Chu Sơn
21-4-2025
Tiếp theo phần 1
Chu Sơn: Nhưng rõ ràng liền sau khi hiệp định Paris công bố tại Sài Gòn, Huế và các thành thị khác trên toàn miền Nam, các tiếng nói nhân danh thành phần, lực lượng thứ ba đã đồng loạt cất lên, chẳng lẽ tất cả đều do người Mặt trận giựt dây cả sao?
Huỳnh Văn Tòng: Có nhiều tiếng nói thứ ba không xuất phát từ Mặt Trận. Những tiếng nói bày tỏ khuynh hướng chính trị không Mỹ – Thiệu, cũng không Cộng sản, chẳng cần ai giựt dây, nếu được tự do, cũng sẽ cất lên lẻ tẻ hay đồng loạt, không những ở thành thị mà cả ở nông thôn, không những chỉ trong vùng “tạm chiếm” mà cả trong “khu giải phóng”, không những ở miền Nam mà cả ở miền Bắc, không chỉ đồng bào trong nước mà cả Việt kiều ở nước ngoài.
Chiến tranh kéo dài quá ư tàn khốc và đau thương, Mỹ càng lộ rõ vai trò ông chủ của Việt Nam Cộng Hòa, đảng Cộng sản và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không cần giấu giếm là người lãnh đạo của Mặt Trận Giải Phóng miền Nam, trong chính quyền, quân đội và nhân dân của hai bên không ít người chẳng đồng tình, dị ứng hoặc ngấm ngầm chống Mỹ, chống Cộng trong ý thức và cả bằng hành động khi có hoàn cảnh thuận tiện. Cái đa số “hai không” hay “hai chống” này nếu có cơ hội và điều kiện sẽ bày tỏ chính kiến, lập trường chính trị thứ ba của mình. Nhưng chẳng bao giờ họ có khả năng tập họp được thành một lực lượng ở giữa hai lằn đạn. Họ không có lãnh thổ, không có lãnh tụ, không có chính quyền, không có quân đội, cảnh sát, không có hậu thuẫn và viện trợ quốc tế tương xứng với hai lực lượng kia.
Tắt một câu, thành phần chính trị thứ ba không đủ những điều kiện vật chất, tinh thần khả dĩ bảo chứng cho sự tồn tại của mình như một lực lượng tập họp được. Họ yêu nước, họ khát khao tự do, độc lập, thống nhất và hòa bình. Họ có hoài bảo đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước. Chỉ có thế. Nhưng chỉ có thế thôi thì chưa đủ. Bạo lực Việt Nam Cộng hòa và bạo lực Mặt Trận Giải Phóng không dung tha họ. Pháp lý hiệp định Paris không đủ mạnh để bảo vệ họ.
Pháp lý Hiệp định Paris nói cho cùng chỉ là một mớ những điều khoản lỏng lẻo, mơ hồ, tạm bợ do đại diện hai phe làm ra trên bàn hội nghị với chủ đích là “Mỹ rút” hoặc “Mỹ cút”. Tất cả các vấn đề khác của miền Nam trên lý thuyết do nhân dân miền Nam quyết dịnh, nhưng thực tế vận hành theo thế và lực của kẻ mạnh. Mô hình chính phủ ba thành phần ngang nhau tại miền Nam chỉ là cái bong bóng được bơm thổi chủ yếu bởi những cái loa phát đi từ bưng biền hay từ Hà Nội. Cái bong bóng ấy sẽ xẹp lép trước sức nóng bom đạn trong trận cuối cùng: “Đánh cho Ngụy nhào”.
Chu Sơn: Vấn đề đơn giản như thế sao? Sau chừng ấy dính líu, bỏ ra từng ấy công của, Mỹ sẽ quẳng gánh ra đi dễ dàng như thế sao? Cường quốc hùng mạnh hàng đầu thế giới với lòng tự tôn siêu hạng, Mỹ chẳng còn vướng bận gì sau khi ký hiệp định Paris sao?
Huỳnh Văn Tòng: Phức tạp hay đơn giản cũng chỉ là những khả năng trong những tình thế cụ thể. Năm 1954, thua đau và nhục nhã ở Điện Biên Phủ, Pháp ký hiệp định Genève, tuyên bố tôn trọng độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút quân về miền Nam, nhưng không đơn giản sẽ chấm dứt vai trò và từ bỏ quyền lợi trên phần đất còn lại, bỏ mặc miền Nam cho hai chính quyền Nam – Bắc tiến hành hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo như những điều kiện pháp lý lỏng lẻo ghi trong văn bản hiệp định. Nhưng rồi do những điều kiện chủ quan, Pháp đành trao miền Nam cho Mỹ.
