Hành trình Việt – Mỹ: Từ xung đột đến đối tác và tương lai dân chủ hóa Việt Nam

Vũ Đức Khanh

10-10-2024

Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ là một trong những câu chuyện đầy biến động nhất trong lịch sử ngoại giao thế kỷ 20 và 21. Từ cuộc chiến tranh tàn khốc kéo dài gần hai thập niên, đến việc bình thường hóa quan hệ vào năm 1995, và cuối cùng là nâng cấp lên đối tác chiến lược toàn diện vào ngày 10 tháng 9 năm 2023.

Sự thay đổi ngoạn mục này không chỉ là câu chuyện về lợi ích chiến lược của hai quốc gia, mà còn phản ánh sự biến đổi sâu rộng của hệ thống chính trị thế giới và sự chuyển dịch quyền lực trong khu vực châu Á. Nhưng tại sao Mỹ lại chọn cách tiếp cận như vậy với Việt Nam, và tương lai nào đang chờ đợi Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ – Trung ngày càng căng thẳng? Đặc biệt, điều này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tiến trình dân chủ hóa mà nhiều người Việt Nam, đặc biệt giới trẻ, đang mong mỏi?

1. Giai đoạn 1945 – 1975: Xung đột và thất bại

Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập năm 1945, ban đầu Hoa Kỳ giữ thái độ trung lập, nhưng cuộc Chiến tranh Lạnh đã thay đổi tất cả. Chính quyền Truman và sau đó là Eisenhower, Kennedy, và Johnson đều nhìn nhận Việt Nam qua lăng kính ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản, được thể hiện rõ qua “Thuyết Domino” nổi tiếng của Tổng thống Eisenhower: “Nếu một nước Đông Dương rơi vào tay cộng sản, các nước xung quanh sẽ lần lượt sụp đổ theo”.

Từ năm 1961, Hoa Kỳ bắt đầu can dự trực tiếp hơn vào cuộc chiến tranh Việt Nam, với số lượng quân Mỹ đạt đỉnh điểm hơn 500,000 người vào năm 1968. Số liệu cho thấy, Hoa Kỳ đã chi hơn 168 tỷ USD cho cuộc chiến (theo giá trị hiện tại). Nhưng dù nỗ lực quân sự lớn đến đâu, Hoa Kỳ cũng không thể thắng. Khi Tổng thống Nixon đưa ra chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” vào cuối những năm 1960, “mục tiêu của Mỹ không còn là chiến thắng mà là rút lui trong danh dự”.

2. Giai đoạn 1995 – 2023: Từ bình thường hóa đến đối tác

Bước ngoặt lịch sử đến vào năm 1995 khi Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, một quyết định đầy chiến lược mà nhiều nhà phân tích cho rằng đã được chuẩn bị từ thời George H. W. Bush cuối thập niên 1980. Chính quyền Bush đã nhận ra rằng, dù chiến tranh kết thúc, Đông Nam Á vẫn là khu vực quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ, đặc biệt khi Trung Quốc bắt đầu trỗi dậy.

Trong bài phát biểu năm 1995, Clinton tuyên bố: “Bình thường hóa không chỉ để chữa lành vết thương chiến tranh, mà còn là sự nhìn nhận về tầm quan trọng của Việt Nam trong tương lai khu vực châu Á – Thái Bình Dương“. Quyết định này phản ánh một cách tiếp cận thực dụng: Mỹ cần một Việt Nam độc lập, kiên cường, có khả năng chống lại ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc.

Từ đó, quan hệ thương mại giữa hai nước phát triển nhanh chóng, với kim ngạch thương mại song phương tăng từ 450 triệu USD năm 1995 lên hơn 124 tỷ USD năm 2022. Việt Nam trở thành một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ tại Đông Nam Á. Điều này cũng dẫn đến sự hợp tác về an ninh, đặc biệt khi căng thẳng Biển Đông leo thang. Việt Nam dần trở thành một đối tác chiến lược quan trọng, nhưng sự khác biệt về thể chế chính trị vẫn là rào cản.

