3C – Áp lực của đại thành công

  •  
  •  
  •  
  •  

Viet-studies

Nam Nguyễn

5-7-2021

Trích “Đông Âu Anh Hùng Truyện”

Năm 1987 anh Bùi Huy Hùng (BHH) từ Văn phòng Chính phủ về làm PGĐ của Intimex chỗ Trần Hưng Đạo. Anh phụ trách một trung tâm nhỏ (gồm Trung “gầy” – con trai vị cựu TGĐ, đi Tiệp về; Trung “phỉ” – con một vị thứ trưởng; Trung “béo” – con nhà quân đội, đi Liên Xô về). BHH vốn từng trợ lý cho ông Đoàn Trọng Truyến ở Ủy ban Vật giá, anh rất thạo các cơ quan ban ngành về cơ quan mới anh đẩy mạnh việc xuất nhập khẩu xe ô tô (hồi đó xe ô tô tay lái thuận hay nghịch gì nhập vào Việt Nam rồi bán sang Trung Quốc qua đường bộ đều lãi to!). Trung tâm phình lên đến gần sáu chục nhân viên, công việc rất chạy làm cho chị TGĐ tên Ngân khá “ngứa mắt” – chị ra lệnh thu gọn lại hoạt động của trung tâm này, lại trở về chỉ còn năm, sáu người như cũ! (Chị sau này ốm, đầu những năm 90 đã mất). Khó mà phát triển tiếp được ở đây, BHH nhìn quanh xem có những cơ hội nào khác không…

Những năm cuối 8X ấy doanh nhân nổi tiếng nhất miền Bắc có lẽ là Nguyễn Quang A. Một số nét cơ bản về anh Quang A: anh sinh 1946 là con liệt sỹ tại Bắc Ninh, được cử sang Hungary học ngành vô tuyến điện, ngay từ lúc đi đã làm các cán bộ tuyển dụng nhà ta rất ngạc nhiên vì đôi chân có cỡ quá khổ (rất khó tìm được đôi giày để anh chàng con nhà nông dân này xuất ngoại) và học rất giỏi. Anh chuyển tiếp luôn thành phó tiến sỹ, rồi 1975 về trường Đại học Kỹ thuật quân sự. 1982 lại sang làm tiến sỹ ở Hung rồi 1987 xin chuyển ngành, ra làm giám đốc Tổng cục Điện tử và Kỹ thuật Tin học Việt Nam. Anh A qui tập dưới trướng của mình được các bạn bè đàn em đều loại học giỏi bên Hung: anh Minh Song, Đô, Phan Tô Giang, Trần Việt Trung…

Bùi Huy Hùng – con rể tướng Nguyễn Văn Vịnh

Vào thời “trứng nước” của ngành điện tử – tin học của Việt Nam ấy anh A liên kết với công ty của Alain Monglo – một doanh nhân Pháp sang đây khá sớm và rất khôn khéo! Bên phía anh Quang A mua vài chục máy tính (PC 286) của phía Pháp để bán lại cho các cơ quan ban ngành trong nước, khá là có lãi, vì lúc đó nhà mình đâu có lựa chọn nào khác. Rồi Quang A trở thành giám đốc của một liên doanh với phía Pháp (Công ty Liên doanh Máy tính Việt Nam Genpacific) – báo chí toàn quốc tranh nhau viết về mức lương “cực khủng” của anh khi đó, là hơn 5000 USD/tháng bằng khoảng 100 lần thu nhập trung bình của kỹ sư ra trường, còn cao hơn lương của đại diện phía Pháp trong liên doanh. Liên doanh này vay được khoảng 1 triệu USD để nhập một dây chuyền lắp ráp máy tính khá thô sơ từ nước ngoài về – chủ yếu lắp ráp CKD thôi, ở Viettronics miền Nam, vay của Vietcombank Bà Rịa – Vũng Tàu. Năng suất cao đấy, mà các cơ quan chính phủ làm gì có tiền để mua, thế nên phải tìm đầu ra cho liên doanh này. Quang A được giới thiệu có Bùi Huy Hùng là người rất thạo việc xuất nhập khẩu, mới tìm anh Hùng để bàn việc bán máy tính sang Liên Xô (lúc đó là những năm cuối của “perestroika”, trước khi đất nước Xô Viết hoàn toàn sụp đổ). Lúc đầu 3C (hay đúng hơn Genpacific) cũng có của ăn của để rồi, mua được một căn nhà ở Hà Nội làm chỗ làm việc cho ban tin học và kinh doanh ở Trần Hưng Đạo, và một miếng đất to, giá rất hời trong HCM.

BHH đưa ra sơ đồ ngoạn mục để tiêu thụ máy tính “made in Vietnam”: bán sang Nga (giá khoảng 30 nghìn rúp/cái – rất cao, đã lời nhiều rồi) – mua đô la, vàng hay rúp chuyển nhượng đưa về nước. Lãi nhất là rúp chuyển nhượng: khi đó 1,8 rúp thường là mua được 1 rúp chuyển nhượng, nhưng trong các thanh toán giữa các quốc gia của khối SEV thời đó (là các nước XHCN trước kia đấy) nó được tính bằng 1,4 USD (hay 1 USD = 0,7 rúp chuyển đổi). Trong khi đó giá rúp thường trên thị trường rớt liên tục, mà bán vẫn lãi thì bán rồi đổi thành rúp chuyển nhượng là siêu lợi nhuận!

Nguyễn Quang A – người từng được trả lương cao nhất Việt Nam

Quang A bàn với Bùi Huy Hùng: những vụ việc lãi ít kiểu bán hàng trong nước thì để liên doanh bán cho có doanh số, còn những vụ lãi khẳm như xuất khẩu thế kia   phải đẩy   sang     cho một doanh nghiệp “của mình”   xuất đi, (nói đi cũng phải nói lại, thuế lợi tức doanh nghiệp hồi ấy cực cao, gần như là có lãi thì một nửa để đem đi nộp thuế, nên tìm cách giảm thuế phải nộp cũng có “cái   lý của nó” đấy!). Và thế là ra đời một doanh nghiệp     có cái tên rất thời thượng: Công ty Máy tính – Truyền thông – Điều khiển 3C hay gọi tắt là “3C” – cũng ít ai nghĩ rằng nó sẽ thành công nhanh rực rỡ chóng vánh đến vậy, mặc dù có những công ty đã ra đời trước đó rồi như C&N (các anh tài Dũng “tăm” và Thắng “Đạo” sáng lập), FPT (xem trong phần 1 của bộ ĐÂ AHT). Tất cả đều dựa vào quyết định 288 của Hội đồng bộ trưởng cho phép thành lập công ty từ các Hiệp hội (do TTg Võ Văn Kiệt ký).

Đó là năm 1989, tức là 3C thành lập sau FPT khá nhiều, nhưng nó có background là hoạt động của Quang A, BHH và đội ngũ, nên không ai coi nó là “lính mới “ cả. Cách chọn cổ đông, cách chia cổ phần do Quang A (chủ tịch) và BHH (Tổng giám đốc) khá tùy hứng: Tổng cộng các cổ phần là 100 triệu đồng Việt Nam, Quang A 39% cổ phần, BHH 24 %, Minh Song (bạn Quang   A, giám đốc chi nhánh Hà Nội, cũng học Hungary về) 6%, Thành (chồng chị Bình “Giáp” – phó giám đốc chi nhánh, cũng bạn Quang A) 6%, mười mấy người nữa cổ phần từ 2 đến 6%. Thực ra ông Chủ tịch đã có tính toán hết: anh A và 2 ông bạn kia (mà chắc chắn sẽ ủng hộ A trong mọi tình huống) đã chiếm được 51% rồi, nên luôn có số cổ phần áp đảo “trong túi” (điều này sẽ xảy ra mấy năm sau, khi A muốn truất ngôi TGĐ của BHH). Đội ngũ đa số từ Hung về: Trần Việt Trung, Phan Tô Giang, Trần Trung Dũng toàn những nhân vật học giỏi bên Hung – mỗi người 2% cổ phần. Lê Quang Trung (Trung “gầy”) phụ trách việc kinh doanh cùng với Quản Xuân Trung ở Intimex về nhưng lại không có cổ phần. Quản Xuân Trung (học Kharcov – Ukraina về) là người cuối cùng được cho trở thành cổ đông do một ông anh đáng nhẽ cũng được 1% nhưng là người nhà nước nên sợ, phút cuối xin rút, Trung “béo” được trám vào thế chỗ cho anh ấy, đóng bằng 1 triệu tiền “tươi”… Chính vì các việc định lượng cổ phần của các cổ đông hết sức bất cập này mà đó là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến việc 3C sẽ không tiến xa được! Ngay việc góp tiền cũng     đã rất “lộ cộ”, mỗi người góp một kiểu khác nhau và chả ai chịu công nhận ai: tổng vốn 100 triệu thì không cho Kiên “bạc” đóng cổ phần, anh Quang A đóng phần mình bằng cả máy fax, máy tính… mà nhiều cổ đông khác không chịu công nhận. Các cổ đông bé được đóng cổ phần bằng cách cắt luôn tiền thưởng kinh doanh từ Gen Pacific sang không cần hỏi ý kiến!

