Nguy cơ từ công hàm năm xưa có thành cơ hội đoàn kết quốc gia bây giờ?

  •  
  •  
  •  
  •  

Lê Học Lãnh Vân

26-4-2020

1) Hổm Rày Trung Cộng Lấn Tới. Lập hai quận Tây Sa và Nam Sa nhằm cai quản toàn bộ Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam. Ra công hàm đệ trình Liên Hiệp Quốc “phản đối sự xâm lược và chiếm đóng trái phép của Việt Nam“, và “yêu cầu Việt Nam rút tất cả người và phương tiện, thiết bị ra khỏi các đảo, đá đã xâm lược và chiếm đóng bất hợp pháp” (Tuổi Trẻ online, 21/4/2020).

Trong hoàn cảnh các cường quốc phương Tây đang rất khó khăn với dịch COVID-19, và khi chênh lệch thực lực quân sự Trung Quốc – Việt Nam đang nghiêng hẳn về Trung Quốc, một số nhà quan sát nghĩ có thể Trung Quốc sẽ gây hải chiến chiếm toàn bộ Biển Đông, hoặc bao vây quấy rối các đảo, giàn khoan nơi có người Việt hoạt động.

Việt Nam đứng trước nguy cơ chiến tranh hoặc bị chiếm mất các đảo còn lại trên Biển Đông.

Công hàm do ông Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958 được Trung Quốc đưa ra như bằng chứng về sự công nhận của Việt Nam với quyền sở hữu của Trung Quốc trên toàn bộ hai quần đảo đó (Thời Báo Đức, 20/4/2020).

2) Hậu Quả và Trách Nhiệm Của Công Hàm

2a) Tác Hại của Công Hàm: Báo Tuổi Trẻ ngày 24/5/2014 cho rằng công hàm không gây thiệt hại cho Việt Nam vì trong vị trí thủ tướng, ông Đồng không có thẩm quyền nhượng lãnh thổ, và, công hàm được ký khi quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam Cộng Hòa, không thuộc Miền Bắc. Không ít nhà luật học cũng cho rằng công hàm không có giá trị của một sự nhượng chủ quyền trên một phần lãnh thổ. Nhiều ý kiến từ chuyên gia trong và ngoài nước yêu cầu Việt Nam kiện Trung Quốc ra Tòa Án Quốc Tế.

Tôi đồng ý với lập luận trên, cho rằng đó là các lý lẽ ta có thể dùng để tự vệ. Lý lẽ đó nằm ở chỗ bản thân công hàm và người ký không đủ thẩm quyền…

2b) Công Hàm Phạm Văn Đồng, nếu phân tích kỹ văn bản, ta thấy, đáng tiếc thay, công nhận quyền của Trung Cộng trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa.

Công hàm Phạm Văn Đồng xác nhận “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc” (https://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/cong-ham-1958-va-van-de-chu-quyen-o-hoang-sa-truong-sa-175510.html)

Tuyên bố của chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được công hàm Phạm Văn Đồng tán thành nêu rõ: “Bề rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc”.

Đây là một hớ hênh quá lớn cho một vị thủ tướng! Phải chăng sự hớ hênh xuất phát từ sự quá mất cảnh giác trước một quốc gia láng giềng có năng lực và tham vọng xâm chiếm Việt Nam và đã liên tục ngàn năm qua hễ có cơ hội là thực hiện tham vọng đó? Hiện nay Trung Cộng đang rất hùng mạnh, thường không tuân thủ luật pháp và cách ứng xử theo thông lệ quốc tế. Họ chỉ cần nguyên cớ. Phải chăng sự hớ hênh của công hàm đã trao họ một nguyên cớ và đặt quốc gia Việt Nam hiện nay trước nguy cơ một cuộc tấn công bất thình lình có thể xảy ra?

2c) Trách Nhiệm với Chữ Ký: Có người nói trách nhiệm chính ở ông Phạm Văn Đồng, có người nói trách nhiệm ở người có quyền lực cao hơn ông, có người nói trách nhiệm là của tập thể tối cao. Cho dù trách nhiệm thực ở đâu, người ký tên phải chịu trách nhiệm chữ ký của mình. Ông Phạm Văn Đồng đã là biểu tượng của sai lầm đó!