3. Từ năm 2023 đến nay: Đối tác chiến lược toàn diện và tương lai dân chủ hóa Việt Nam 

Ngày 10 tháng 9 năm 2023, Tổng thống Joe Biden và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã long trọng thông báo nâng cấp quan hệ Việt – Mỹ lên hàng “Đối tác chiến lược toàn diện”. Trong bài phát biểu, Biden ca ngợi: “Quan hệ giữa hai nước chúng ta là minh chứng cho khả năng vượt qua quá khứ và xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn“. Đây là bước đi lớn nhất trong ba thập niên kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ.

Nhưng tại sao Mỹ lại nâng cấp quan hệ với một Việt Nam cộng sản thay vì thúc đẩy thay đổi chế độ? Có hai yếu tố chiến lược quan trọng:

– Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương: Mỹ cần một mạng lưới đối tác mạnh mẽ để kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc, và Việt Nam có vị trí chiến lược quan trọng trong khu vực này. Câu chuyện này đã được cảnh báo từ cuối những năm 1980 khi các nhà hoạch định chính sách tại Washington dự đoán rằng Trung Quốc sẽ trở thành đối thủ cạnh tranh số một của Mỹ trong thế kỷ 21. Việc bình thường hóa với Việt Nam, từ thời Bush cho đến hiện tại, là một phần trong lộ trình dài hạn nhằm củng cố vị thế của Mỹ ở châu Á.

– Thực dụng chính trị: Thay vì tập trung vào thay đổi chế độ, Mỹ chọn hợp tác với chính quyền hiện tại ở Việt Nam nhằm đạt được những mục tiêu chiến lược lớn hơn. Điều này không có nghĩa là Mỹ từ bỏ giá trị dân chủ, nhưng là một sự điều chỉnh linh hoạt trong chính sách đối ngoại.

4. Dân chủ hóa: Sự tất yếu và sức mạnh niềm tin

Một câu hỏi lớn hiện nay là liệu Việt Nam có thể thay đổi chính trị và hướng tới dân chủ hóa hay không. Trong suốt ba thập niên qua, mặc dù Mỹ không công khai yêu cầu cải cách chính trị từ Việt Nam, nhưng nhiều dấu hiệu cho thấy sự chuyển đổi là điều tất yếu.

– Thứ nhất, lịch sử đã chứng minh rằng các chế độ toàn trị, dù mạnh mẽ đến đâu, cuối cùng cũng phải đối mặt với sức ép thay đổi. Như Tổng thống John F. Kennedy đã từng nói: “Những ai ngăn cản cách mạng hòa bình sẽ làm bùng nổ cách mạng bạo lực”. Câu chuyện về sự sụp đổ của Liên Xô vào năm 1991 là minh chứng rõ ràng cho điều này. Liên Xô, với hệ thống kiểm soát toàn diện, cuối cùng cũng không thể tồn tại trước sức ép cải cách và tự do hóa.

– Thứ hai, các phong trào dân chủ tại châu Á cũng là nguồn cảm hứng mạnh mẽ. Sự thành công của phong trào dân chủ tại Hàn Quốc và Đài Loan đã cho thấy rằng các quốc gia Đông Á, vốn có những giai đoạn lịch sử độc tài, cũng có thể chuyển đổi sang dân chủ mà vẫn duy trì được sự ổn định và phát triển kinh tế.

– Thứ ba, lực lượng trí thức trẻ Việt Nam, với sự tiếp cận rộng rãi với công nghệ thông tin và văn minh phương Tây, đã bắt đầu hình thành những suy nghĩ độc lập và mong muốn thay đổi. Đây chính là lực lượng sẽ dẫn dắt tiến trình dân chủ hóa trong tương lai.