Ngày 27-1-1973, Mỹ ký kết hiệp định Paris cũng để rút quân, vấn đề miền Nam theo tính toán của chính quyền Mỹ cũng không đơn giản là sẽ bỏ mặc cho nhân dân miền Nam quyết định theo mô hình chính phủ liên hiệp ba thành phần… Trước khi ký hiệp định Paris, Kissinger và Nixon đã đi Trung Quốc, trước đó đã điều đình bí mật với Liên Xô, đã liên kết trở lại với Pháp, đã làm yên lòng La Mã, đã hứa hẹn với Nguyễn Văn Thiệu của Việt Nam Cộng Hòa… Tất cả những nổ lực ấy nhằm bảo lưu quyền lợi của Mỹ tại miền Nam và trong chừng mực nào đó, bảo lưu sĩ diện của Mỹ trước cộng đồng quốc tế với ý đồ chia cắt miền Nam thêm một lần, một chặng nữa, và quốc tế hóa phần đất còn lại.
Sự kiện Nguyễn văn Thiệu rút bỏ Tây nguyên không đơn thuần là một quyết định đơn phương, việc hai Tòa Đại sứ Pháp và Mỹ tại Sài Gòn đục thành rào, trổ cửa thông thương, việc các điệp viên và chức sắc tòa đại sứ Pháp quan hệ trên mức bình thường với nhóm Dương Văn Minh, việc Nguyễn văn Thiệu được tòa đại sứ Mỹ và nhân viên CIA âm thầm tống xuất ra nước ngoài, việc Dương Văn Minh chứ không phải một ai khác thuộc thành phần thứ nhất (như Nguyễn Cao Kỳ) tiếp nhận sự chuyển giao chức danh tổng thống từ Trần Văn Hương… là những dấu chỉ cho thấy, có cuộc vận động ngầm nhằm quốc tế hóa vấn đề miền Nam trên phần đất còn lại trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh của Mỹ.
Tuy nhiên tất cả những nỗ lực ấy không thành, bởi tương quan lực lượng tại miền Nam từ sau hiệp định Paris công bố nghiêng về phía Hà Nội.
Áp lực của Liên Xô, đặc biệt là Trung Quốc chưa đủ để Hà Nội giảm nhẹ cường độ quân sự “trừng trị lấn chiếm và vi phạm hiệp đinh Paris của Nguyễn Văn Thiệu”, và từ bỏ quyết tâm giải quyết vấn đề miền Nam bằng bạo lực cách mạng trong thời hạn ngắn nhất.
Về phía Mỹ, quyền lực thực sự lúc này (sau ký kết hiệp định Paris) không thuộc về chính quyền nữa mà thuộc về quốc hội và đông đảo quần chúng đã quá chán ngán cuộc chiến tranh không lối thoát và phi nghĩa. Một khi viện trợ bị quốc hội cắt giảm từ 2.1 tỷ năm 1972, xuống 1,4 tỷ năm 1973, rồi 700 triệu năm 1974, 300 triệu năm 1975 thì khả năng chấm dứt chiến tranh gần như là hiện thực. Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và nền đệ nhị Cộng hòa không còn điều kiện để tồn tại.
Như ông (Chu Sơn) đã nói với tôi hồi giữa năm 1973, rằng Hà Nội đã tính tới ít nhất là hai giải pháp: Một là giải pháp quân sự “đánh cho Ngụy nhào” trong vòng ba bốn năm (1973 – 1976). Hai là giải pháp chính trị “chia thêm một lần” (lần thứ nhất là Hiệp định Genève – 1954), dừng thêm một chặng – đến Nha Trang hay Phan Rang gì đó, thủ đô của chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam là Quảng Trị hay Lộc Ninh gì đó, và thời gian dứt điểm có thể là 10 năm, 15 năm. Có phải ông đã nói với tôi như thế không?
Sau những trận đánh thăm dò: Phước Long (tháng 1 năm 1975) và Ban Mê Thuột (tháng 3 năm 1975), Hà Nội thấy rằng Mỹ dứt khoát ra đi. Do vậy vấn đề miền Nam trở nên đơn giản, chỉ còn là giải pháp quân sự. Chính phủ liên hiệp ba thành phần chỉ tồn tại trên giấy, và lực lượng thứ ba chỉ còn là cái bong bóng.