3) Xin Đừng Lên Án Nhau Bán Nước

Thực sự, từ lâu, trong nội bộ Việt Nam đã có nhiều người lên tiếng về bản công hàm đó mà người ta đã thấy trước tác hại ghê gớm trên chủ quyền lãnh thổ.

Thậm chí có người cho rằng công hàm bán nước.

Tôi thực lòng không nghĩ như thế.

Thời Pháp thuộc, nhiều người muốn độc lập dân tộc nên nương vào phong trào Quốc Tế Vô Sản. Sự nương dựa đó dẫn tới chiến thắng Điện Biên Phủ, Pháp rút quân khỏi Việt Nam. Thời đó, đây là ý muốn của đa số người Việt. Do nương vào phong trào Quốc Tế Vô Sản, một số nhà lãnh đạo tìm thấy nơi Trung Cộng nguồn lực chính giành độc lập, thống nhất đất nước, tìm hậu thuẫn nơi Trung Cộng. Có thể đó là lý do của công hàm Phạm Văn Đồng.

Vua Gia Long ngày trước, cũng tìm hậu thuẫn nơi Pháp, nơi Xiêm trong cuộc nội chiến tranh giành với Tây Sơn. Khi đã thống nhất sơn hà, ông không để mất một tấc giang san nào cho họ.

Tôi thật lòng không nghĩ Gia Long bán nước. Cũng không nghĩ Phạm Văn Đồng bán nước.

Mà, nghĩ như thế để làm chi, ích lợi gì cho quốc gia? Lịch sử từng cho ta bài học khi người này, phe này đinh ninh người kia, phe kia là bán nước, thì lúc đó trên lãnh thổ nước ta bùng lên cuộc nội chiến núi xương sông máu, hậu quả nước Việt tan hoang, dân Việt đói nghèo chậm tiến để nước khác xây dựng to đẹp, dân khác phát triển ấm no.

4) Việt Nam Nên Làm Gì?

Trước hết người Việt Nam nên đối diện nhau thảo luận chân thành về công hàm trên mọi khía cạnh. Biết rằng năm 2016 và 2018 chính phủ Việt nam đã ra hai công hàm công nhận rằng, trong thời gian từ 1954 tới 1975, Trường Sa và Hoàng Sa thuộc Việt Nam Cộng Hòa (Miền Nam), nghĩa là công hàm Phạm Văn Đồng không có giá trị. Tuy nhiên hai công hàm không được công bố trên báo chí, và do đó trong dân chúng âm ỉ mối nghi ngờ đối với chính quyền. Điều cần làm trước tiên là một sự thống nhất lòng dân, thống nhất trong kiến thức được chia sẻ và trong quyết tâm giữ gìn lãnh thổ cha ông.

Lập lực lượng đặc biệt tìm giải pháp thích hợp, lập kế hoạch hành động và thực thi. Lực lượng này phải tuyển chọn người có năng lực nhất từ mọi thành phần trong dân chúng.

Mở chiến dịch trình bày, thuyết phục thế giới về chứng cớ chủ quyền và lập luận của Việt Nam.

Để đoàn kết nội bộ, chính quyền cần công khai người chịu trách nhiệm. Nếu đồng ý rằng công hàm Phạm Văn Đồng đang gây khó khăn lớn cho quốc gia, ông Phạm Văn Đồng phải chịu trách nhiệm cho thành quá tệ hại đó. Tôi tin rằng những sự việc này được thảo luận công khai sẽ xiển dương tinh thần minh bạch và cần dân trong chính quyền, giúp sự thông cảm và cộng tác của dân chúng.

Trước hoàn cảnh này, chắc không ai đành lòng đặt quyền lợi cá nhân, quyền lợi đảng phái trên quyền lợi Quốc Gia! Việc gì có lợi nhất cho đoàn kết quốc gia, bảo vệ Tổ Quốc thì nên làm.

Ngày 21 tháng 4 năm 2020
Nguồn: Văn Việt, ngày 26/04/2020

Bình Luận từ Facebook

8 BÌNH LUẬN

  1. This is naive or trashy article or both perhaps in the light of who is responsible for the con job deal in which the seller doesn’t have something to sell. A question for the author, how can you judge a damage-has-been done event in return for the support of ChiCom to rob the South Vietnam is not a sale transaction? your naivety and love for humanity don’t count. Both of VietCom and ChinCom are guilty as hell and who is victim, we all know.

