kềm chế. Với sự sống còn của mình có thể bị đe dọa, các quốc gia phải lường trước khả năng xấu nhất về thế giới bên ngoài, lập kế hoạch và hành xử tương ứng.

Giống như hầu hết các điều trừu tượng khác, cách mô tả của lớp nhập môn quan hệ quốc tế [IR101] về các hậu quả của tình trạng hỗn loạn quốc tế là một sự đơn giản hóa triệt để, hữu ích thật đấy, như một kỹ thuật lập mô hình không chính thức, nhưng có những hạn chế của nó.

Trong thế giới thực – nghĩa là đối với hầu hết các quốc gia, ở hầu hết mọi thời điểm – sự sống còn của một quốc gia thật ra không bị đe dọa khi họ quyết định áp dụng chính sách nào trong các chính sách đối ngoại khác nhau. Và các quốc gia hiếm khi rút vào thế co cụm phòng thủ, theo kiểu không còn muốn tin tưởng bất kỳ quốc gia nào khác, hoặc bị tê liệt bởi nỗi sợ hãi rằng, nước bạn hiển nhiên ngày hôm nay sẽ trở thành một kẻ thù không đội trời chung vào ngày mai.

Tuy nhiên, cũng giống như hầu hết những điều trừu tượng khác, có một sự thật cốt lõi bất khả xâm phạm đối với câu chuyện ngụ ngôn về tình trạng hỗn loạn của thế giới. Rốt cuộc, cái thế giới gồm các quốc gia riêng rẽ thật ra là một hệ thống tự lực cánh sinh, thân ai nấy lo, hồn ai nấy giữ. Và vì thế các nước nhất thiết phải đưa ra những phỏng đoán về hành vi dự kiến trong tương lai của những nước khác — về những gì có vẻ có thể xảy ra và về tầm ảnh hưởng của những điều khả thể và những điều khả thi.

Đây là lý do tại sao mặc dù Donald Trump đã trở thành hội viên của một câu lạc bộ khá độc đáo – các tổng thống Mỹ một nhiệm kỳ – nhiệm kỳ của Tổng thống Trump sẽ có những hậu quả lâu dài đối với quyền lực và ảnh hưởng của Mỹ trên thế giới. Leo Tolstoy cảnh báo rằng “không có điều kiện nào mà một người không thể làm quen, đặc biệt nếu anh ta thấy rằng nó được những người xung quanh chấp nhận“.

Đặc biệt đối với hầu hết những người Mỹ thiển cận và cục bộ, việc mặc nhiên bình thường hóa những gì trên thực tế là một đường lối phá vỡ chuẩn mực trong chính sách đối ngoại, là một chuyện dễ dàng xảy ra. Mặc dù người ta có thể đưa ra bất cứ lời chỉ trích nào về bàn tay thường nhuốm máu của anh khổng lồ Mỹ trên sân khấu thế giới, nhưng chính sách đối ngoại của Trump thì khác: Thiển cận, có tính giao dịch, bốc đồng, không đáng tin cậy, thô lỗ, cá nhân chủ nghĩa và có luận điệu, lập trường và tín lý cực kỳ phản tự do.

Một số người hoan nghênh sự chuyển đổi mà Trump thể hiện, nhưng hầu hết các chuyên gia đối ngoại, các nhà thực hành chính sách và các chuyên gia khác đang thở phào nhẹ nhõm rằng, một giai đoạn giao thời vô cùng đáng tiếc, và về nhiều mặt đáng hổ thẹn, đã trôi qua. (Rất khó có khả năng một tổng thống Mỹ tương lai nào đó sẽ trao đổi “những bức thư đẹp” và bày tỏ “tình yêu” của mình dành cho nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Un).

