Công lao của Bảo Đại trong việc củng cố chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Trương Nhân Tuấn

26-7-2026

Hai bài trước, tôi nói về công lao của Bảo Đại trong việc thu hồi Nam Kỳ và Hoàng triều Cương thổ từ tay người Pháp. Tiếp nối chủ đề này, người ta không thể không nhắc đến công lao của các chúa Nguyễn, rồi sau đó là các triều vua nhà Nguyễn, trong việc khám phá, chiếm hữu và khai thác quần đảo Hoàng Sa một cách liên tục trong thời gian dài mà không gặp sự phản đối của bất kỳ quốc gia nào.

Đến khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, theo Hiệp ước Patenôtre năm 1884, trách nhiệm bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Đế quốc Đại Nam thuộc về chính quyền bảo hộ Pháp.

Vấn đề là chính quyền bảo hộ Pháp đã không làm tròn trách nhiệm của mình trước những động thái tranh giành chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa từ phía Trung Quốc.

Thật vậy, trong nhiều tháng, chính quyền bảo hộ Pháp đã giữ thái độ im lặng trước tuyên bố của Tổng đốc Quảng Đông vào tháng 3 năm 1925 về việc cấp giấy phép khai thác phân chim (phosphate) tại quần đảo Paracels (tức Hoàng Sa của Việt Nam) cho các nhà khai thác Nhật Bản. Bất bình trước sự việc này, Thượng thư Thân Trọng Huề đã ban hành công văn khẳng định: “Các đảo Hoàng Sa (Paracels) từ lâu đời vốn là lãnh thổ của Việt Nam“.

Thân Trọng Huề (1869–1925) là một đại thần triều Nguyễn có tư tưởng cải cách, từng du học tại Trường Thuộc địa ở Paris (École Coloniale) – ngôi trường mà Nguyễn Tất Thành năm 1911 đã hai lần nộp đơn xin học nhưng không được chấp nhận. Năm 1922, ông giữ chức Thượng thư Bộ Binh kiêm Thượng thư Bộ Học dưới triều vua Khải Định. Ông cũng là ông ngoại của bà cố vấn Trần Thị Lệ Xuân (bà Ngô Đình Nhu).

Công văn này có ý nghĩa pháp lý quan trọng vì buộc chính quyền bảo hộ Pháp phải thực hiện trách nhiệm đại diện Nam triều trên trường quốc tế trong việc giải quyết tranh chấp và bảo vệ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.

Sau khi vua Bảo Đại lên ngôi năm 1932, triều đình nhà Nguyễn phối hợp với chính quyền bảo hộ Pháp triển khai một loạt biện pháp hành chính, quân sự và pháp lý nhằm củng cố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.

Một là sáp nhập hành chính Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên (Dụ số 10). Ngày 15 tháng 6 năm 1932, Toàn quyền Đông Dương ban hành nghị định thành lập đơn vị hành chính quần đảo Hoàng Sa (Délégation des Paracels) thuộc tỉnh Thừa Thiên. Đến ngày 30 tháng 3 năm 1938, vua Bảo Đại ban hành Dụ số 10, chính thức đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc địa giới hành chính của tỉnh Thừa Thiên với nội dung: “Quần đảo Hoàng Sa từ lâu vẫn thuộc chủ quyền của Đại Nam, nay chính thức đặt dưới sự quản lý của tỉnh Thừa Thiên để thuận tiện cho việc hành chính và bảo vệ“.

Hai là trực tiếp đồn trú và xây dựng hạ tầng trên đảo như hải đăng và đồn bót (1937–1939).

Chính quyền bảo hộ Pháp cùng triều đình Huế cử lính khố xanh ra đồn trú thường trực trên các đảo chính, đặc biệt là đảo Pattle (Hoàng Sa), cùng một số đảo khác.

Tại đây, một trạm khí tượng quốc tế, trạm vô tuyến điện và hải đăng đã được xây dựng. Trạm khí tượng được đăng ký trong mạng lưới quan trắc quốc tế của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO, tiền thân là Tổ chức Khí tượng Quốc tế) (*).

Năm 1939, vua Bảo Đại ban hành nhiều châu bản ngự phê, chấp thuận việc ban thưởng Huy chương Long Tinh cho các cai đội và lính khố xanh có công trong việc “lập đồn phòng thủ và hy sinh khi làm nhiệm vụ tại đảo Hoàng Sa”, như trường hợp Chánh cai đội Louis Fontaine.

Một điểm son khác là việc Chính phủ Quốc gia Việt Nam do Thủ tướng Trần Văn Hữu đứng đầu, dưới Quốc trưởng Bảo Đại, đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa tại Hội nghị Hòa bình San Francisco năm 1951.

Hội nghị Hòa bình San Francisco được tổ chức nhằm ký kết hiệp ước hòa bình với Nhật Bản sau Thế chiến II. Quốc gia Việt Nam được mời tham dự với tư cách một quốc gia liên kết trong Liên hiệp Pháp và là nước đã tuyên chiến với Nhật Bản. Tại Hội nghị này Việt Nam đã ký hoà ước với Nhật, buộc Nhật phải “bồi thường chiến tranh” cho Việt Nam (bằng các công trình xây dựng trị giá nhiều triệu đô la mà công trình thuỷ điện Đa Nhim là thí dụ).