Khi đó anh em “tin học” ở nhà có một phát hiện quan trọng: sau những lô hàng đầu tiên bán sang Liên Xô thì anh em Việt Nam mới thấy rằng phía tây chả quan tâm quái gì máy tính “made in” ở đâu cả, khi đó cả người Việt, cả tây đánh hàng điện tử tin học bên Ba Lan về Nga rất nhiều, rất lãi, mà Ba Lan chả khác gì Việt Nam cả, chỉ lợi thế ở chỗ nằm ngay sát CCCP, còn hàng của Việt Nam phải bay máy bay sang, thế thôi! Tức là chả cần phải mua máy tính của liên doanh Gen Pacific với tay láu ca Alain Monglo nữa, mà đi nước khác mua rẻ hơn, chẳng hạn sang Singapore! Tay người Pháp này nghe được thế lập tức chạy sang Singapore mở trước một công ty, để sẵn sàng cung cấp máy cho thị trường cả Việt Nam lẫn Đông Âu…!?

3C tìm hàng để mua tại Sing (sau người Việt mới biết, mở công ty tại Singapore chỉ mất chi phí 2 USD thôi! Nhưng phải có văn phòng, có điện thoại, máy fax… không quen thông thổ không hề dễ – tay Pháp cũng chỉ thuê đúng một người bản xứ ngồi trực điện thoại với fax là xong). Và thế là hắn lại cung cấp máy tính “made in Singapore” cho 3C…

BHH đem theo sang 3C mấy “chiến tướng” của mình từ Intimex sang công ty mới: Trung “gầy” làm Phó văn phòng (làm việc “trông gôn” rất hợp) và Trung “béo” chuyên gia xử lý tình huống. Đầu tiên là phải có đại diện ra ngân hàng làm việc, nên mọi việc ấy giao Trung “béo” giao dịch, với chức năng “giám đốc kinh doanh” để còn ký tá được. Lúc đầu 3C xác định đóng thuế má đầy đủ, nhưng thời đó thuế thu nhập doanh nghiệp là 45%, mà tiền của 3C gửi ở Vietcombank lúc nào cũng cả triệu đô nên anh em bàn nhau cần phải “tối ưu hóa” cái khoản đánh thuế. Huỳnh Quang Tiến học CCCP trước kia nên được cử sang Matxcơva là đại diện bên đó, Trung “béo” được điều sang Singapore để xem chuyện mua bán hàng hóa. Và chính Trung “béo” phát hiện ra rằng đặt hàng máy tính bên Singapore cần quái gì phải nhờ công dân Pháp Monglo láu cá kia đâu! 3C thuê trụ sở ở 35 Tràng Tiền (cạnh chỗ bán kem), còn Confectimex cũng đóng ở phố đấy nhưng thuê trên tầng 2 của trụ sở Đảng Dân chủ, đối diện khách sạn Dân chủ. Confectimex (TCty May quốc doanh, đến 1995 mới sáp nhập cùng với “Dệt” sau) có TGĐ là anh Vũ Công Toàn nhưng người thực quyền điều hành khi đó là Nguyễn Đức Kiên – Kiên “bạc” là học viên quân đội bên Hung bị về nước sớm, nhưng tay này rất nhanh chóng hoà nhập được với môi trường ngành dệt may và thăng tiến rất nhanh, mới trẻ tuổi mà đã “vua biết mặt chúa biết tên”. Lúc này Kiên làm trợ lý cho ông Lê Văn Hồng giám đốc may Thăng Long, thấy 3C đánh máy tính có nhiều rúp chuyển nhượng nên Phan Tô Giang dẫn Kiên “bạc” qua đề nghị Quang A và BHH kết hợp Confectimex với 3C để đánh hàng bởi Confectimex có đầu phân phối hàng dệt may trong nước chẳng hạn sợi của Đông Đức. Ngân hàng MBES (tại Nga) là ngân hàng chuyên phục vụ cho các nước XHCN anh em thanh toán cân đối qua rúp chuyển đổi, do đó ở ngân hàng này (tại Matxcơva) mỗi nước có một đại diện ngân hàng được mở tài khoản, chẳng hạn Việt Nam có Vietcombank được mở tài khoản tại đây. “Rúp chuyển nhượng” thực ra chỉ tồn tại trên giấy, để tính toán khấu trừ chứ làm gì có đồng rúp thật như vậy đâu. Theo gợi ý của ông Đạm (Phó Tổng giám đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam khi ấy) thì 3C xin được mở tài khoản tại đây – lần đầu tiên và duy nhất có công ty tư nhân lại mở được tài khoản tại MBES, có lẽ lúc đó cũng “thoái trào”, Liên Xô sắp tan rã nên mọi sự kiểm soát cũng lỏng lẻo hơn. 3C có thể thu rúp chuyển nhượng bằng cách bán máy tính, nhưng không được đảm bảo đầu   ra (do Bộ Tài chính chỉ đảm bảo mua 10 triệu từ phía 3C) nên nếu dùng rúp chuyển nhượng thu được thông qua tài khoản MBES của 3C thanh toán thì giải quyết được vấn đề đầu ra của đống rúp này. Chính vì vậy mà Liên danh 3C- CONFECTIMEX ra đời nhờ sự kết nối của Kiên “bạc” với ông Toàn, và vai trò của Kiên bạc bắt đầu lên.

Khi đó ngoài các ngân hàng nhà nước ra mới chỉ có 2 ngân hàng cũng là vốn nhà nước chiếm đại đa số nhưng có yếu tố doanh nghiệp. 3C bàn với FPT hợp lực các mối quan hệ cùng nhau đi “xin” giấy phép thành lập ngân hàng thương mại cổ phần, hồi đó là một điều cực khó! Việc lập ngân hàng Hàng hải do 4 người khởi xướng là Chu Quang Thứ (Tổng cục phó, sau là quyền Tổng cục trưởng Tổng cục hàng hải rồi về hưu), Trương Gia Bình (FPT), Nguyễn Đức Kiên, Lê Vũ Kỳ – nhưng ý tưởng thuộc về anh Nhơn Tổng cục trưởng. Cuộc “họp” diễn ra buổi tối tại nhà đại tướng Võ Nguyên Giáp, trên nóc hầm tăng-sê cũ (bởi vì anh Bình khi       đó là rể trong nhà, vẫn sống ở khu nhà ngang tại số 4 Hoàng Diệu). Cần phải có người có uy tín để tác động thì khi đó đã có chính anh Đạm rồi. Bởi các anh bên Tổng cục hàng hải là người đầu tiên đề ra ý tưởng này nên cuộc họp quyết định mời bên Hàng hải tham gia, rồi cả Hàng không, Bưu điện cùng tham gia nữa, mỗi bên 10%. Và thế là Ngân hàng Hàng hải ra đời sớm nhất, sớm hơn cả ngân hàng Kỹ thương Techcombank (của cao thủ Vinh “đen”) và ACB (“ngân hàng Á châu” của Trần Mộng Hùng với Kiên “bạc” – lập ra nhờ vào sự ủng hộ của ông Lê Huy Côn khi đó là thứ trưởng Bộ Công nghiệp). Ai ngờ qua bao thăng trầm rồi sau này Ngân hàng Hàng hải rơi vào vòng kiểm soát của Trần Anh Tuấn (Tuấn “chợ” – sinh viên Nga về, cũng ra đi từ trường đại học Mỏ-Địa chất MGRI danh tiếng, là “cái nôi của các tỷ phú Việt Nam” sau này) dễ dàng đến thế, quá ngon lành! Nhưng thôi đó là chuyện mãi về sau…

3C háo hức bắt tay vào việc, và ngay lập tức tiến hành được mấy vụ làm ăn rất đình đám:

–    Vụ mua máy bay: 1 IL-18 và 5 Tu-134 đã qua     sử dụng, mua từ Đông Đức bằng rúp chuyển nhượng, nguồn rúp là của Confectimex (Dệt   May) chứ   lúc này 3C có tài khoản nhưng chưa có tiền. Chính cụ     Đỗ Mười giao cho Confectimex phải đi tìm nguồn việc cho mấy trăm nghìn công nhân ngành may toàn quốc khi đó, mà Việt Nam còn đang bị Mỹ cấm vận, nguồn nguyên liệu vải sợi eo hẹp lắm. Ông Tá – thứ trưởng Bộ Tài chính khi đó – thay mặt chính phủ cho phép Confectimex chuyển rúp chuyển nhượng sang   tài khoản của 3C để trả cho Đông Đức (DDR). Khi đi đàm phán Kiên “bạc” chưa có bất cứ một kinh nghiệm hiểu biết gì về việc mua bán, kinh doanh tàu bay (là việc sau này trong đời anh còn phải làm không chỉ   một lần). Thế nhưng lúc này có lẽ Đông Đức cũng muốn tống khứ mấy chiếc máy bay cũ này đi rồi, nên đàm phán thống nhất với mức giá trung bình 85 nghìn USD/chiếc. Đem về bán lại cho Hàng không Việt Nam giá trung bình 100 nghìn USD/chiếc (Bộ Tài chính phải duyệt giá bán này), thế cũng tưởng có lãi đủ dùng rồi, hóa ra sau đến 2 năm Bộ Tài chính mới thanh toán đủ để 3C trả lại cho Confectimex…