Nhưng sự nhẹ nhõm rõ rệt ấy chắc chắn đã giảm bớt do một sự thật rất nản lòng, bắt nguồn từ khái niệm hỗn loạn quốc tế này: Thế giới không thể xoá bỏ ký ức về nhiệm kỳ tổng thống Trump. (Thêm một điều không kém phần quan trọng là thế giới sẽ không thể nào quên cách hành xử của những thành viên Quốc hội Hoa Kỳ đã hành xử trong những tuần cuối cùng của chính quyền Trump, bỏ phiếu theo tinh thần cơ hội chủ nghĩa để mưu toan lật ngược kết quả một cuộc bầu cử và góp phần kích động bạo lực tại trụ sở Quốc Hội Mỹ). Từ thời điểm này trở đi, các quốc gia khắp thế giới sẽ phải tính toán lợi ích và kỳ vọng của mình với sự hiểu biết rằng chính quyền Trump là thứ mà hệ thống chính trị Hoa Kỳ có thể tạo ra một cách hợp lý.

Những đánh giá lại như vậy sẽ không có lợi cho Hoa Kỳ. Trong 75 năm qua, giả định phổ quát cho rằng Hoa Kỳ đã cam kết bảo vệ các mối quan hệ và định chế mà nước này đã tạo ra và các chuẩn mực mà nước này công bố, đã ảnh hưởng thế giới theo những cung cách ưu đãi lợi ích của Mỹ. Nếu ngày càng bị coi là vô trách nhiệm và ích kỷ, Hoa Kỳ sẽ thấy thế giới là một nơi nguy hiểm hơn và ít thân thiện hơn.

QUYỀN LỰC VÀ MỤC ĐÍCH

Một quốc gia cố gắng dự đoán hành vi chính sách đối ngoại của quốc gia khác bằng cách đưa ra đánh giá về hai yếu tố: Quyền lực và mục đích. Việc đo lường quyền lực có vẻ đơn giản, mặc dù thông thường thì không. (Pháp có vẻ tự hào về một quân đội đáng gờm vào năm 1939, và Liên Xô được coi là một siêu cường trong nửa thế kỷ sau đó, nhưng cả hai nước đều sụp đổ đột ngột và bất ngờ dưới sức ép).

Đo lường yếu tố thứ hai — mục đích — trên thực tế đòi hỏi nhiều phỏng đoán hơn nhưng thậm chí còn quan trọng hơn. Một quốc gia là bạn hay thù, và trong cả hai trường hợp, trong bao lâu? Lời nói của một quốc gia có phải là một phiếu nợ của nó, hay những cam kết của nó là phù du và những lời tuyên bố của nó chỉ là một sự lên gân hời hợt, cơ hội chủ nghĩa?

Rốt cuộc, đây là những câu hỏi liên quan đến sự tin cậy và sự tự tin, đòi hỏi các hành vi phán đoán. Và dù tốt hơn hay xấu hơn, việc hợp tác với một quốc gia mà định hướng chính sách đối ngoại cơ bản của nó bắt nguồn từ các mục đích nhất quán một cách hợp lý qua thời gian, sẽ là một việc dễ làm hơn.

Do đó, ngay cả với sự đắc cử của Biden — một người ủng hộ trật tự quốc tế tự do truyền thống, thuộc cánh giữa, phát xuất từ cùng một khuôn khổ chính sách đối ngoại cơ bản của mọi tổng thống Hoa Kỳ (trừ một vị) trong suốt chín thập niên qua — các quốc gia giờ đây phải biết đề phòng trước viễn cảnh của một chính sách ngoại giao thờ ơ lạnh lùng, không can dự, và thiển cận vụng về của Hoa Kỳ.

Rốt cuộc, tình trạng thiếu một trật tự quốc tế cũng đòi hỏi các quốc gia phải nhìn nhận thế giới như nó hiện hữu, chứ không phải như họ mong muốn. Và các tín hiệu cảnh báo loé sáng hơn bao giờ cả, cho thấy rằng Hoa Kỳ có lẽ không còn là một quốc gia như nó từng xuất hiện trước đây.

