Nói lời phải chăng (Phần 4)

Chu Sơn

21-4-2025

Tiếp theo phần 1phần 2phần 3

Trần Phú (1-5-1904 — 6-9-1931), Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương. Nguồn: Tư liệu đảng CSVN

Chu Sơn: Theo ông Tòng thì việc Trần Phú trở thành Tổng bí thư đảng Cộng sản Đông Dương là quyết định của Mạc tư khoa (Quốc tế III và Lê nin)?

Huỳnh Văn Tòng: Hoàn toàn chính xác.Từ khi thành lập đảng, ngày 3-2-1930, Nguyễn Ái Quốc nghiễm nhiên trở thành lãnh tụ cao nhất của đảng Cộng sản Việt Nam (khi đó chưa có chức danh Tổng bí thư).

Nhưng đến tháng 4 năm 1930, Trần Phú từ Liên Xô trở về, mang theo những chỉ thị của Quốc tế III có tính quyết định: Thay đổi người lãnh đạo, thay đổi tên đảng, thay đổi luận cương (tư tưởng, quan điểm, lập trường, đường lối sách lược). Tất cả diễn ra theo một tình tự rất bài bản:

(1) Trần Phú trở thành ủy viên ban chấp hành đảng Cộng sản Việt Nam khi mới về nước (tháng 4-1930) mặc dù ông chưa bao giờ được kết nạp vào đảng này (trước khi đi Liên Xô ông mới chỉ là hội viên của Việt Nam Thanh Niên Đồng Chí hội do Nguyễn Ái Quốc thành lập năm 1927. Cùng với một số hội viên khác, Trần Phú được Nguyễn Ái Quốc chọn lựa và gởi đi Liên Xô. Ông được đảng Cộng sản Liên Xô kết nạp năm 1928).

(2) Trần Phú chủ trì hội nghị ban chấp hành đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 10 năm 1930. Tại hội nghị này ông được bầu làm tổng bí thư, và đảng đổi tên là đảng Cộng sản Đông Dương. Luận cương do ông soạn thảo trở thành giềng mối, đường hướng của đảng Cộng sản Đông dương và đảng Cộng sản Việt Nam từ đó đến nay. (Luận cương của Nguyễn Ái Quốc là giềng mối là đường lối thứ hai – không chính thức – chỉ được vận dụng trong những khúc đoạn lịch sử mà luận cương của Trần Phú tỏ ra bất lực, và tác động của Quốc tế III, của đảng Cộng sản Liên xô đứt đoạn, hoặc giảm nhẹ áp lực đối với đảng Cộng sản và phong trào cách mạng tại Việt Nam).

Hội nghị ban chấp hành đảng Cộng sản tháng 10 năm 1930 thực chất là một cuộc lật đổ. Nếu không có quyền lực của Quốc tế III (chính xác là của Stalin) sẽ không có cuộc lật đổ này. Quyền lực dẫn đến sự lật đổ này nằm trong các nguyên tắc tổ chức và điều lệ đảng của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) và những chỉ thị trực tiếp của Stalin qua Trần Phú.

Nguyễn Ái Quốc đã từng là cán bộ của Quốc tế III, phụ trách vụ Phương Nam, và là người – với sự nhất trí của Quốc tế III, đứng ra thành lập đảng Cộng sản Việt Nam (3.2.1930), không thể không biết, và nhất là không thể không chấp hành các chỉ thị, mệnh lệnh nhân danh quyền lực đó. (Đối với Quốc tế III, sau khi thành lập đảng Cộng sản Việt Nam, nhiệm vụ, vai trò của Nguyễn Ái Quốc xem như chấm dứt).

Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quốc tế III đối với đảng Cộng sản Đông Dương chặt chẽ đến độ: Ngoài sự thay đổi người cầm đầu và các nhân vật chủ chốt của đảng Cộng sản Đông Dương, Quốc tế III còn tổ chức một ban chỉ huy đứng chân ở Trung Quốc để làm gạch nối, làm đầu cầu lãnh đạo giữa đảng trung ương (đảng mẹ) và đảng địa phương (đảng con). Theo các sử quan của chế độ, ban chỉ huy (hải ngoại) có quyền lực cao hơn ban lãnh đạo Đảng ở Đông Dương.