  2. Hồi bé đi học dưới mái trường xhcn để thành con người mới xhcn, tớ hay nghe ng ta nói ” thế giới đại đồng”. Nay đọc bài này của LhlV nhớ lại thời bé. Đúng nà quả đất xoay tròn.

  3. Buồn cười, sự chân thành phải đến từ tất cả các bên, chứ mồm thì cứ kêu gọi người ta chân thành mà đầu óc thì âm thầm toan tính cho phe mình.
    Gì chứ cái bài này xưa lắm rồi Diễm, từ xưa đến giờ lần nào dân chân thành xong cũng khóc hận hết, đâu phải ngẫu nhiên mà ngày càng có nhiều người nhắc lại câu nói “đừng nghe cộng sản nói, hãy nhìn những gì cộng sản làm”.
    Cho nên đầu tiên hãy bày tỏ sự chân thành ra cho dân xem đi, giải mật hết đi, còn văn kiện công hàm gì nữa, nội dung chi tiết hội nghị Thành Đô, bảng kê khai tài sản của tất cả các quan chức, vân vân mây mây, đem ra giải quyết hết, dù đau thật là đau nhưng 1 lần cho dứt điểm luôn.
    Chứ chỉ xử lý cái công hàm này xong, ai biết được dăm ba tháng sau có lòi ra thêm cái nào nữa không.
    Lấy đại ví dụ như kiểu nhất quyết phải bàn cho ra luật đặc khu hay là nhất quyết phải làm đường sắt cao tốc Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng thì không đơn giản chỉ là tham ăn phần trăm mà thôi đâu.
    Phơi bày ra hết rồi chân thành dập đầu (hoặc ít ra cũng phải khom người như Nhật ấy) xin lỗi dân, dám chắc là dân cũng sẽ chân thành chìa vai gánh chung vận nước.
    Còn như không làm được như vậy thì đừng mở mồm đem chân thành – đoàn kết – công khai – minh bạch – mây mây vân vân ra mà mị dân nữa, thối lắm.

  4. Điểm chết của Công Hàm Phạm Văn Đồng nếu đưa ra kiện:

    – “NƯỚC VN LÀ MỘT….!” Chủ tịch đảng kiêm chủ tịch nước, kiêm Cha Gia dân tộc VN là Hồ Chí Minh đã nói trước quốc tế và toàn dân VNDCCH như thế (hiến pháp VNDCCH cũng ghi như thế), nên không có chuyện HS&TS là của cái nước VNCH nào đó như mấy vị phản bác công hàm PVĐ thường nêu ra để chạy tội…. Đây phải hiểu theo cách hiểu của hai nhà nước VNCCCH và CHNDTH cũng như một phần của thế giới trong giai đoạn “công hàm Phạm Văn Đồng” được sinh ra.

    – Bản văn Công hàm Phạm Đồng (CHPVĐ) được đăng CÔNG KHAI trên báo Nhân Dân – “là cơ quan trung ương của đảng LĐVN (CSVN), là tiếng nói chính thức của đảng, chính phủ và nhân dân VN” vậy phải được coi là đã đăng trên CÔNG BÁO (hiểu theo nghĩa tố tụng – và vì không có phản đối từ cuốc hội hay từ bất cứ tổ chức hay cá nhân nào….,Vậy nó MẶC NHIÊN là hợp pháp); Cho nên không thể nói ông Đồng tự ý ký mà không có sự đồng ý của đảng, nhà nước và….nhân dân, vì lẽ đó nó (bản công hàm) phải được tôn trọng bởi VNDCCH và hậu thân (kế tục – kế thừa) của nó là CHXHCNVN.