Mặc dù biên độ chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 2020 rất rộng (hai ứng cử viên cách nhau bảy triệu phiếu bầu, cách biệt 4,5% trong số phiếu phổ thông và 74 phiếu đại cử tri), nhưng theo bất cứ sự tưởng tượng nào đi nữa, thì nó không phải là một sự từ bỏ Trump.

Vào năm 2016, một số người cho rằng việc Trump đắc cứ là một sự may mắn. Điều này luôn luôn là một thái độ tự trấn an (như một kẻ huýt gió khi đi qua nghĩa địa), nhưng là một điều có thể biện minh. Dẫu sao, việc Trump đắc cử năm ấy chỉ xoay quanh khoảng 80.000 phiếu bầu, trải rộng trên ba bang. Ngay cả với sự kiện này, nếu không có những điều kỳ quặc địa lý ngẫu nhiên trong lịch sử của Michigan (Bán đảo phía trên của bang này) và Florida (Vùng cán chảo), những tiểu bang đó có thể đã rơi vào tay phe Dân chủ. Và ứng cử viên Đảng Dân chủ, Hillary Clinton (người thật sự đã thắng phiếu phổ thông với tỷ lệ lớn), đối với một số khối cử tri quan trọng, là một ứng cử viên không được tin tưởng.

Cuộc bầu cử năm 2020 đã chấm dứt huyền thoại trấn an, cho rằng sự đắc cử của Trump năm 2016 là một may mắn. Trump là nước Mỹ — hoặc ít nhất là một phần rất lớn của nó. Nhiều người Mỹ sẽ nghẹn ngào với tình cảm đó, nhưng các quốc gia khác không có được cái xa xỉ là bám vào một phiên bản được lý tưởng hoá nào đó của dân tộc tính Hoa Kỳ.

Trump là đầu mối của hàng chục vụ bê bối đạo đức, những sai sót nghiêm trọng về thủ tục và những bất cẩn đáng kinh ngạc, hầu hết trong số đó sẽ kết thúc sự nghiệp của bất kỳ nhân vật chính trị quốc gia nào khác trong nửa thế kỷ qua. Nhưng việc chà đạp các chuẩn mực quốc tế của ông, hầu như không được công chúng Mỹ ghi nhận. Sự kém cỏi kinh hoàng tuyệt đối của chính quyền đối với cuộc khủng hoảng y tế cộng đồng nghiêm trọng nhất trong một thế kỷ đã đuổi Trump khỏi chính trường trong nỗi ô nhục.

(Hãy tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra với Jimmy Carter, một người tử tế đã được chia một tay bài khó xử bởi cú sốc dầu lửa và cuộc khủng hoảng con tin Iran. Những sự kiện đó đủ để khiến tỷ lệ chấp thuận Carter giảm mạnh xuống những con số 20% và sớm đưa ông ta ra khỏi Nhà Trắng sau thất bại long trời lở đất trong cuộc bầu cử 1980).

Đúng hơn, Trump đặc biệt coi đại dịch giết chết hơn một phần tư triệu người dưới quyền lãnh đạo của ông chỉ là một sự bất tiện cá nhân, cần được kiểm soát một cách độc đáo vì lợi thế chính trị mà ông nhìn thấy. Mặc dù vậy, 74 triệu người đã bỏ phiếu cho ông — nhiều hơn chín triệu so với năm 2016 và số phiếu bầu nhiều nhất từng được dành cho một ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ, ngoại trừ Biden, người đã thu được 81 triệu.

Người ta không thể vẽ một bức tranh về chính thể Mỹ và chính sách đối ngoại tương lai của nước này mà không bao gồm khả năng to lớn về một vai trò quan trọng dành cho chủ nghĩa Trump, dù có hoặc không có bản thân Trump trong Phòng Bầu dục. Nhìn về bốn năm trước mặt, những người theo dõi tình hình Hoa Kỳ phải dự kiến rằng cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ tiếp theo có thể diễn ra hoàn toàn khác. Điều này không mang lại điềm báo tốt lành nào cho lợi ích và ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong nền chính trị thế giới. Như Mark Leonard, giám đốc của Hội đồng Châu Âu về Quan hệ Đối ngoại, đã nhận xét: “Nếu bạn biết rằng bất cứ điều gì bạn đang làm sẽ kéo dài tối đa cho đến cuộc bầu cử tiếp theo, thì bạn sẽ nhìn mọi thứ một cách tuỳ tiện hơn.”