Sau khi Trần Phú bị thực dân bắt cầm tù (tháng 4 .1931) và hy sinh tại nhà tù Côn đảo (tháng 7. 1931), Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập được Quốc tế III cắt cử thay nhau phụ trách ban chỉ huy hải ngoại và ban lãnh đạo đảng ở nội địa (Tổng bí thư, từ 1932 – 1938).

Như thế, từ lúc bị Trần Phú truất quyền lãnh đạo đảng, Nguyễn Ái Quốc ở đâu, làm gì? Các nhà viết lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam cho biết:

(1) Nguyễn Ái Quốc “ở ngoài” (?) theo dõi diễn biến tình hình cách mạng trong nước (phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh), viết thư góp ý, đồng thời viết thư đề nghị Quốc tế cộng sản và Quốc tế nông dân giúp đở Cách mạng Việt Nam.

(2) Nguyễn Ái Quốc bị nhà cầm quyền Anh bắt, giam cầm từ giữa năm 1932, đến cuối năm 1933 được thả ra.

(3) Sau khi ra tù ban lãnh đạo đảng cử Nguyễn Ái Quốc đi Liên Xô làm đại diện bên cạnh quốc tế Cộng sản. Sự thật, đây là một hình thức kỷ luật, vì Nguyễn Ái Quốc đã bày tỏ sai lầm trong nhận thức (thể hiện trong cương lĩnh vắn tắt) cũng như trong hành động như Trần Phú và hà Huy Tập đã phê phán nghiêm khắc: “Nguyễn Ái Quốc chủ trương đường lối cải lương, liên kết với tư sản, địa chủ. Nguyễn Ái Quốc nặng nề tàn dư chủ nghĩa dân tộc, duy tâm, làm chướng ngại cho sự phát triển của đảng”. Hà Huy Tập còn viết thư đề nghị Cộng sản quốc tế kiểm điểm và kỷ luật Nguyễn Ái Quốc. (Việc ban lãnh đạo đảng Cộng sản Đông Dương cử Nguyễn Ái Quốc đi Liên xô làm đại diện còn tệ hại hơn sự kiện ba chục năm sau tại miền Nam Thiệu – Kỳ thực hiện ý đồ của Mỹ đưa Dương Văn Minh đi làm đại sứ Thái Lan). Ông bị nhà cầm quyền Anh ở Hồng Kông bắt cầm tù một năm rưởi cũng là lý do để bị loại trừ. Đối với đảng Cộng sản, khi một đồng chí bị kẻ địch bắt cầm tù rồi thả ra thì người đó không còn được tin tưởng, thậm chí còn đáng bị nghi ngờ, cần loại bỏ để bảo vệ tổ chức, bảo vệ sự nghiệp cách mạng. Trong rất nhiều trường hợp, nghi ngờ chỉ là cái cớ.

Ông Chu Sơn cần lưu ý: Giữa Nguyễn Ái Quốc và các ông Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập đã từng có quan hệ thầy trò. Tuổi tác lại chênh lệch. Nguyễn Ái Quốc sinh năm 1890, lớn hơn Trần Phú 14 tuổi, lớn hơn Lê Hồng Phong 12 tuổi, lớn hơn Hà Huy Tập 16 tuổi. Trước khi gặp các đệ tử của mình tại Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đã kiếm sống và du khảo nhiều nơi tại bắc Mỹ, châu Phi và châu Âu, đã hoạt động chính trị và báo chí đấu tranh nhiều năm tại Pháp, đã quan hệ với rất nhiều nhà hoạt động cách mạng, văn hóa của Pháp và của nhiều nước Á – Phi. Ông cũng đã tham gia thành lập hoặc là thành viên của nhiều tổ chức Quốc tế đấu tranh cho người cùng khổ, người bị áp bức. Ông chỉ “thua” các học trò là không “được” đảng Cộng sản Liên Xô kết nạp, không “được” học tập, huấn luyện bài bản tại trường Đảng (đại học Phương Đông).