– Mua đúng 1000 chiếc máy tính từ Singapore đánh sang Liên Xô. Lấy tiền 250 triệu rúp mua mười mấy triệu USD sợi về, đủ dệt mấy chục triệu mét vải, hồi đó là lượng hàng rất lớn! Chuyện mua sợi rất “hồi hộp” đấy, lúc đó anh chị em 3C cứ đoán già đoán non, là chuyển tiền đi liệu có hàng về không, khi đó đúng ngày 30/12/1991 rồi, Tết nhất đên nơi mà khối XHCN cũng chả còn được mấy bữa nữa. Tất nhiên là có vận đơn rồi mới cần chuyển tiền, nhưng đã có ai thấy hàng hóa thế nào đâu. Có lẽ đây là lần Bùi Huy Hùng thể hiện bản chất “tướng thời loạn” xuất sắc của mình: anh quyết định cứ chuyển tiền đi, với lý do “có mất thì sẽ chỉ mất độ hơn triệu USD, còn nếu thu về thì được gấp chục lần như thế cơ mà, phải liều thôi!”. Quả là liều lại thắng lợi, 6000 tấn sợi được “đánh” về cảng HCM, tìm mãi mới có chỗ gửi tại kho X28 còn sợ bị cháy… Kiên “bạc”   và Vinatex phân phối cho biết bao nhiêu cơ sở dệt trên toàn quốc, chủ yếu ở phía Nam, lãi to, nhưng cũng giúp duy trì được hàng chục ngàn lao động. Confectimex trả vốn cho 3C, đóng thuế và lời thì chia nhau theo tỷ lệ: 3C 30%, Confectimex 70%.

Sau này không còn XHCN và những nguồn nguyên liệu này nữa thì mối cung cấp vải sợi sẽ nằm hầu hết     ở trong tay các ông chủ “ba Tàu” chợ Lớn, lũng đoạn toàn bộ thị trường. Và nhà máy sản xuất sợi Đình Vũ ra đời với mục đích phá thế độc quyền này của người Hoa đã thất bại thê thảm, trở thành một trong 12 dự án nghìn tỷ đắp chiếu của dầu khí nước nhà, gây hậu quả cho tới bây giờ chưa xử lý được, nguyên TGĐ Vũ Đình Duy tuy bị khởi tố mấy tội danh nhưng chưa bị bắt về, mặc dù cũng trốn ở Đức như Trịnh Xuân Thanh và sống sờ sờ ra đấy…

–    Vụ mỏ đá Nghệ An: Khi cuối những năm 80 đầu 90 đó ở Nghệ An đang rộ lên phong trào khai thác đá quý (bắt chước Bắc Giang có Lục Ngạn) nhất là ở vùng Đồi Triệu, Đồi Tỷ. Đỉnh điểm có lúc đồng thời 60 nghìn con người tranh nhau đào bới khai thác, có cả các doanh nghiệp của công an, TC, bộ đội… cũng chen vai thích cánh với các đội tư nhân quen làm “bưởng” để đào bới. Để phần nào giải quyết tệ nạn này tỉnh Nghệ An đã cho đấu giá một mỏ đá quý Núi Triệu. Rất nhiều “anh tài” đã rớt đài, chỉ có 2 đơn vị tham gia vòng cuối: một là liên quân 3C-Confectimex-Công ty Dịch vụ du lịch Nghệ An (do anh Thịnh làm giám đốc); hai là công ty do Cao Sơn (một “tay to” cũng ở Hà Nội, hay khoe là cháu một lãnh đạo cao cấp của nhà nước). Thịnh dẫn dắt liên danh thắng gói thầu này, anh chàng này vốn là lái xe cho đội bóng “Sông Lam Nghệ An” thế nào mà trở thành giám đốc một công ty lớn của tỉnh. Thịnh có biệt tài quen biết khắp nơi, cả tỉnh không có ai lạ gì anh ta nên mới thắng sát nút được Cao Sơn – một nhân vật rất thâm trầm và khi đó đã có nhiều tiền lắm rồi, làm Cao Sơn cứ cay cú mãi…

Hồi đó 3 bên góp vốn tổng cộng 6 tỷ (chính xác hơn là 5,7 tỷ). BH Hùng thay mặt 3C ném tiền vào dự án này, Kiên “bạc” góp 1/3, nhập một dây chuyền của Thái Lan về phun nước, gột rửa đất chứ chưa mua đến giai đoạn 2 là dây chuyền nâng cấp được đá thu mua lên. Nhưng rồi đá được khai thác thử không được đánh giá là “quý” lắm – 3C giao cho anh Nguyễn Thanh Toại phụ trách vụ đưa đón chuyên gia Thái Lan sang HCM để thẩm định giá cho lô đá – đại diện Thái Lan ở trong biệt thự mênh mông của 3C mua ở phố Trần Khắc Chân, HCM rồi có sự vụ khá tế nhị xảy ra ở đó vui lắm, nhưng đá đánh giá thì “non tuổi”. Đã có lần Đức (đại diện 3C ở Thái Lan) đón cả loạt các vị Thịnh, Quang A, BH Hùng, Kiên “bạc” sang và cầm mẫu mã sang thử, đến cái nhà xưởng của chúng nó khai thác và chế tác rộng mênh mông mà ấn tượng mãi…

Mỏ vẫn có giấy phép cho tới ngày hôm nay.   Anh em 3C chỉ được một ít trải nghiệm về việc phải đem tiền đi mỏ, đem sản phẩm về cũng khá là nguy hiểm bởi cướp giật cũng như công an để mắt tới nhiều lắm. Kiên “bạc” có lần tự lái xe vào để Thịnh thanh toán – thanh toán bằng vàng non tuổi nặng trĩu cả đít xe.

Đầu tư tiền vài trăm nghìn, thu lại rả rích chỉ vài nghìn – dự án này èo uột cũng giống với việc BH Hùng đánh hàng may mặc sang cho người nhà ở bên Tiệp, không hiệu quả! Hơn nữa nó gây bất đồng chính kiến trong các cổ đông 3C rất nhiều: nhiều người nhận “đá” rồi xong ai cũng thông báo là chất lượng kém, bán chả được bao nhiêu tiền… mà ai cũng nghĩ đá của người khác nhiều và “ngon” hơn đá của mình – làm gì chả đổ vỡ. Phạm Quân (học viên thủy thủ ở Baku – Liên Xô cũ, sau này ra quân và làm tại Gen Pacific rồi Quang A kéo sang 3C – hiện nay anh là chủ công ty phần mềm “Tiền Phong” khá nổi tiếng) khi đó đã phải kêu gọi: “Thôi các anh dừng tay, đừng thi nhau ăn cắp của chính mình nữa!”. Quả là lúc đó rã đám rồi, chả ai nghĩ đến cái gì lâu dài được nữa… Thịnh “Nghệ An” vẫn kiên trì làm “đá” cho tới mãi sau này, và đã trả được hết nợ nần đối với 3C cũng như Kiên “bạc”.

–    Kinh doanh viển vông: dưới sự lãnh đạo của Quang A công ty 3C còn theo đuổi một số dự án khá viển vông, tất nhiên là không đi tới đâu. Chẳng hạn:   dự án nạo vét bãi giữa sông Hồng lập đô thị mới mất khoảng 250 triệu đồng…

–    Các hoạt động kinh doanh khác: bởi vì làm với Đông Âu nên thời đó 3C cũng có các hoạt động kinh doanh chả khác gì FPT, Merfimex (Nguyên “béo”, anh em Thành-Công), Dũng “VIT” (thực ra VIT là công ty của Dũng “tăm” lập ra rất sớm, từ 84-85 bên Liên Xô cơ, rồi khi Liên Xô tan vỡ 1991 VIT chính thức ra đời bên Nga, sau đó mới đầu tư ngược về Việt Nam như ta thấy sau này), Giang “đo lường”, anh em Nam “sắt”, Cotec… Phòng kinh doanh do Tiến Anh (học ở Bungari về) phụ trách, suốt ngày lăn lộn ở cảng Hải Phòng để chờ nhận hàng rồi đem bán. Các công ty trong nước buôn thép có tiếng thời đó là Vạn Lợi, Nam Vang… chỉ chờ hàng của anh em Liên Xô về để mua mà kinh doanh thôi, cũng giàu to! Thế nhưng 3C có các thế mạnh khác, nhiều “tướng” quá nên kinh doanh chỉ tầm tầm vậy thôi, chả mấy người quan tâm. Ngay Tiến Anh cũng là cán bộ trẻ, về nước đương nhận lương nhà nước 300.000 VNĐ/tháng được chính ông Lê Xuân Trinh (khi đó là chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ) dẫn đến giới thiệu với 3C, và Kiên “bạc” là người nhận vào làm (còn thử 3 tháng không lương nữa cơ!). Sau này Tiến Anh cũng như các đàn anh Trung “gầy”, Phan Tô Giang, Trung Dũng về làm dưới trướng Kiên “bạc” ở công ty cổ phần Thiên Nam, còn một số về ACB với Kiên như Lê Vũ Kỳ, Nguyễn Thanh Toại, Huỳnh Quang Tuấn…