Thủ tướng Trần Văn Hữu đã đọc tuyên bố của Quốc gia Việt Nam trước 51 quốc gia tham dự: “Chúng tôi xác định chủ quyền đã có từ lâu đời của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa“.

Tuyên bố này không gặp sự phản đối hoặc bảo lưu chính thức nào từ các quốc gia tham dự hội nghị. Đây được nhiều học giả xem là một trong những mốc pháp lý quốc tế quan trọng trong hồ sơ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

Tóm lại, quá trình xác lập và thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa dưới thời Bảo Đại có giá trị pháp lý đáng kể.

Thượng thư Thân Trọng Huề là người mở đầu quá trình này bằng việc buộc chính quyền bảo hộ Pháp thừa nhận nghĩa vụ pháp lý của mình thông qua việc viện dẫn các chứng cứ lịch sử từ thời các chúa Nguyễn và triều Nguyễn.

Tiếp theo, vua Bảo Đại đã thể chế hóa các yêu sách chủ quyền bằng những văn bản pháp luật như Dụ số 10, đồng thời lưu giữ trong hệ thống châu bản của triều đình.

Tóm lại, Chính phủ Quốc gia Việt Nam dưới quyền Quốc trưởng Bảo Đại (1951) đã góp phần quan trọng vào quá trình xác lập và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Vai trò đó được thể hiện qua việc tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý về chủ quyền, buộc chính quyền bảo hộ Pháp thực hiện nghĩa vụ đại diện trong việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam, đồng thời khẳng định công khai chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo tại Hội nghị Hòa bình San Francisco năm 1951 trước cộng đồng quốc tế.

_______

Ghi chú từ Tiếng Dân: Nguyên văn, tác giả viết: “Trạm khí tượng quốc tế (được WHO công nhận với số hiệu AG), trạm vô tuyến điện và một hải đăng cũng được dựng“. Thật ra, WHO là Tổ chức Y tế Thế giới, không phải cơ quan công nhận trạm khí tượng. Có lẽ ý tác giả muốn nói tới là Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO: World Meteorological Organization) hoặc tiền thân là Tổ chức Khí tượng Quốc tế (IMO: International Meteorological Organization).

Bình Luận từ Facebook

4 BÌNH LUẬN

  1. Bảo Đại lúc đó chỉ lệ thuộc vào sự bảo hộ của Pháp nhưng vẫn còn có ý giữ chủ quyền biển đảo. Chỉ tiếc là VNCH có quân đội không quân và hải quân thuộc hàng thứ 4 trên thế giới lúc bấy giờ lại để Tàu Cộng chiếm đóng mà không có một hành động hay chiến dịch gì để lấy lại. Giờ Tàu Cộng mạnh quá rồi, làm sao đòi?

  2. Hai độc (thiệt lun!) giả của BTD đã chỉ ra Bảo Đại là đồ cà chớn . Now thats hòa giải hòa hợp dân tộc rite there.

    Thui thì đây là 2 hào của tớ

    Công lao củng cố chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không ai bằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng

    Nhờ Thủ tướng Phạm Văn Đồng mà biển đảo Tổ quốc không bị xâm phạm, thành 1 thứ vòng đai vững chắc

  3. Bảo Đại học bên Pháp từ thời niên thiếu, bọn Pháp dựng lên và xem ông như một tay sai, thời gian sống và học bên Pháp thì ông con giời này nhiễm đủ thứ rất tây, từ tốt đến xấu, những năm cuối đời ông ấy đã làm một số việc không được hoan nghênh, việc trao ấn kiếm cho HCM là chuyện rất ruồi bu và ngu xuẩn, xem mình là con giời có khác, giao đất nước trong thời binh lửa cho thủ tướng rồi nghễnh ngãng vù qua tây chui vào sòng bạc. Sau này khoảng thập niên 80 ông ấy mò qua Mỹ và đám bợ thần lại quỳ mọp tung hô, cho đến ngày hôm nay dân cố đô vẫn chẳng thèm mở mắt mở tai mở não xem ông giời con của họ có xứng đáng được tôn thờ như một minh quân.

  4. Nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu có bài thơ “Vịnh bức dư đồ rách” . Tuy nhà thơ viết cách đây khoảng một thế kỷ nhưng rất thời sự, đáng suy ngẫm :
    Nọ bức dư đồ thử đứng coi
    Sông sông núi núi khéo bia cười
    Biết bao lúc mới công vờn vẽ
    Sao đến bây giờ rách tả tơi
    Ấy trước ông cha mua để lại
    Mà nay con cháu lấy làm chơi
    Thôi thôi có trách chi đàn trẻ
    Để đấy rồi ta sẽ liệu bồi .
    Tác giả trách thì có trách, buồn thì có buồn, song cũng rất khoan dung.

BÌNH LUẬN

Xin bình luận ở đây
Xin nhập tên của bạn ở đây