Có thể nói ngay từ đầu, Nguyễn Ái Quốc là nạn nhân của guồng máy độc tài, giáo điều và cha chú. Ông vừa là nạn nhân của chính mình – người đã tìm thấy “con đường cứu nước” sau khi đọc luận cương của Lê Nin về vấn đề Dân tộc và Thuộc địa (năm 1920), đã đặt hết niềm tin vào những nguyên lý cao cả của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, đã tuân thủ các nguyên tắc hành động do Quốc tế III và đảng Cộng sản do ông đề ra. Các học trò và đồng chí trẻ tuổi của ông: Trần Phú và Hà Huy Tập đã nương theo quyền lực của Quốc tế Cộng sản du stalin điều khiển và vận dụng các nguyên tắc “tập trung dân chủ”, “thiểu số phục tùng đa số” đã học được từ bài học vỡ lòng Đường Kách Mệnh do ông giảng dạy mà lật đổ ông, trói buộc ông, thậm chí lưu đày ông – tình thế mà sau này các sử quan của chế độ đã dễ dãi, vụng về viết rằng “Nguyễn Ái Quốc được đảng Cộng sản Đông Dương cử đi làm “đại diện bên canh Quốc tế Cộng sản”.

Chúng ta trở lại con đường chính thống phát xuất từ Quốc tế Cộng sản III, thể hiện qua luận cương của Trần Phú, được áp dụng triệt để bởi các tổng bí thư: từ Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập (trước thế chiến II) đến Lê Duẩn (từ chiến tranh Việt – Mỹ trở về sau) và các tổng bí thư sau này.

Nếu chỉ căn cứ vào các tư liệu do các sử quan của chế độ cung cấp sẽ rất khó để biết chính xác và đầy đủ nội dung của luận cương Trần Phú mà họ cho là con đường đúng đắn của đảng Cộng sản từ tháng 10.1930, mãi cho đến thời điểm này.

Đề nghị ông Chu Sơn tìm đọc thêm những tư liệu ngoài luồng liên quan đến những nhận định của Trần Phú, Hà Huy Tập, và cách ứng xử của hai ông này đối với quan điểm, lập trường, đường lối của Nguyễn Ái Quốc từ Hội nghị đảng tháng 10.1930 trở về trước. (Thực tế hội nghị tháng 10. 1930 của đảng Cộng sản Đông Dương chỉ để hợp thức hóa kết quả cuộc đấu đá giữa những người Cộng sản chính thống do trường đảng Nga đào tạo khóa đầu tiên mà Trần Phú là nhân vật được chọn là người đứng đầu đảng Cộng sản Đông Dương từ sau khi ông về nước (tháng 4 .1930) với Nguyễn Ái Quốc mà Stalin không tin cậy).

– Chẳng hạn, Trần Phú, Hà Huy Tập phê bình Nguyễn Ái Quốc là cải lương, có nghĩa là Nguyễn Ái Quốc không kiên định lập trường cách mạng triệt để, là cách mạng giả hiệu.

– Chẳng hạn Trần Phú và Hà Huy Tập phê phán Nguyễn Ái Quốc là duy tâm, có nghĩa là Nguyễn Ái Quốc chống lại duy vật – triết học nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin.

– Chẳng hạn Trần Phú và Hà Huy Tập phê phán Nguyễn Ái Quốc là tàn dư của chủ nghĩa dân tộc, có nghĩa là Nguyễn Ái Quốc chống lại chủ nghĩa Quốc tế, không tin vào mục tiêu cao cả: Cách mạng thế giới, giải phóng loài người.

– Chẳng hạn Trần Phú, Hà Huy Tập tố cáo Nguyễn Ái Quốc cấu kết với địa chủ, tư sản, có nghĩa là Nguyễn Ái Quốc không kiên định lập trường đấu tranh giai cấp, chống lại cuộc cách mạng do liên minh công nông làm nòng cốt và đảng Cộng sản lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối.

Cuối cùng Trần Phú và Hà Huy Tập kết luận: Quan điểm lập trường, đường lối, sách lược và hoạt động của Nguyễn Ái Quốc gây khó khăn, trở ngại cho sự phát triển của đảng Cộng sản (Đông Dương).

Cần lật ngược luận cương của Nguyễn Ái Quốc theo những nhận định có tính cách cáo buột của Trần Phú và Hà Huy Tập, cộng thêm chủ trương “tam vô” (vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo), và tứ ác (Trí, Phú, Địa, Hào, đào tận gốc, trốc tận rễ) được nêu trong quá trình diễn ra phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (tháng 5 đến tháng 10 năm 1930), ông Chu Sơn sẽ bắt gặp luận cương của Trần Phú, chỉ thiếu phần mở đầu và kết luận.