Nguyễn Đức Kiên (Confectimex) – lúc chưa có ACB, lịch sử ban đầu của 3C gắn với nhân vật không 3C này

Cũng nên nhớ lại các hoạt động của bộ phận tin học của 3C – thời đầu các năm 9X 3C có bộ phận khá đông, ngồi ở Trần Hưng Đạo để làm tin học, đội hình đó về thành phần và lực lượng con người có lẽ còn mạnh hơn FPT cùng thời nữa đấy. Thế nhưng có lẽ khá “xông xênh” và luôn có “bao cấp” của các thương vụ tiền tỷ khác nên bộ phận tin học của 3C không “sát ván” được như bên FPT… Ước mơ của anh Quang A là khá giống với FPT: xuất khẩu phần mềm Việt Nam ra nước ngoài, tuy vậy như nhiều trường hợp khác anh A không đủ kiên trì cũng như tài quản lý để theo đuổi mục tiêu đối với anh là “nhỏ”.

Đáng nhớ nhất là giải pháp bảo vệ do 3C nghĩ ra – Trần Việt Trung cho đội ngũ sáng chế ra bộ phận “khoá” sao cho càng an toàn càng tốt, dùng “khóa” cả phần cứng lẫn phần mềm, mất đâu 6 tháng hay là hơn gì đấy thì ra sản phẩm. Để kiểm tra chất lượng trước khi tung ra thị trường Trung cho đưa sang cho Phan Tô Giang “phá khóa” – hạn là một tuần nhưng mới 3 ngày Giang đã phá ngon ơ, xứng danh “trùm phá khóa”. Thế mà     đó hình như là sản phẩm duy nhất của 3C bán được ra nước ngoài, thu được ít tiền về lắm, chả đủ nuôi quân nhưng dù sao cũng còn có chút tự hào… Vì thế con đường tin học của Quang A và 3C coi như chỉ buôn máy tính rồi chấm hết, còn Trần Việt Trung chán   quá sang Nga “đánh quả”! FPT quyết tâm mơ bằng được giấc mơ “công xưởng sản xuất phần mềm cho thế giới” – họ theo đuổi mãi rồi cũng thực hiện được, duy trì được mãi cho tới ngày nay, mặc dù mang tiếng là “gia công”, là “hàm lượng chất xám ít lắm”… nhưng phải nói rằng ít nhất cái đó cũng đem lại công ăn việc làm ổn định cho hàng chục ngàn lập trình viên nước nhà!

Sau một số lần kết hợp khi đó có các tay chơi máu mặt đưa ra một quyết định khá giống cảnh “vườn đào kết nghĩa” của Lưu-Quan-Trương để lập ra “G5”: Trương Gia Bình và Kỳ “béo” (RosVietimex), C&E (Thắng “Đạo” và Dũng “tăm”), Kiên “bạc” (Confectimex) – nhưng các thoả thuận của G5 đều không được chấp hành nghiêm chỉnh cả, đơn giản là toàn những nhân   vật quá “khôn” để mà có thể tin tưởng vào nhau. Có những thoả thuận kiểu như “rúp chuyển đổi dưới 0,7 đô là thống nhất không bán nhé” – nhưng vừa chém tay thống nhất xong ai cũng phím cho đàn em tung ra bán khẩn cấp dưới giá đàm phán… Nói chung là chả được cái việc gì.

(Nói thêm một chút về nhân vật Thắng “Đạo”: anh làm nghiên cứu sinh bên Ba Lan, có bố khi đó là chủ tịch Quốc hội nên mới có nick name như vậy. Anh có một ý tưởng phải nói là đi trước thời đại khá nhiều: đó là “đổi đất lấy hạ tầng”. Ý định của anh gắn liền với địa điểm mà sau này chính là đường đôi Trần Khát Chân – anh nghĩ ra việc mua hay đền bù đất của dân, rồi mở rộng đường ra, đất bên trong trờ thành mặt tiền sẽ rất có giá trị, bán đi thừa tiền để xây hạ tầng nơi con đường tương lai sẽ đi qua! Nhưng đáng tiếc là cuối cùng tư nhân không được triển khai, mà thành phố Hà Nội đứng ra làm! Thắng “Đạo” đứng ra vay 1 triệu USD của 3C và Kiên “bạc” trong vòng 1 năm, sau đó hình như chỉ trả được một nửa, phần còn lại vẫn nợ cho tới tận ngày nay… và anh rất ẩn dật (đọc thêm phần có anh ở bài khác!)

Nguyễn Chí Dũng – Tập đoàn VIT thành lập ở Nga từ 1991, hoạt động chính ở Việt Nam

Anh Thắng thời đó làm chung với Dũng “tăm” – anh Dũng học xây dựng ở Kiev, sau quay sang làm với   Liên Xô   cũ rất thành công về việc mua bán khí tài cho quân   đội, nhưng   rồi bị mafia Nga sờ gáy… Sau này anh về   nước hẳn, đầu tư công ty và kênh truyền hình VIT, mấy nhà xưởng   may gia công   trên đường đi Nội Bài và rất nhiều đất cát ở vùng Quan Lạn, Quảng Ninh… cũng là nhân vật rất “mạnh” nhưng khá kín tiếng).

Trung “béo” đi Sing đánh hàng may mặc sang Mat cho Trần Việt Trung đầu bên Nga, không happy lắm. Rồi lại sang Mat để thay Huỳnh Quang Tiến làm đại diện bên đó – Trung “béo” phát hiện ra cách chuyển tiền chính thức đầu tiên từ bên Nga về nước, tức là   chả phải nhờ hay thuê ai “ôm” tiền hay vàng đem về Việt Nam nữa, mà dựa vào hoạt động của hệ thống ngân hàng Nga khi đó bắt đầu kết nối với hệ thống ngân hàng thanh toán quốc tế được rồi. Mà bây giờ Liên Xô sụp đổ, không còn cái “võ” đóng thùng hàng container cá nhân nữa, nên nhu cầu tiền chuyển về, chuyển đi nhiều lắm! Trung “béo” biết được cũng nhờ đã ở một thời gian bên Singapore, biết rằng Sing bán vào Việt Nam khá nhiều hàng nên cần rút được tiền ra, còn Nga đang cho gửi tiền ra theo hợp đồng thương mại, có thể chuyển thằng về ngân hàng ở Sing. Kiếm được mấy chục nghìn đô khi đó thấy làm mãn nguyện lắm rồi, anh cũng là dân Kharcov chứ không thông tỏ Matxcơva như các “đồng chí” khác, sau này mọc ra rất nhiều các “đội” chuyên môn làm “tài chính” – nôm na là chuyển ngân về nước hay sang Ba Lan, sang Tàu. Trần Việt Trung cũng ở Mat đánh hàng, kiếm được kha khá đến tầm 1995 mới theo trào lưu các đại gia đã có lưng vốn rút về Việt Nam.

Trần Việt Trung – dân toán Hungary, sáng lập viên Công ty Đầu tư tài chính TOGI (hay bị anh em gọi đùa là “công ty Tốt Gì”)