Thật vậy, câu chuyện về cuộc bầu cử năm 2016 không chỉ nói về chiến thắng của Trump đối với Clinton; từ quan điểm của các quốc gia khác đang cố gắng đoán tương lai của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, những gì đã xảy ra trong các cuộc bầu cử sơ bộ năm đó thậm chí có thể cho nhiều thông tin và có thể khá rùng rợn.

Trong cuộc thi đua của Đảng Cộng hoà, một người mới tập tễnh làm chính trị, một ngôi sao truyền hình thực tế, một doanh nhân khoe khoang có tiếng tăm đáng nghi vấn và một thành viên hững hờ, không thường xuyên của đảng, tự mình xoay xở để đánh bại một võ đài hùng hậu gồm các đối thủ có tên tuổi, bằng cách miệt thị các anh hùng của đảng và chà đạp các tín lý chính sách cốt lõi của đảng về sự tham gia các hoạt động toàn cầu.

Bởi vì nó diễn ra trong Đảng Cộng hòa, biến động đáng kinh ngạc, không lường trước được này, không thể được gán cho những sai sót có thể có của Clinton hoặc cho sự tự do thái quá trong các cuộc chiến văn hóa, tức những giải thích tiếp đó đã được đưa ra sau cú sốc của cuộc tổng tuyển cử. Và một câu chuyện tương tự đã được chứng kiến trong quá trình đề cử của Đảng Dân chủ. Thượng nghị sĩ Bernie Sanders của Vermont – một người ngoài cuộc khác, một nhân vật xã hội chủ nghĩa kỳ cựu từ một bang nhỏ bé – đã tiến rất gần đến việc giành được giải thưởng từ một guồng máy chính trị hùng mạnh được bộ máy đảng hậu thuẫn hoàn toàn.

Trump và Sanders có điểm gì chung? Hầu như không có gì – ngoại trừ việc họ từ chối chủ nghĩa quốc tế. Cuộc vận động tranh cử năm 2016 cho thấy rằng sự đồng thuận theo chủ nghĩa quốc tế của lưỡng đảng thời hậu chiến, với những rạn nứt có thể nhìn thấy và ngày càng lớn trong nhiều thập niên, đã bị tan vỡ. Một thương vong đáng kể đánh dấu sự kết thúc của chủ nghĩa quốc tế Mỹ là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), một thỏa thuận thương mại sâu rộng giữa hàng chục quốc gia Vành đai Thái Bình Dương, bao gồm cả Hoa Kỳ.

Thỏa thuận này là trung tâm của “trục xoay” sang châu Á của chính quyền Obama. Clinton, với tư cách là ngoại trưởng, đã dàn xếp các cuộc đàm phán khó khăn để tạo ra hiệp ước và ca ngợi rằng hiệp ước đặt ra “tiêu chuẩn vàng trong các hiệp định thương mại để mở ra thương mại tự do, minh bạch và công bằng”. Tuy nhiên, trong cuộc chiến gay cấn để giành được sự đề cử của đảng Dân chủ, bà buộc phải từ bỏ TPP, điều mà nhiều người trong đảng của bà đã cảnh giác. (Sanders dẫn đầu cáo buộc chống lại những gì ông mô tả là “một thảm họa thương mại khác”). Trên thực tế, thỏa thuận đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi của Đảng Cộng hòa ở cả hai viện của Quốc hội. Trump đã rút khỏi hiệp ước vào thứ Hai đầu tiên ngay sau khi nhậm chức.

(Còn tiếp)

Bình Luận từ Facebook

BÌNH LUẬN

Xin bình luận ở đây
Xin nhập tên của bạn ở đây