Ở phần mở đầu, Trần Phú phát họa tình hình thế giới:

1) Khủng hoảng kinh tế và nguy cơ dẫn đến thế giới đại chiến gây ra bởi các cường quốc Tư bản chủ nghĩa.

2) Nhiệm vụ và triển vọng cách mạng thế giới do Quốc tế III đứng đầu.

Ở phần kết luận, Trần Phú khẳng định, cách mạng Đông Dương là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng thế giới. Cách Mạng Đông Dương cần triệt để tin tưởng, ủng hộ và tuân thủ sự lãnh đạo của Liên xô và Quốc tế III, đồng thời cách mạng Đông Dương cần liên hệ với cách mạng Pháp, cách mạng Trung Quốc, Ấn Độ, phong trào độc lập tại các xứ thuộc địa và phong trào công nhân tại chính quốc.

Tóm lại, luận cương Trần Phú khẳng định, cách mạng Đông Dương tham dự vào trận đấu cuối cùng giải phóng loài người theo học thuyết Mác – Lê nin dưới sự lãnh đạo của Đệ tam Quốc tế và đảng Cộng sản Liên xô. Cuộc đấu tranh này nhằm lật đổ chế độ Tư bản trên bình diện toàn cầu, lật đổ các đế quốc thực dân và bọn tay sai của chúng là chính quyền phong kiến và các thành phần giai cấp phản động (Trí, Phú, Địa, Hào…). Một khi chế độ Tư bản và các công cụ của nó bị tiêu diệt, Đông Dương sẽ thiết lập nhà nước Xô viết khởi đầu chế độ Cộng sản, không cần phải kinh qua giai đoạn phát triển Tư bản chủ nghĩa.

Để thực hiện mục tiêu vĩ đại và cao cả đó, đảng Cộng sản Đông Dương dưới sự lãnh đạo của Đệ tam Quốc tế và đảng Cộng sản Liên Xô cần xây dựng lưc lượng cách mạng mà nồng cốt là giai cấp công nhân liên minh cùng giai cấp nông dân. Đây là lực lượng cách mạng kiên định, triệt để nhất và cũng là đối tượng đại diện chính danh cho quyền lợi nhân loại trong một thế giới mới, thế giới không giai cấp, không có người bóc lột, không có người bị bóc lột, không còn người áp bức, người bị áp bức – một thế giới huynh đệ, làm theo khả năng và hưởng thụ theo nhu cầu.

Như thế ngay từ đầu, lực lượng thứ hai với chủ nghĩa Cộng sản không những là mầm mống chia rẽ dân tộc dẫn đến xung đột ý thức hệ, mà còn chia rẽ hàng ngũ lãnh đạo Cộng sản với hai nhân vật tiêu biểu là Nguyễn Ái Quốc và Trần Phú đại diện cho hai nhận thức khác nhau trên cùng một xuất phát điểm khát vọng là giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội. Nguyên nhân gần của sự chia rẽ ấy là sự chênh lệch trong nhận thức về cùng một chủ đề là chủ nghĩa Mác – Lênin vận dụng như thế nào vào tình hình thực tế của Việt Nam như tôi đã trình bày ở trên.

Như thế, do sự mâu thuẫn trong nhận thức và phương pháp tiến hành cách mạng mà Nguyễn Ái Quốc bị Quốc tế III và đảng Cộng sản Đông Dương do Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập lật đổ khỏi vai trò lãnh tụ đảng, cách li môi trường hoạt động trong nước, bị áp đặt cư trú tại Liên Xô, bị đưa vào học trường Đảng (đại học Đông Phương) trong một quãng thời gian dài liền sau khi thành lập đảng (tháng 10 – 1930 đến cuối năm 1938 (trừ một năm rưởi ông bị nhà cầm quyền Anh tại Hồng Kông bắt giam từ giữa năm 1931 đến cuối năm 1933).