3C danh tiếng nổi như cồn. Đầu tiên là mua một lô căn hộ tập thể lắp ghép thôi, cho cán bộ của mình đằng sau Seaprodex Hà Nội, sau này mọi người quen gọi   là “tập thể 3C”. Quang A nói không ngoa, là lúc đó mà muốn thì có khi mua được cả phố Lý Thường Kiệt… BHH đưa 3C lên Đại   Lải, có lẽ là đơn vị đầu tiên nghiên cứu để khai thác khu vực này. Trên đó có vườn tượng do Phạm Văn Hạng sắp xếp. Dũng “Hội” là em BHH vốn KTS đã vẽ ra quy hoạch, chỗ này sân đỗ máy bay, chỗ kia khu nhà đón khách… nói chung bề thế lắm. Hình như bây giờ đất của 3C vẫn còn ở trên đó kha khá, có chia cho các anh chị em… Văn phòng thuê trên phố trung tâm Tràng Tiền, rất đẹp đẽ, có cả dàn máy tính lúc nào cũng bật sáng lập loè để “phô trương thanh thế” thôi chứ có công to việc lớn gì lắm đâu, thời đó Việt Nam còn chưa có internet mà! Chủ yếu là chơi Solitare và Tetris, nhưng khách lạ đến cấm sờ vào, kêu là “virus”. Lúc nào cũng có rượu ngon, thuốc thơm, khách khứa dập dìu, chiều chiều bác Đạm phó thống đốc đi bộ tà tà từ Ngân hàng trung ương qua, hay ông Nguyễn Nhạc tạt vào chơi… phong độ kinh khủng (cái mà FPT của Bình lúc đó thấy còn rất thiếu và khá “tự ti”). Biệt thự lớn ở HCM sau này bán đi cũng lãi ra được 1 triệu USD. Nguyễn Cẩm Tú con bác Nguyễn Mạnh Cầm nhà ngay Ngô Quyền gần đấy đang từ Ban Kinh tế trung ương xin về 3C làm trợ lý cho Tổng Giám đốc BHH mấy tháng, rồi mới lại chuyển – anh lại chuyển về Intimex thay vào vị trí anh Hùng ngày trước, sau này lên làm thứ trưởng Bộ Công thương. Trần Hùng vốn tốt nghiệp công an, lúc đầu về PA15 phụ trách các điểm dành cho người nước ngoài ăn chơi như Câu lạc bộ quốc tế… sau về Ban kinh tế với anh Tú “béo”, cũng muốn chuyển sang 3C để làm ăn, nhưng anh em 3C e ngại là an ninh nên duỗi ra, thế rồi Trần Hùng về Bộ Công nghiệp, về trung tâm tư vấn Forincon sau này cũng khá đình đám một thời… Đội ngũ 3C tập hợp được khá nhiều gương mặt sáng giá, ngoài những cái tên kể trên còn có thể kể tới chị Hương kế toán trưởng, con gái cụ Vũ Đình Huỳnh, sau này có thêm Phạm Hồng Quân – “ngôi sao” bên hải quân chuyển sang, vì có đi học lớp chính trị cao cấp với BHH nên được mời về cùng làm,   nhưng lúc ấy 3C cũng bắt đầu thoái trào. Hiếu – giáo viên trường quân sự, sau chuyển sang làm đồ gỗ. Trong nam có Thoại sau về ACB, Đoàn Vịnh sau về FPT,…

Quản Xuân Trung – ngày nay doanh nhân này còn là một võ sư xuất sắc và ca sĩ không tồi. Rất giống tượng Phật Di Lặc…

Nhưng rồi “ngày vui ngắn chẳng tày gang”. Đầu tiên là cái nạn “trốn thuế”. Thời đó luật doanh nghiệp, luật thuế còn mông lung lắm, mỗi lần có thuế kiểm tra thì việc đầu tiên là để mấy chị như chị H. kế toán “nghỉ ốm” ngay đã, để Trung “béo”, Trung “gầy” ở lại đối phó, nghe xem có lỗi gì không để còn đối phó. Nhiều khi thuế cũng chả biết hồ sơ, chứng từ thế có sai đúng gì không, chỉ biết trong tài khoản nhiều tiền quá, hoá đơn lớn quá… thì phải “soi” thôi. Có những đợt chả biết đúng sai thế nào, nhưng cục thuế hụt kế hoạch của năm cỡ tám trăm triệu, đề nghị 3C “hỗ trợ” – thế làTrung “béo” thay mặt 3C được quyết luôn, trả ngay thuế 1 tỷ, với giấy cam kết từ phía thuế là không đào bới, truy thu khoản nào nữa trong năm… Thế rồi đến lúc các sếp Quang A, BHH hay phỏng vấn, lên báo đài chém gió dữ quá, bắt đầu tới lúc báo chí rồi công an vào cuộc. Báo chí khởi đầu lại là một cậu bạn quen ở Kharcov, về làm ở báo, vào làm mấy loạt bài… dẹp mãi mới xong. Một ngày kia Bùi Huy Hùng đi từ ngoài về thấy Trung “béo” đang phải tiếp mấy anh bên PC16 “kinh tế” sang làm việc, chắc mới làm mấy chén nên nóng mắt, đứng giữa văn phòng chửi đổng CA không cho doanh nghiệp làm ăn yên ổn. Sáu “béo” bên công an giận lắm, hầm hầm bỏ về, y rằng sau đấy PA24 vào cuộc, có lệnh khởi tố 3C về việc trốn thuế “25,1 tỷ” – là con số khổng lồ thời đầu những năm 90 ấy. Mặc dù con số ấy chả liên quan gì đến thực tế kinh doanh của 3C cả, nó được tính ra từ tiền lãi 56 tỷ buôn sợi, mà 3C còn phải chờ dài cổ từ Bộ tài chính để trả cho Confectimex cơ mà…

BHH khá cuống, mới gọi đàn em Trung “béo” khi đó đang ở bên Nga, xem nên ứng chiến kiểu gì. Trung phân tích cho đại ca: bây giờ anh với vợ con bay sang đây đi, nếu xuất cảnh bình thường được thì chứng tỏ việc không có gì quá xấu, đi một thời gian rồi về. Còn nếu anh không được xuất cảnh thì hiển nhiên là xấu lắm rồi, nhưng cũng nhờ thế mà biết mức độ “ốm” mà chạy thuốc thang… Thế là BHH đem cả vợ con sang Matxcơva, ở mấy tháng hè bên đó – lúc bay bình thường, chứng tỏ vụ án “trốn thuế” cũng không quá nặng nề. Nhưng mấy tháng ở bên đấy cả Hùng lẫn Trung có biết đường xá, phố phường gì đâu, có cái xe ô tô cứ đi lọ mọ lạc suốt, đâm ra hay hục hoặc với nhau… thế là Trung xin nghỉ luôn ở 3C!

Ông Nguyễn Kỳ Cẩm – Phó Tổng thanh tra chính phủ thừa lệnh của Thủ tướng – đọc báo cáo trước Quốc hội, gọi   đây là   dự án   trốn thuế   lớn nhất Việt   Nam từ trước tới nay. Bộ Tài chính và Bộ Công an khen thưởng công an Hà Nội đã “phá án” thành công. BHH “té” ngay sang Nga làm 3C và Confetimex bị điều trần. Ông Đặng vụ trưởng vụ công nghiệp Ban Kinh tế TW được ông Phần – Phó chủ tịch Quốc hội – giao làm tốp trưởng để xem xét vụ việc. Quang A vác đơn đi kiện, lên tận Chủ tịch nước. Rồi chính ông Phần với tư cách Phó chủ tịch Quốc hội gửi văn bản cho chính phủ về việc đánh giá trốn thuế là sai! Sau đấy Thủ tướng phải nhận sai. Thủ tướng kết luận là sai, giao cho ông Lê Xuân Trinh khi đó là Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ ra thông báo, trong đó chỉ có 2 dòng:

–    Công ty 3C không trốn thuế.

–    Confectimex không trốn thuế.

Nhưng bởi công văn ông Trinh ký có dấu “mật” nên 3C và các bên khác loay hoay mãi mới có thể đăng báo được, khi đó cần đăng lên báo Nhân Dân vẫn đang là tờ đại chúng nhất.

Vụ án “trốn thuế” này thấy “giang hồ” đồn thổi là đòn đánh của FPT đối với 3C, đúng hơn là của Trương Gia Bình vào 3C. Bây giờ lâu quá rồi để có thể khẳng định lại việc đó, nhưng có nhiều người cùng chung ý nghĩ như vậy, bởi nó khá giống vụ việc sau này với Đồng Nam của Thiều và Hà Kiều Anh mà kết cục thê thảm hơn nhiều. Nhưng những ai thực sự hiểu con người của anh Bình FPT thì lại nghĩ khác – Bình vốn không phải là người của các hành động cụ thể, nhất là lại còn phức tạp nữa… Cuối cùng thì vụ việc cũng qua đi, 3C chẳng làm sao cả, BHH rồi cũng nhanh chóng về nước như Trung “béo”, nhưng từ đấy có vẻ như 3C không làm được việc gì ngoạn mục nữa hay sao ấy?