5. Không có gì là không thể: “YES WE CAN”

Lịch sử quan hệ Việt – Mỹ không chỉ là câu chuyện của những biến động chính trị và kinh tế, mà còn là minh chứng cho sức mạnh của sự thay đổi và khả năng vượt qua quá khứ. Ngày nay, khi Việt Nam và Mỹ đã trở thành đối tác chiến lược toàn diện, tương lai dân chủ hóa tại Việt Nam không còn là điều không tưởng. Như Barack Obama từng nói: “Change will not come if we wait for some other person or some other time. We are the ones we’ve been waiting for. We are the change that we seek“. Nghĩa là: Sự thay đổi sẽ không đến nếu chúng ta chờ đợi người khác hoặc thời điểm khác. Chúng ta là những người mà chúng ta đã chờ đợi. Chúng ta là sự thay đổi mà chúng ta tìm kiếm.

Sự chuyển đổi dân chủ tại Việt Nam là điều tất yếu. Với niềm tin, sự kiên định và sự đồng lòng của thế hệ trẻ, Việt Nam sẽ có cơ hội vươn lên trở thành một quốc gia tự do, dân chủ và thịnh vượng. Và không có gì là không thể: “YES WE CAN”.

Bình Luận từ Facebook

4 BÌNH LUẬN


  1. Tiểu bang Chiến địa : Georgia thành Chiến trường
    *********************

    Bang Chiến địa : Georgia = Chiến trường
    Trong não bộ thâm tâm trăn trở vấn vương
    Georgia bang Chiến trường chiến địa

    Georgia suốt cả Hôm qua trong Tâm trường
    Bảy Tiểu bang Chiến địa quyết định Nước Mỹ
    Đi về đâu Hoa Kỳ trong Thời đại Nhiễu nhương ?
    Đi về đâu Nước Việt giữa Ngã ba – Ngã tư Đường ???

    Suốt cả Đêm qua Đêm trắng Anh trằn trọc mất ngủ
    Chỉ có Bài ca xưa cũ ngọt ngào thân ái yêu thương
    Georgia : tên Cố nhân hay Bang Chiến địa Đất Mỹ
    Georgia trong Tâm trường Anh một Thời Tư tương
    Chỉ có Khúc tình ca xưa cũ ngọt ngào thân ái
    Như Phù dung thôi miên ru ngủ nỗi đoạn trường
    Georgia giờ thành Chiến trường Tiểu bang Chiến địa :
    Đi về đâu Hoa Kỳ trong Thời đại Nhiễu nhương ?
    Đi về đâu Nước Mỹ cuối Thời Toàn cầu hóa điên dại ???
    Đi về đâu Nước Việt giữa Ngã ba – Ngã tư Đường ???

    TỶ LƯƠNG DÂN cảm tác nhân đọc báo hay tin

    Số người bỏ phiếu sớm bầu Tổng thống Mỹ vượt kỷ lục tại Tiểu bang chiến trường Georgia
    Năm nay 2024 lần này gần gấp đôi với 260.000 cử tri đã đi bỏ phiếu sớm với con số kỷ lục trong ngày bầu cử đầu tiên được ghi nhận vào năm 2020 chỉ với 136.000 cử tri…..

  2. “Ngày nay, khi Việt Nam và Mỹ đã trở thành đối tác chiến lược toàn diện, tương lai dân chủ hóa tại Việt Nam không còn là điều không tưởng. …. Sự chuyển đổi dân chủ tại Việt Nam là điều tất yếu.”

    Tác giả nên nhận ra rằng dân chủ hoá là vấn đề tương lai lâu dài do người Việt chọn lựa và quyết định thực hiện, không phải là điều tất yếu trong khuôn khổ đối tác chiến lược toàn diện.

    Nhưng thay vì lạc quan trong chiến thắng tất yếu của nền dân chủ, tác giả nên giải thích tại sao trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay không còn là điều không tưởng vì thực tế cho thấy là nền dân chủ tự do trên toàn cầu đang bị đe dọa. Ngược lại, Trung Quốc, Việt Nam và các chế độ độc tài khác lại thành công về mặt phát triển kinh tế. Nghịch lý này đặt ra nghi ngờ là các chế độ tự do dân chủ không thể mang lại thịnh vượng và công bình xã hội cho đât nước. Lịch sử phát triển của các nền dân chủ tự do theo kiểu phương Tây không phải là tất yếu, bởi vì không có hồi kết thúc. Vấn đề này không có giải pháp tuyệt đối.