Từ sau 1937, rất nhiều sự kiện báo hiệu phe trục (Đức – Ý – Nhật) hình thành, vận động lực lượng tiến hành chiến tranh nhằm chia nhau thống trị châu Âu và các châu lục khác. Đến thời điểm 1937 – 1938, Liên Xô đứng trước tình thế bị bao vây và nguy cơ bị tấn công tứ phía, quốc tế III mất dần vai trò bình phong cách mạng thế giới, Stalin không còn tâm trí để nghĩ về bất cứ vấn đề nào khác ngoài sự an nguy của đế chế Xô Viết, đảng Cộng sản Đông Dương bị bỏ rơi. Nguyễn Ái Quốc được thả lỏng rời Liên Xô về Trung Quốc đi học làm chiến tranh du kích và xây dựng căn cứ địa trong các đơn vị kháng chiến của đảng Cộng sản Trung Quốc, đồng thời bắt liên lạc trở lại với phong trào cách mạng trong nước.

Đảng Cộng sản Đông Dương bước vào giai đoạn mới, chuyển biến cả về mặt quan điểm lập trường lẫn cơ cấu và địa bàn lãnh đạo. Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập và bộ phận đầu não được phái cử bởi Quốc tế III tại bản doanh Sài Gòn hụt hẫng, buộc phải nhường chức Tổng bí thư cho lãnh tụ trẻ tuổi Nguyễn Văn Cừ (26 tuổi) trưởng thành từ phong trào Cộng sản nội địa, chủ yếu trên địa bàn hoạt động miền Bắc, khu vực có số lượng đảng viên chiếm trên 50%. Nguyễn Văn Cừ không được đào tạo tại trường đảng Liên Xô, khi được bầu vào chức Tổng bí thư đảng Cộng sản Đông Dương, không thấy được Quốc tế III công nhận như các đồng nghiệp tiền nhiệm Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập.

Chu Sơn: Anh Tòng có bằng cớ không khi xác quyết rằng Liên Xô đã bỏ rơi đảng Cộng sản Đông Dương?

Huỳnh Văn Tòng: Tôi không có những tài liệu bằng văn bản cụ thể, nhưng chúng ta không thiếu những chứng cứ lịch sử làm nền tảng cho kết luận của mình:

– Qua các văn kiện của đảng Cộng sản, chúng ta không thấy có sự hiện diện quyền lực của Quốc tế III và đảng Cộng sản Liên Xô trong suốt quá trình diễn ra đại hội bầu ban chấp hành và chức vụ Tổng bí thư mới (Nguyễn Văn Cừ) vào một thời điểm nào đó của năm 1938, mặc dù có sự tham dự của Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập và các đảng viên cao cấp thuộc phe chính thống. Như thế kết quả hội nghị là do bầu cử dựa trên nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số theo điều lệ đảng, chứ không có sự can thiệp tuyệt đối của Cộng sản quốc tế. Duy chỉ với hiện thực này thôi cũng đủ để tôi kết luận như trên. Huống hồ từ năm 1938, qua các văn kiện Đảng, chúng ta không thấy dấu vết nào của Quốc tế III, của đảng Cộng sản Liên Xô trong các hoạt động cụ thể của đảng Cộng sản Đông Dương mãi đến đầu năm 1950.

– Chứng cứ tiếp theo là đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về Việt Nam, trở thành lãnh tụ thực sự của đảng Cộng sản mà không gặp khó khăn trở ngại nào trong nội bộ. Ông hoàn toàn tự do (không bị Quốc tế III và phe chính thống chống đối) trong việc vận dụng luận cương do ông soạn thảo khi thành lập đảng (2.1930) trước tình hình mới: Đưa mục tiêu độc lập dân tộc lên hàng đầu, tổ chức Mặt trận Việt Minh riêng cho Việt Nam, thực hiện đoàn kết mọi tôn giáo, mọi giai tầng, thành phần xã hội, xây dựng căn cứ địa kháng chiến, xây dựng lực lượng vũ trang, hình thành các tổ chức quần chúng rộng rãi, các chính đảng vệ tinh (đảng Dân chủ, đảng Xã hội) làm hậu thuẩn cho đảng Cộng sản trong công cuộc đấu tranh lâu dài. Chủ trương, đường lối, sách lược này trên đại thể xa lạ với Luận cương của Trần Phú.

Chu Sơn: Trước tình thế đảng Cộng sản Đông Dương bị Liên Xô bỏ rơi vào thời điểm 1938 như ông Tòng đã nhận định, đề nghị ông phát họa diễn biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc từ khi rời Liên xô (1938), bắt đầu lại vai trò lãnh đạo đảng Cộng sản của mình cho đến cuối đời.