Lịch sử 3C cũng gắn với VPBank từ 1993…

Thời đầu những năm 90 có ba anh em nhà kia nổi tiếng vì học giỏi và buôn bán rất mạnh dạn: Ái “dòi” – Nam “hói” – Hoà “hói” đều đã từng học và buôn bán   ở Nga, lại thêm ông em rể đại diện Bộ Thương mại     bên Viễn Đông (Nga) vốn xuất xứ là người FPT Nghĩa “đen” nữa mới đủ bộ. Sản phẩm họ thường “đánh” về nhất là sắt thép, nên Nam “hói” còn có tên gọi là Nam “sắt”, anh sang Nga để làm ăn lớn mặc dù học Bách khoa chứ không học Liên Xô như các người anh em   của mình. Trên máy bay về nước Nam “hói” gặp và       rủ Trung “béo” về làm cho mình ở công ty NAT – “nát” như anh em sau này vẫn hay đùa. 1995 khi các đại gia lục tục có mặt hết ở Hà Nội thì khi đó VP Bank là nơi trú chân ngoạn mục. Anh em Đông Âu về có kế hoạch lập ra một ngân hàng thương mại cổ phần nữa, với tên rất thuận lợi: Ngân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (VP Bank), 3C là đầu tàu cho việc sáng lập này, với người đủ uy tín để có thể lo việc xin giấy phép đó là ông Hoàng Minh Thắng (Chủ tịch Hiệp hội các doanh nghiệp ngoài quốc doanh khi ấy, còn cháu cụ là Nguyễn Hoài Nam khi đó làm cho 3C tại phía nam, sau này lấy hoa khôi thể thao Thu Hương). Hàng loạt các đại gia tham gia vào ngân hàng này: ngoài Quang A, Bùi Huy Hùng, Trần Việt Trung của 3C còn có Tuấn “chợ”, Dũng Tiến “Crisstal”, Lê Tiến Nam (Nam “Ngân” cháu ông Chu Huy Mân”), Lê Hoài Nam (Nam “hói”), Nguyễn Tiến Long (Long “le”) – toàn các đại gia một thời ở bên Nga về. Lúc này Phan Tô Giang, Lê Vũ Kỳ, Trung “gầy” đã theo Kiên “bạc” sang làm cho ACB và Công ty cổ phần Thiên Nam rồi. Việc anh Quang A và BH Hùng sang hết bên VP Bank khiến cho 3C hầu như hoạt động đình trệ hết tất cả lại, đó là chưa kể Quang A và Trần Việt Trung còn lập ra các công ty mới nữa như TOGI, hoặc đi làm nhà máy xi măng … coi như bỏ mặc 3C luôn. BH Hùng là Tổng giám đốc VPBank thì quản lý lỏng tay, để cho các cổ đông lợi dụng dùng cổ phần của mình và một số cơ sở để thế chấp cho vay tứ tung cả, dẫn đến việc vốn 175 tỷ đồng thì nợ xấu gấp 5 gấp 6 lần rồi, cộng thêm 50 triệu USD cam kết với nước ngoài (do các doanh nghiệp ký hợp đồng mở tín dụng thư trả chậm nhưng không thể trả) chưa trả được. Các cổ đông ngày ngày lên vay tiền ở chính ngân hàng mình để lo nhập khẩu hàng, còn tối tối lại tập trung   ở sàn Queen Bee uống rượu và bàn tính sự đời tiếp. Rượu chảy như suối, rượu vào lời ra, toàn những lời hay ý đẹp, chân lý cuộc đời, rồi anh em FPT kéo sang, anh em quân đội kéo tới, đông vui tấp nập! Những lúc việc đã xong mà sàn còn chưa mở thì tá lả tưng bừng, karaoke cùng quan chức… nào đâu thiếu chỗ vui. Những tín hiệu xấu bắt đầu tới khi Ái “dòi” bất ngờ bị bắt tạm giam – anh Ái trước học trường Đồ bản Matxcơva, đã từng buôn bán các kiểu từ thuở nghiên cứu sinh với ông bạn thân nổi tiếng bên Ba Lan. Nào ngờ lại sa chân lỡ bước ở ngay tại quê nhà, mà hoá ra lại do chính ông bạn thân đẩy vào vòng lao lí! Hà Nội sững sờ, những đại gia thứ thiệt mà cũng đã từng phải nếm mùi bắt bớ như Thành “béo” T&C cũng giật mình thon thót, đến chia buồn với anh em nhà họ Lê đấy nhưng trông người lại nghĩ đến ta… Ông Ái ngồi không lâu, anh em nhà ấy còn quá mạnh, không cứu được ông anh cả ra – sau này ông cũng quay lại quan trường, làm Tổng Giám đốc Tổng công ty môi trường một số năm. Nhưng rồi đến lúc vụ thế chấp cổ phiếu sáng lập tại VPBank nổ ra, thì Ái và Hoà (lúc ấy còn đang bên Nga, đại diện ngân hàng Rossiysky Standarts) cũng không đỡ được cho Nam “hói”. Công an vào cuộc, BHH, Nam “hói”, Tiến Long, Trường “con” bị bắt khẩn cấp, Tuấn “chợ” và Nam “Ngân” suốt ngày bị điệu lên công an để điều trần về các vụ việc liên quan, các đối tượng có tài sản hay lợi ích dính dáng tới thì đếm chả xuể. Số tiền thất thoát lên cao kinh khủng, hàng loạt đối tượng bị cấm xuất cảnh để phục vụ điều tra. BHH bị bắt thì Quang A lại tạm bỏ con thuyền VPBank mà quay lại với 3C thuở trước…

Nguyễn Quang A và các nhân viên 3C cũ – 2019

Nhưng Quang A không phải là người điều hành tốt, nhất là những lúc sóng to gió lớn, 3C cứ thế chìm dần, các anh tài chạy mỗi người một phương. Bản thân anh A cũng lúc thì quay về Chủ tịch VP Bank, lúc thì tập trung vào Viện nghiên cứu và phát triển (IDS) – nơi có 16 trí thức độc lập có tiếng tăm tập hợp lại, tổ chức chủ yếu là các seminar, nhưng rồi đến 2009 nó bị giải thể mà “giang hồ” đều cho rằng do thủ tướng lúc đó là Nguyễn Tấn Dũng quyết như vậy. Có thể nói rằng bác Quang A cũng là một trí thức tiến bộ khả kính, nhưng khá giống một số vị đấu tranh dân chủ khác, chả có cương lĩnh hay kế hoạch gì “nét” cả – cũng giống cách xưa nay anh vẫn từng kinh doanh, và có lẽ sẽ chẳng     đi đến đâu. Còn 3C vì hết “anh hùng hào kiệt” rồi nên có một đàn em học ở Hung về muốn thò tay thôn tính, nhưng rồi kế hoạch không thành, việc triển khai tiếp tục được giao cho một chú em tên Hưng học Bách khoa trong nước điều hành – thực chất là thả nổi, muốn làm gì thì làm. Thế nào tay mơ ấy lại kinh doanh rất có duyên, đầu tiên là triển khai các cửa hàng bán thiết bị máy tính, viễn thông cũng đủ nuôi quân tốt. Sau nữa Hưng cho quân bám sát bên điện lực để tham gia cung cấp thiết bị chuyên ngành, thế nào mà trở thành một nhà cung cấp có số má bậc nhất đối với EVN trong lĩnh vực điện cao thế 500kV, tất nhiên đó là ngành mũi nhọn, ngoài ra 3C vẫn còn duy trì được mảng viễn thông và tin học ngày nào. Ngày nay Đỗ Duy Hưng (1971) là Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ 3C, công ty rất vững mạnh, duy chỉ có cái tiếng tăm thì quả là không thể bằng được một góc 3C của những năm tháng “ra đời trong cách mạng”…

Đỗ Duy Hưng (bên phải) và người tiền nhiệm ở 3C Ngô Trung Sơn

_____

Chú thích:

Chế độ Rúp chuyển nhượng (1964 – 1991).

Đây thực ra là Hội đồng tương trợ kinh tế, được viết tắt COMECON (Council of Mutual Economic Assistance), thành viên là các nước XHCN năm 1949 gồm Bulgaria, Tiệp Khắc, Hungary, Ba Lan, Romania, Liên Xô, Albania, Đức tham gia 1950, Mông Cổ 1962, Cuba 1972, Việt Nam 1978… Các thành viên của SEV đã ký Hiệp định thanh toán nhiều bên bằng Rúp chuyển khoản 1963. Đồng thời thành lập Ngân hàng hợp tác quốc tế MBES để theo dõi và thực hiện quá trình. Hiệp định có hiệu lực từ năm 1964 (1 Rúp = 1,5 USD).

Cơ chế sử dụng Rúp chuyển nhượng tương tự như SDR là loại tiền ghi sổ dùng để ghi chép, hạch toán, bù trừ giữa các thành viên trong khối SEV. Khi hệ thống XHCN tan rã thì khối SEV cũng không còn nữa, Rúp chuyển nhượng cũng chấm dứt sau 27 năm tồn tại vào năm 1991.

SEV – Hội đồng tương trợ kinh tế, có logo và cờ hẳn hoi như sau:

Bình Luận từ Facebook

1 BÌNH LUẬN


  1. Thế đấy, đúng là thất bại toàn tập ĐỐI VỚI 100.000.000 Người Dân Việt HÔM NAY … lại bắt tay LÀM TỪ ĐẦU …thân phận NÔ LỆ NGAY giữa CHÍNH QUÊ HƯƠNG MÌNH khi dòng sản xuất công nghệ từ Trung C..uốc nay họ cũng KHÔNG CẦN NỮA làm gia công trong dây chuyền sản xuất quay cuồng như NGƯỜI MÁY đang chuyển sang làm THÔNG MINH NHÂN TẠO, MÁY TÍNH LƯỢNG TỬ, DU HÀNH VŨ TRỤ ,….