    Do đó, tác giả cũng không nên kết luận quá sớm là “Sự chuyển đổi dân chủ tại Việt Nam là điều tất yếu.” mà phải thảo luận các vấn đề là dân Việt có hiểu dân chủ chưa, chính quyền có đồng thuận đi theo con đường dân chủ không hay chỉ tiếp tục độc tài đảng trị. Tất cả là chuỵện chưa xảy ra, nên tác giả không có lý do gì để phải kết luận trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam là điều tất yếu, mà phải thảo luận và chứng minh triển vọng này.

  3. Việt Nam dần trở thành một đối tác chiến lược quan trọng, nhưng sự khác biệt về thể chế chính trị vẫn là rào cản.”
    Sai. Hoa Kỳ không quan tâm đến thể chế chính trị của Việt Nam và lên tiếng nhiều lần là không can dự vào các quyết định thuộc về nội bộ hay thể chế của Việt Nam. Sự hợp tác hiện nay về chiến lược và kinh tế, tất cả đang tiến triển tốt đẹp và không có rào cản xuất phát từ sự dị biệt hệ thống chính trị của hai nước.

    “các phong trào dân chủ tại châu Á cũng là nguồn cảm hứng mạnh mẽ. Sự thành công của phong trào dân chủ tại Hàn Quốc và Đài Loan đã cho thấy rằng các quốc gia Đông Á, vốn có những giai đoạn lịch sử độc tài, cũng có thể chuyển đổi sang dân chủ mà vẫn duy trì được sự ổn định và phát triển kinh tế.”
    Sai. Các nước Đông Á luôn được ca ngợi về phép lạ kinh tế, như chủ trương xuất khẩu, không phải là do trào lưu dân chủ hoá. Gần đây, dân chúng Đài Loan và Hong Kong chống lại sự thống tri của Trung Quốc có nội dung khác hẳn.

    “lực lượng trí thức trẻ Việt Nam, với sự tiếp cận rộng rãi với công nghệ thông tin và văn minh phương Tây, đã bắt đầu hình thành những suy nghĩ độc lập và mong muốn thay đổi.”
    Sai. Suy nghĩ độc lập và mong muốn thay đổi bắt nguồn từ đến từ trình độ dân trí. Khi đa số dân chúng có ý thức về giá trị dân chủ và muốn trực tiếp tham gia đấu tranh cho dân chủ thì tiến trình dân chủ hoá mới khởi động. Hiện nay, tình hình tại Việt Nam chưa có một dấu hiệu nào để tác giả lạc quan như vậy.

  4. Xin lỗi là tác giả này hình như nhiễm bệnh lý thuyết (suông) của giới học giả
    Tây phương thì phải ? Vấn đề là hợp tác thật hay giả, trong gíới hạn đến đâu
    và bao lâu của các bên và có toan tính lợi dụng hay không ?
    Nếu trả lời là hợp tác diễn ra “ngoài mặt” theo kịch bản,có giới hạn thời gian
    cũng như không gian và mỗi bên đều có toan tính lợi dụng cả thì hợp tác đó
    không có ý nghĩa gì lắm để tác giả tin tưởng và hy vọng ?
    Câu khẳng định cuối cùng cho thấy tác giả khá ngây thơ khi muốn áp đặt ý
    chí của mình lên toàn hệ thống chính trị vốn bám chắc vào chiếc ghế quyền
    lực của họ bằng việc triệt hạ từ trong trứng nước bất cứ ai và tổ chức nào đi
    ngược với cách toàn trị của đàng Cs. ! Nếu trên 1 triệu người dân VN. xuống
    đường hành động thật sự chứ không phải chỉ muốn, để đòi hỏi thay đổi như
    ông thì may ra chiêc ghế thống trị mới có thể…lung lay ?

Comments are closed.