Huỳnh Văn Tòng: Như chúng ta đã biết, sau khi đọc luận cương Lê nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, với tư cách là đảng viên đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc được điều động qua Nga để học tập về cách mạng Nga và cách mạng vô sản theo chủ nghĩa Bolsevich, chấp nhận sự điều động của Quốc tế III trong vai trò người phụ trách vụ Phương Nam, đứng ra tiếp nhận các tổ chức Cộng sản hình thành nên cơ cấu ban đầu của đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng chính Quốc tế III đã loại bỏ ông và lần lượt cử về Đông Dương những đảng viên được huấn luyện và kết nạp tại Liên Xô thay thế ông trong vai trò lãnh đạo đảng Cộng sản Đông Dương (Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập), bởi giữa ông và họ có sự bất đồng trong nhận thức về nội dung dân tộc, chủ nghĩa Xã hội và vai trò của quốc tế đối với cách mạng Đông Dương.

Vào thời điểm 1938, khi thế chiến II có nguy cơ xảy ra, Quốc tế III dần dần mất quyền lực trước đảng Cộng sản Liên Xô và giải tán vào năm 1943. Trước tình huống ấy, phe chính thống (được Quốc tế III thừa nhận) trong đảng Cộng sản Đông Dương bị Liên xô bỏ rơi và bị bó buộc trao quyền lãnh đạo Đảng cho các lãnh tụ trưởng thành từ thực tế cách mạng tại Bắc kỳ (Nguyễn Văn Cừ, Trường Chinh), Nguyễn Ái Quốc đã vượt qua được thời kỳ khó khăn nội bộ, từ Liên xô quay trở về tổ quốc (qua ngã Trung Hoa) với những học trò, đồng chí trung thành và luận cương do ông soạn thảo (3-2-1930). Thời kỳ này ông thường đi lại giữa Trung Hoa và Việt Nam, cho nên ngoài những bài học về xây dựng căn cứ kháng chiến, thành lập lực lượng vũ trang và chiến tranh du kích – về mặt tư tưởng chắc chắn Nguyễn Ái Quốc tìm đọc những trước tác của Mao Trạch Đông. Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên, tìm hiểu bổ sung kiến thức về chính trị văn hóa Mỹ qua những tài liệu có được tại căn cứ không quân Mỹ của tướng Chennault ở Côn Minh, và đặc biệt qua những giao tiếp với các điệp viên OSS tại các tỉnh phía nam Trung Quốc và tại Tân Trào.

Như thế, tư tưởng chính trị của Nguyễn Ái Quốc được hun đúc và tập đại thành trong suốt cuộc hành trình vừa đi vừa học vừa đấu tranh của ông mà xuất phát điểm là những giá trị Việt Nam (truyền thống và Nho giáo), tiếp đến lần lược là tư tưởng Tư sản dân quyền và công quyền của cách mạng và chính trị Pháp, chủ nghĩa Mác – Lê nin và cách mạng Nga, chủ nhĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên và cuối cung là những khái niệm về Độc lập, Tự do, Dân chủ và nhân quyền Mỹ.

Nguyễn Ái Quốc là con người thực dụng, ông là thiên tài vận dụng, nhưng ông không có sở năng tư duy triết học. Triết lý chính trị của ông nằm gọn trong câu châm ngôn cổ: “Dĩ bất biến ứng vạn biến” mà ông gởi gắm cho cụ Huỳnh Thúc Kháng (năm 1946) trước khi lên đường đi Pháp vận động ngoại giao.

Cái bất biến của ông là độc lập dân tộc và tự do hạnh phúc của nhân dân. Dĩ nhiên ông chú trọng trước hết đến nhân dân cùng khổ và lao động chân tay (công nhân, nông dân), những người bị áp bức bóc lột nhiều nhất trong các nước Tư bản chủ nghĩa và các chế độ thực dân phong kiến thuộc địa.

Hai văn bản mà qua đó chúng ta có thể căn cứ để tóm lược tư tưởng chính trị của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là Luận cương đảng Cộng sản Việt Nam do ông soạn thảo năm 1930 và Tuyên ngôn Độc lập do ông viết đọc năm 1945 (dĩ nhiên Độc lập – Tự do – Hạnh phúc cho nước cho dân đối với Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là những giá trị tương đối được hiểu, vận dụng và thực hiện trong những tình huống và điều kiện lịch sử cụ thể).