    Chẳng một VỌNG ÂM tiếng dội về ĐỀ ÁN Đại học PHAN CHÂU TRINH số hóa T ƯỞNG CHỪNG như 90 % đã hoàn tất 3 TRANG WEB kỹ thuật từ 2 THẾ GIỚI WORDPRESS + THẾ GIỚI MOODLE tôi ggax bắc nhịp cầu nối liền hàng ngàn giáo trình toàn tập VIDEO từ các bục giảng đường đại học lừng danh HARVARD, MIT, Stanford Yale CALTECH…. chỉ cần 10 % còn lại trông cậy vào chừng 1000 chuyên gia về hưu trong cộng đồng Kỹ sư giáo sư trong và ngoài Tổ Quốc ….

    NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO CHIP Ở VIỆT NAM

    Chu Hảo

    Có lẽ tôi thuộc thế hệ đầu tiên những người dính dáng đến Công nghệ Vi điện tử (CNVĐT) ở Miền Bắc nước ta từ cuối những năm cuối thế kỷ trước. Cho nên, mới đây khi đọc thư của một người bạn ca ngợi thành công của Tập đoàn TSMC (Công ty sản xuất chip của Đài Loan) và đặt câu hỏi : “ Chiến lược nào giúp VN có một công ty sản xuất chip chuyên nghiệp vừa phục vụ nhu cầu nội địa vừa gia công cho thiên hạ ?”, tôi nghĩ là mình phải góp đôi lời vào câu chuyện này.

    https://www.youtube.com/watch?v=Hb1WDxSoSec
    Inside The Worlds Largest Semiconductor Factory – BBC
    Tập đoàn TSMC (Công ty sản xuất chip của Đài Loan)
    We visit the worlds largest semiconductor factory in Taipei, Taiwan.

    Là người trong cuộc ở giai đoạn ban đầu ấy tôi xin thưa ngay: Chiến lược đó được đề xuất từ những năm 70 thế kỷ XX, và giới KHCN có liên quan đã cố gắng không ngừng nghỉ để triển khai. Tiếc thay tất cả chỉ là một “ thất bại toàn tập ”, mà cái thất bại cuối cùng mới xảy ra gần đây thôi (sẽ được kể ở phần cuối bài này).

    Tôi là người trong cuộc vì năm 1976 khi đang nghiên cứu (về lý thuyết chất rắn) ở Viện Vật lý thì Anh Nguyễn Văn Hiệu (Viện trưởng Viện KHVN) có ý định giao cho tôi làm Vụ trưởng Vụ kế hoạch. Tôi phân trần với anh rằng tôi chỉ muốn làm chuyên môn, nhưng anh gạt đi : “ Cậu vẫn làm chuyên môn, cậu cùng làm về lý thuyết bán dẫn với tớ ”. Tôi bảo tôi không làm được đâu ạ! Quản lý Kế hoạch là một nghề nghiêm chỉnh, không kiêm được đâu, anh tha cho. Sau đó tôi biết là mình phải ra đi vì nghĩ rằng nếu ở lại thì không làm chuyên môn được nữa. Tôi tìm gặp anh Vũ Đình Cự ở Khoa Toán Lý ĐHBK HN hỏi xem có thể về chỗ ấy giảng dạy được không? Anh hồ hởi bảo về ngay đi! Mấy ngày sau tôi mang công văn xin làm cán cán bộ giảng dạy của ĐHBKHN, kèm theo Đơn xin thôi việc lên trình Viện trưởng. Buổi sáng lên trình bày bị anh ấy đuổi về, đầu giờ chiều lại lên, cũng bị đuổi về. Đấy là một ngày mưa tầm tã, tôi buồn chán đến não lòng và nghĩ rằng đây là ngày định mệnh, hôm nay không xin đi được thì không bao giờ nữa! Thế là tôi lại lên phòng Viện trưởng. Mở cửa ra thấy ánh mắt rất chán nản của anh mà sợ, nhưng tôi cứ bước tới đặt lá đơn lên bàn. Thật bất ngờ, chẳng nói chẳng rằng, anh phê luôn chữ “Đồng ý!”, rồi ký mạnh đến nỗi rách cả giấy! Phải mấy năm sau tôi mới gặp lại anh trong bầu không khí thân thiện vui vẻ, như chẳng có việc gì xảy ra.

    Anh Cự giao cho tôi tiếp tục giảng giáo trình Vật lý chất rắn cho sinh viên năm thứ ba mà anh đang đảm nhận, đồng thời đồng ý cho tôi chuyển sang nghiên cứu Vật lý các linh kiện bán dẫn cho gần với thực nghiệm hơn, để chuẩn bị tham gia êkip xây dựng Phòng thí nghiệm VĐT (Vi điện tử) do Hà Lan giúp đỡ. Đó có thể coi là phòng thí nghiệm đầu tiên ở nước ta trong lĩnh vực này để nghiên cứu và giảng dạy. Đây phòng thí nghiệm chế tạo mạch tích hợp cỡ nhỏ trên cơ sở liên kết các linh kiện đơn cực MOS (một loại transistor) được tạo ra trên bề mặt phiến silic bằng công nghệ SILOX, đồng bộ tất cả các khâu xử lý phiến silic từ đầu đến lúc thành các mạch (logic) tích hợp. Tôi phụ trách Phòng thí nghiệm này với rất nhiều hoài bão chế tạo Chip. Công việc đang vào đà phấn chấn thì cuối năm 1979 chương trình hợp tác với Hà Lan phải dừng lại vì chính phủ nước này phản đối mạnh mẽ việc Việt Nam “xâm lược” Campuchia. Phòng thí nghiệm dừng hoạt động. Đấy là thất bại thứ nhất.

    Thất bại thứ hai liên quan đến Nhà máy Z181 của Bộ Quốc phòng sản xuất (gia công) các linh kiện bán dẫn do khối SEV giúp đỡ và đặt hàng. Đến 1989, khi Liên Xô (LX) và các nước XHCN Đông Âu tan rã, cơ sở này cũng tan rã theo.

    Sau khi phòng thí nghiệm VĐT ĐHBKHN ngừng hoạt động, tôi may mắn nhận được học bổng một năm của Chính phủ Pháp do Bộ ĐH&THCN phân cho ĐHBK HN. Tôi sang Pháp đầu năm 1980. Vì vẫn mơ ước được góp phần xây dựng ngành CNVĐT cho VN nên tôi lại chọn chuyên ngành Vật lý các linh kiện bán dẫn ở ĐH Lille (chủ yếu tham gia giảng dạy), đồng thời tham gia nhóm nghiên cứu ở ĐHBK Grenobe. Lúc đó ở Châu Âu sản xuất các linh kiện bán dẫn cỡ mm, thì ở Grenobe chúng tôi đã nghiên cứu MOS cỡ nanometre. Vì có kết quả nghiên cứu tốt nên tôi được Phòng thí nghiệm VĐT ở Lille cho ở lại làm luận án TSQG (Docteur d’ Etat). Tôi xin mở ngoặc kể thêm một chuyện “thất bại” của riêng cá nhân tôi cho vui. Khi sắp nộp luận án thì anh Nguyễn Đình Tứ, lúc ấy là Bộ trưởng Bộ ĐH&THCN lệnh cho Sứ Quán báo cho tôi không được bảo vệ vì Sứ quán LX ở Hà Nội phản đối với lý do bằng PTS của LX tương đương với TSQG Pháp (?!). Tôi viết thư về cho anh Tứ nói rằng tôi không quan tâm đến sự tương đương đó, tôi chuẩn bị bảo vệ một luận án với chuyên môn hoàn toàn khác, và rằng ngày xưa ông Trần Đại Nghĩa lấy vài bằng kỹ sư bên Pháp cơ mà. Nhưng đương nhiên là không có thư trả lời và tôi “y án”. Đáng lẽ sau anh Trần Mạnh Trí là người đầu tiên có bằng PTS ở Nga về Hóa Dầu, sang Pháp trước tôi ít lâu, bảo thành công luận án TSQG Pháp vào năm 1983, thì sau đó đến tôi là người thứ hai có điều kiện làm như anh Trí. Nhưng đầu năm 1985 tôi đành hậm hụi ra về. Và từ đó không có ai đã nhận bằng PTS LX được sang Pháp làm TSQG nữa! Tuy vậy sau này tôi vẫn có học hàm TS của nước nhà (“chỉ sau một đêm” như vẫn được mang ra riễu cợt) giống các bạn đồng nghiệp khác. Lúc biết tôi không được bảo vệ anh Vũ Đình Cự nhắn tôi về nước ngay có việc hay lắm. Mà hay thật!

    Về HN hôm trước, hôm sau tôi đến chỗ anh Cự. Anh bảo “ Ở nhà bọn mình đang xin thành lập Viện Vật lý kỹ thuật (VLKT) trực thuộc ĐHBK HN như các trường ĐH nghiên cứu ở bên ấy. Khốn nỗi ở VN ta Viện nghiên cứu ngang với Trường ĐH, nên Bộ ĐH&THCN và Ủy ban KH&KT không đồng ý, phải xin cụ Văn ( ĐT Võ nguyên Giáp lúc ấy Phó Chủ tịch HĐBBT) thôi! Cậu mới ở bên ấy về, lên giải thích chắc Cụ nghe đấy”. Cụ nghe thật! Và đấy là Viện nghiên cứu, nằm trong một Trường Đại học, lần đầu tiên xuất hiện ở nước ta.