    – CHPVĐ ký dưới danh nghĩa “chính phủ VNDCCH” (có đóng dấu) đã công nhận toàn bộ mà không phản bác phần nào trong bản tuyên bố của CHNDTH, trong khi bản tuyên bố của CHNDTH thì lại ghi rõ Nam Sa & Tay Sa (HS&TS) là của CHNDTH (các chí thức xhcn viện cớ trong công hàm PVĐ không đề cập đến HS&TS, nhưng chính vì không đề cập – tức không phản bác bất cứ điều gì trong tuyên bố của CHNDTH – nên mới càng….chết)

    Tóm lại : Trên tinh thần luật pháp, Trung cộng đã “mua” HS&TS CÔNG KHAI và hợp với pháp luật của VNDCCH, tức là từ CHÍNH CHỦ; Nên nếu CSVN kiện TC ra tòa, thì 99,99% CSVN sẽ phải thua, mà một khi đã có phán quyết của tòa QT thì vấn đề Biển Đảo của VN kể như xong…..vĩnh viễn.

    Có lẽ hiểu được sự việc “thua là cái chắc” nên CSVN – dù bên ngoài bị TC o ép, bên trong bị nhân dân thúc dục và xỉ vả thế nào thì cũng cứ cố mà nhịn.

    Riêng các trí thức xhcn lập ra các hội nghiên cứu gì đó thì chỉ để nói cho nhau nghe, “trước là mua vui, sau là kiếm chút cháo” chứ chả có anh nào dám (hy sinh) ra trước tòa quốc tế mà múa môi, múa mép cả (có mà cho vàng!)

    Chỉ có VNCH mới là một “Pháp Nhân” có đầy đủ quyền (về mặt pháp lý) để đòi chủ quyền Biển Đảo, nhưng tiếc thay, “nó” đã bị kẻ cướp “chôn sống” mất rồi…..

    Muốn biết cách phá giải CHPVĐ thì phải nhờ đến ngài….Bạch Đại Trạng.

  5. Ăn cây nào rào cây nấy. Một khi tác giả cũng là người hay viết công khai cho báo lề phải thì chớ hy vọng nhiều Ông ta phê phán thẳng thừng chế độ.

  6. Trước hết người Việt Nam nên đối diện nhau thảo luận chân thành về công hàm trên mọi khía cạnh.

    NGUOI VIÊT NAM : BÊN THẮNG CUÔC VS BÊN THUA CUỘC ?
    BÊN THĂNG CUỘC TRƯỚC SAU NHƯ MỘT XEM BÊN THUA CUỘC LÀ -NGỤY- , CHỈ GỌI TRÉO NGOE LÀ “CỘNG HÒA VIET NAM” KHI BÀN VỀ CHỦ QUYÊN HS – TS .

    THẢO LUÂN CHÂN THÀNH NHƯ THẾ NÀO ?

  7. Nội dung công hàm PVĐ chính là mặc nhiên công nhận quyền sở hữu của Trung Quốc trên hai quần đảo, nó là của TQ cũng như đảo Hải Nam. Ở đây còn có điểm hỗ trợ nhất quán và rất đắt là công hàm gọi đúng tên theo địa danh TQ của họ. Bây giờ, nếu kiện ra tòa, người ta sẽ hiểu là, Việt Nam từ chỗ không có gì, muốn biến không thành có!
    Nếu đã công nhận của TQ thì không thể ba phải cho rằng nó cũng là của VNCH và bây giờ là CHXHCNVN.
    Ý tác giả nói rằng để có được sự giúp đỡ thì cần phải đánh đổi… Thế bây giờ bày đặt nhiều chuyện làm gì?
    Có thể có nhiều loại thuốc giải, một trong số đó là đem PVĐ ra làm dê tế thần, cách hết mọi chức vụ của Y, tuyên bố công hàm đó vô hiệu, tiến hành các thủ pháp pháp lý nhằm vô hiệu hóa công hàm.

  8. Đảng ta đã “sáng tạo” ra cách xử lí rất hay, có 1 không hai trong lịch sử thế giới (tính đến nay) , đã được áp dụng thành công “mỹ mãn” nhiều lần ở VN. Ta hãy đem ra thực hành trong trường hợp Phạm Văn Đồng : cách chức “nguyên thủ tướng” Việt Nam nhiệm kỳ 1955-1960, hay ngắn hơn :cách chức ông ta phân nửa nhiệm kỳ (1958 đến 1960). Thế nhé.

BÌNH LUẬN

Xin bình luận ở đây
Xin nhập tên của bạn ở đây