Vì mục tiêu bất biến ấy mà năm 1911 ông bắt đầu cuộc Tây du và lặn lội vòng quanh trái đất để tiếp cận thế giới.

Vì những mục tiêu bất biến ấy mà năm 1917 ông bắt đầu những hoạt động chính trị yêu nước tại Pháp.

Vì mục tiêu bất biến ấy mà từ năm 1920 ông tìm đến chủ nghĩa Mác – Lê nin, Quốc tế III, và sau này, tư tưởng Mao Trạch Đông và kinh nghiệm đấu tranh của Cộng sản Trung Quốc.

Vì mục tiêu bất biến ấy mà những năm tháng trước khi kết thúc thế chiến II, qua Patti và nhóm tình báo Mỹ OSS, ông khẩn thiết kêu gọi sự giúp đỡ của Mỹ.

Vì mục tiêu bất biến ấy mà ông đã tự kiềm chế bản thân, đưa những điều kiện khiêm tốn trong những cuộc điều đình cực nhục và vô vọng với thực dân Pháp.

Vì mục tiêu bất biến ấy mà năm 1950 ông thiết lập quan hệ đồng minh với Cộng sản Trung Quốc và quay trở lại với Liên Xô và Stalin chưa bao giờ coi ông là người cộng sản chính danh.

Và cũng chính vì mục tiêu bất biến ấy vào năm 1960 ông trao quyền lãnh đạo đảng Cộng cho Lê Duẩn. Tại hội nghị lần thứ III, với nghị quyết 15, Lê Duẩn và phe cánh trở thành người lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của đảng Cộng sản và tất nhiên của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyễn Giáp, Phạm Văn Đồng bị đẩy lui vê tuyến sau làm công tác hậu phương, làm ngọn cờ hiệu triệu quốc nội và quốc tế.

Chắc chắc ông Chu Sơn sẽ đòi hỏi tôi chứng minh các nhận định trên bằng những tài liệu cụ thể. Tôi không có nhiều tài liệu cụ thể. Tôi chỉ phát hiện những khoảng trống, những ghi chép dễ dãi trong các văn kiện đảng, kể cả các văn bản ký tên Hồ Chí Minh được công bố vì các nhu cầu chính trị để “ứng vạn biến” trước một tình thế cấp bách nào đó.

Tôi đề nghị ông Chu Sơn tìm đọc duy nhất chỉ một cuốn sách của ông Lê Duẩn xuất bản đâu khoảng năm 1985, cuốn Thư vào Nam, cũng đủ chứng cớ để khẳng định rằng ông Tổng bí thư (đảng Cộng sàn Việt Nam) đã một mình một chợ trong suốt cuộc chiến tranh “Chống Mỹ cứu nước”. Là chủ tịch đảng, chủ tịch nước, trên nguyên tắc Hồ Chí Minh có mặt trong tất cả các cuộc họp quan trọng của đảng Cộng sản để bàn thảo về cuộc kháng chiến ở miền Nam, nhưng trong Thư vào Nam, Lê Duẩn chỉ nhắc đến ông (Hồ Chí Minh) có một lần nhân đề cập đến một vấn đề lý thuyết liên quan đến cách mạng tháng Tám 1945 (trong thư đề ngày 1-7-1967). Trên cương vị ủy viên bộ chính trị, bộ trưởng Quốc phòng, tổng tư lệnh quân đội, đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng chỉ được ông Lê Duẩn nhắc đến một lần trong thư gởi cho ông Năm Công và ông Hai Mạnh ngày 27-3-1975 (Thư Vào Nam, trang 595), khi cuộc tấn công vào Sài Gòn đã mở màn cần động viên tất cả sức lực có trên miền Bắc.

Ông Lê Duẩn không cần giấu giếm, đã công khai chứng tỏ đại công của mình trong công cuộc chống Mỹ giải phóng miền Nam qua các thư từ ông viết gởi cho các cán bộ dưới quyền sau này được chọn lọc, sửa chữa để in thành sách. Thư vào Nam là tư tưởng, là đường hướng, là phương pháp, là chiến lược, chiến thuật từ lớn đến nhỏ, từ chính trị đến quân sự do ông soạn thảo và chỉ đạo thực hiện trên khắp các chiến trường miền Nam bắt đầu từ 1961 đến 1975.