    Nhưng đấy mới là màn dạo đầu của anh Cự thôi. Xong việc thành lập Viện VLKT, chúng tôi (Vũ Đình Cự, Trần Đình Anh và tôi) bắt tay ngay vào việc xúc tiến thành lập Viện Nghiên cứu Công nghệ Quốc gia (NCCNQG). Vào thời gian ấy ông PCT HĐBT phụ trách kinh tế Tố Hữu mới đi họp khối SEV về, báo cáo ông Thủ tướng Đỗ Mười một thông tin quan trọng: LX và các nước XHCN thừa nhận kém hẳn phương Tây về các công nghệ cao phục vụ phát triển kinh tế. Hai ông gọi anh Cự lên hỏi ý kiến và đi đến kết luận : Giao cho GS-TSKH Vũ Đình Cự thành lập một cơ sở KHKT mới với mục đích học tập công nghệ tiền tiến của phương Tây. Viện NCCNQG ra đời trong hoàn cảnh ấy. Anh Cự còn nói rõ là các cụ ấy cho cơ chế rất đặc biệt : ngang tầm với Viện KHVN của anh Nguyễn Văn Hiệu và Viện Năng lượng Nguyên tử của anh Nguyễn Đình Tứ, tức là như một đơn vị hành chính cấp Bộ, có dấu hình Quốc huy hẳn hoi; Hơn nữa lại hoạt động theo quy chế MẬT, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng và Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế.

    Lúc đầu Viện NCCNQG do anh Cự là Viện trưởng chỉ có ba đơn vị nghiên cứu : 1).Viện Công nghệ laser do anh Trần Đình Anh (do Bộ CA phái sang làm Viện phó Viện NCCNQG) kiêm nhiệm Viện trưởng viện này. Mục tiêu đầu tiên là nghiên cứu ứng dụng Công nghệ laser vào y tế và quốc phòng . 2). Viện Công nghệ VĐT, do tôi phụ trách, nhiệm vụ trước mắt là nghiên cứu chế tạo và sản suất máy Vi tính bắt đầu từ loại CPU 8 bit rồi 16 bít. 3). Viện Công nghệ quang điện tử, do anh Đặng Xuân Cự (cũng từ Bộ CA sang, phụ trách), nhiệm vụ bước đầu là nghiên cứu ứng dụng Cáp quang trong Viễn thông.

    Thế là tôi lại nuôi mộng làm Chip, bắt đầu từ việc chế tạo máy tính để bàn với con CPU 8 bit mạnh nhất của Nhật lúc đó. Mấy kỹ sư phần cứng và phần mền học ở Hung về ngày đêm miệt mài làm việc. Khoảng cuối năm 1988 thì 10 chiếc máy tính 8bit đã được sản xuất loại Prototype. Tất cả linh kiện và bàn phím đều mua của nước ngoài. Thiết kế, BIOS (Basic Input Output System), phần mềm giao diện và điều khiển bàn phím đều do ta tự làm. Bước tiếp là nhập dây chuyền lắp bảng mạch chính (Main board) và lắp ráp hàng loạt để cung cấp cho Bộ GD&ĐT. Đang lắp ráp dây chuyền thì không may, do nhóm trực ban đêm sơ suất để kẹt motor máy ổn áp gây ra vụ cháy rất tệ hại, thiêu trụi toàn bộ Phòng Vi tính đã được đầu tư khoảng 100 nghìn USD (lúc ấy cho nghiên cứu là to lắm!). Tôi suýt bị truy tố, còn cả Viện thì hoang mang! Chúng tôi phải còng lưng buôn bán máy tính để hoàn vốn đầu tư đã làm thất thoát. Thế là tiêu ma luôn cả Dự án cho bước tiếp theo là mua dây chuyền sản suất mạch tích hợp của Hung trị giá 2 triệu USD mà chúng tôi đàm phán đã gần xong. Lúc ấy chúng tôi còn hơi sức đâu mà lo đến việc làm Chip nữa! Đó là thất bại thứ 3 mà tôi trực tiếp gánh chịu.

    Thất bại thứ 4 là chủ yếu là đối với Khu CNC (Công nghệ cao) Hòa Lạc, liên quan đến việc mời Intel vào VN lập nhà máy làm Chip. Tôi đã đeo bám Dự án này của Intel hơn hai năm trời, bắt đầu từ cuộc gặp đầu tiên với anh Thân Trọng Phúc, đại diện Itel ở Việt nam, vào năm 1999 thì phải. Tôi hỏi anh: “ muốn đưa Intel vào Khu CNC Hòa Lạc thì phải bắt đầu từ đâu? ”. Về sau này khi trả lời phỏng vấn anh nói rằng thật ngạc nhiên thấy một quan chức cấp Bộ hỏi một cách thẳng tưng và cụ thể như vậy. Thế là hai chúng tôi vạch ra một lộ trình cụ thể, từng bước, từng bước dòng rã hàng năm trời thuyết phục ông chủ tịch Intel và bộ sậu của ông chuyển Dự án Xây dựng Nhà máy mới từ Thái Lan về VN. Thủ tướng Phan Văn Khải rất ủng hộ và chỉ thị các Bộ phối hợp thỏa mãn mọi yêu cầu của Intel thông qua Tổ công tác đặc biệt (task force) do anh Nguyễn Mại (phó chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch và đầu tư – chú thích của Diễn Đàn) đứng đầu. Khi Intel đã đồng ý chọn VN thì vấn đề làm cho tôi đau đầu là Chính phủ có ý kiến cho họ lựa chọn giữa Khu CNC Hòa Lạc hay Khu CNC Sài Gòn, họ vào chỗ nào đều tốt cho VN cả. Tôi ra sức vận động Tổ đặc nhiệm thuyết phục Thủ tướng Phan Văn Khải và Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm ép bằng được Intel chấp nhận triển khai Dự án ở HN vì hai lý do rất chính đáng : 1) Khu CNC cần phải đặt ở nơi có nhiều Viện nghiên cứu và Trường ĐH mạnh. Vào lúc ấy 70% lực lượng này nằm ở phía Bắc. 2) Theo quan sát thực địa của chúng tôi ở Thái Lan và Malaysia Intel đến đâu cũng sẽ kéo theo rất nhiều công ty công nghệ cao khác đến đầu tư quanh vùng đó, như vậy sẽ tạo được sự cân bằng công nghiệp giữa hai miền. Tôi nói Chính phủ phải ép Intel đầu tư ở HN như ngày trước đó ông Võ Văn Kiệt đã ép Daewoo mới hợp lý. Nhưng hôm chuẩn bị hội đàm phiên cuối cùng, anh Thân Trọng Phúc nói với tôi: “ Chính quyền Tp HCM đang vận động cho Khu CNC Sài Gòn rất mạnh. Họ hứa là ngoài các ưu đãi mà TW đã thỏa thuận, chính quyền địa phương sẽ ưu đãi thêm “một chút” nữa nếu Intel đầu tư ở Sài Gòn. Anh có “ bài” gì mới thì đưa ra ngay không thì thua đấy!”. Tôi nghĩ là khéo “thua”, vì cái “một chút” kia chắc to lắm! Và sau đấy thì biết chắc chắn là thua vì có lời nhắn nhủ từ cấp trên : “ Nó vào đâu cũng có lợi đất nước, anh Chu Hảo mà làm căng quá để nó bỏ VN là có tội to đấy!”. Thế là tôi “công cốc dã tràng”: đặt cược một cửa vào Intel cho kết quả bằng Zero đối với Khu CNC Hòa Lạc. Còn nhà máy chế tạo Chip ở Khu CNC Tp HCM vẫn là của nước ngoài chứ hình như chưa có gì gọi là chuyển giao công nghệ. Thế cũng là thất bại.

    Thất bại thứ năm mới xảy ra vài năm gần đây liên quan đến các Dự án đầu tư do ICDREC (Trung tâm Thiết kế Nghiên cứu Đào tạo Mạch tích hợp) của ĐHQG Tp HCM) chủ trì, nhằm xây dựng một tổ hợp nghiên cứu và sản xuất Chip hùng mạnh và duy nhất của VN. Tôi đã mừng vì cuối cùng ước vọng VN sản xuất được Chip sắp thành hiện thực. Nhưng rồi, đề án này tốn kém hằng trăm tỷ đồng cũng không dẫn tới đâu, không làm bậc lên các con chip “made in Vietnam” như nhiều người đã “đặt kỳ vọng” vào nó.

    Thế đấy, đúng là thất bại toàn tập phải không quý vị ?

    “Bao giờ cho đến tháng 10 ”?

    Hà Nội mùa Covid-19 tháng 5 năm 2021

    Chu Hảo

BÌNH LUẬN

Xin bình luận ở đây
Xin nhập tên của bạn ở đây