Thư vào Nam thể hiện lập trường hòa giải dân tộc và chính sách nhân đạo, bao dung của đảng Cộng sản đối với Ngụy quân, Ngụy quyền khi chiến tranh kết thúc. Nhưng sau 1975 không thấy ông Lê Duẩn và đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện lập trường và chính sách này?

Thư vào Nam đồng thời khẳng định con đường tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ và hoàn tất cuộc cách mạng Tư sản dân quyền tại miền Nam.

Qua Thư vào Nam chúng ta thấy rất rõ người nắm thực quyền đảng Cộng sản tại miền Bắc xã hội chủ nghĩa và cuộc chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam là Lê Duẩn và phe cánh của ông gồm Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng chứ không phải là Hồ Chí Minh, Trường Chinh,Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng .

Như thế từ sau đại hội III (tháng 9-1960) trong vị trí lãnh dạo đảng, Lê Duẩn đã làm một cuộc chỉnh lí tiệm tiến, từng bước đẩy những người anh hùng kháng chiến chống Pháp với chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội toàn cầu là Hồ Chí Minh và Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng về tuyến sau làm công tác hậu phương, làm ngọn cờ hiệu triệu, vận động Liên Xô – Trung Quốc ủng hộ Việt Nam đánh Mỹ theo đường lối chiến tranh do ông hoạch định từ nghị quyết 15 (Nghị quyết 15 là báo cáo chính trị Lê Duẩn đọc trong đại hội). Tập trung quyền lực và chia rẽ phân liệt là hai mặt của những hoạt động đảng độc tôn, độc quyền, độc tài của phe Lê Duẩn. Trong chiều hướng đó, có bao nhiêu “Thư vào Nam” không được xuất bản, ngay cả “Thư vào Nam” đã được xuất bản cũng đã đẻo gọt sửa chữa để tuyên truyền và nhất là để “không vạch áo cho người ngoài xem lưng”.

Sau hội nghị Genève, Trung Quốc nổi lên trên trường chính trị, ngoại giao thế giới như một cường quốc đáng gờm. Mao Trạch Đông và Trung Quốc bắt đầu thời ký cạnh tranh với Stalin và Liên Xô trong vai trò lãnh tụ và trung tâm cách mạng thế giới. Cả hai, Liên Xô và Trung Quốc, đều thi đua tranh thủ Việt Nam về phe mình. Là một lãnh tụ Cộng sản thực dụng có khuynh hướng nửa quốc gia, nửa quốc tế, có phương pháp đấu tranh, vận động ngoại giao mềm dẻo, Hồ Chí Minh chọn lựa thế đi dây, giữ cho Việt Nam con đường trung lập giữa hai nước Cộng sản đàn anh ngày càng trở nên thù địch.

Đến khi Hồ Chí Minh qua đời (1969), Lê Duẩn một mặt bày tỏ lập trường dân tộc cứng rắn trước một Trung Quốc ngày càng lộ rõ tham vọng bá quyền, một mặt ngã hẳn về phía Liên Xô bành trướng nhưng mềm mỏng hơn. Kết quả đảng Cộng sản và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa dưới sự lãnh đạo của Lê Duẩn, Lê Đức Thọ đã làm cho Mỹ nản lòng rút khỏi cuộc chiến tranh tai hại, không lối thoát tại miền Nam. Ngụy nhào. Việt Nam có được hòa bình, thực hiện thống nhất, tiến thẳng lên xã hội chủ nghĩa, có khuynh hướng trở thành tiểu bá của một Đông Dương mới đồng minh của Liên xô đang dòm ngó Affganistan và Nam Á.

Hậu quả là Việt Nam đương đầu trước hai cuộc chiến tranh xảy ra cùng một lúc vào cuối năm 1979, với hai cựu đồng minh, đồng chí là Trung Quốc ở phía Bắc và Campuchia ở phía Tây nam, đồng thời phải đương đầu với cả thế giới phi Cộng sản: Với Mỹ và các quốc gia Đông Nam Á cựu thù, đã đành, trong những mức độ khác nhau với cả các nước trung lập và một phần của thế giới phương Tây đã từng ủng hộ Việt Nam đánh Mỹ.

(Còn tiếp)

Bình Luận từ Facebook

BÌNH LUẬN

Xin bình luận ở đây
Xin nhập tên của bạn ở đây