Chu Sơn: Anh Tòng nhận định thế nào về nhân vật Dương Văn Minh? Có người nói Dương Văn Minh là lãnh tụ của lực lượng thứ ba?

Huỳnh Văn Tòng: Ông Chu Sơn lui tới Sài Gòn lâu như vậy mà chưa biết câu nói cửa miệng của người miền Nam sao: Zậy mà không phải zậy. Dương Văn Minh là người thuộc “lực lượng thứ nhất” mà tâm không phải “thứ nhất”, có cái tâm “thứ ba” mà không làm được lực lượng thứ ba để thực hiện tâm tư hoài bảo của mình, cuối cùng Dương Văn Minh đành phải chấp nhận vai trò kẻ vác cờ trắng mà người này bảo là không nên, người kia bảo là không đáng, lại còn có kẻ (Cộng sản) bảo: “Chỉ là hành động của một tên tay sai cùng đường”.
Tình cảnh của Dương Văn Minh vào thời điểm chấm dứt cuộc chiến tranh Việt – Mỹ (30 tháng 4 năm 1975) là như thế. Dương Văn Minh trở thành nạn nhân của hai phía, đồng thời là nạn nhân của chính mình. Người Mỹ sử dụng Dương Văn Minh làm nút chặn an toàn cho cuộc giải kết và “tháo chạy tán loạn”. Hà Nội sử dụng Dương Văn Minh làm công cụ giảm thiểu sự ác liệt, tổn thất và tăng cường hào khí, vinh quang cho chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng.
Chu Sơn: Anh Tòng có thể giải thích thêm những nhận định không giống ai mà anh vừa nêu được không? Tôi chưa được sáng tỏ lắm.
Huỳnh Văn Tòng: Người Mỹ bảo cuộc chiến tranh này là của họ. Người Cộng sản bảo đây là cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trên đại thể những tuyên bố như thế đều là sự thật. Do vậy việc kết thúc chiến tranh cũng do hai phía: Mỹ và đảng Cộng sản quyết định. Có điều lúc tiến hành chiến tranh mỗi bên đều có công cụ riêng biệt: Phía Mỹ, công cụ là Việt Nam Cộng Hòa. Phía Cộng sản, công cụ là Mặt Trận Giải Phóng và chính phủ Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam. Lúc kết thúc chiến tranh, cả hai phía, ngoài hai công cụ truyền thống, đều sử dụng cùng một công cụ là chính phủ Dương Văn Minh. Chính phủ Dương Văn Minh mang nhãn mác Việt Nam Cộng Hòa, nhưng đa phần các thành viên của chính phủ ấy không ít người tại miền Nam cho là thuộc về lực lượng hay thành phần chính trị thứ ba.
Vậy Dương Văn Minh là ai? Chính phủ Dương Văn Minh và những nhân vật bao quanh cá nhân ông Minh và chính phủ ấy là ai?
Dương Văn Minh là người miền Nam, gia đình thuộc tầng lớp trên: Địa chủ nhỏ và viên chức trong nhà nước thuộc địa, là sĩ quan trừ bị do Pháp đào tạo từ năm 1940, ở trong quân đội Liên hiệp do Pháp chỉ huy. Sau 1954, Dương Văn Minh là đại tá trong quân đội Quốc gia của Bảo Đại, rồi Việt Nam Cộng Hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Là người chỉ huy chiến dịch Thoại Ngọc Hầu truy quét lực lượng giáo phái Bình Xuyên, Hòa Hảo, Dương Văn Minh nổi tiếng là người hùng, được Ngô Đình Diệm vinh thăng thiếu tướng, rồi trung tướng, nhưng không chịu làm gia nô, không theo đạo Công giáo, không vào đảng Cần lao nên bị Ngô Đình Diệm cho ngồi chơi xơi nước. Từ một người thần phục Ngô Đình Diệm, lần hồi Dương Văn Minh căm ghét chế độ Gia đình – Cần lao – Công giáo toàn trị.
Dương Văn Minh theo đạo Phật, có người em trai (Dương Văn Nhật – Chu Sơn) đi kháng chiến rồi tập kết ra miền Bắc, có bạn thân (bà Bùi Thị Mè – Chu Sơn) là nhân vật cao cấp của Mặt Trận Giải Phóng miền Nam.
Năm 1963, trước tình hình chính quyền Ngô Đình Diệm ngày càng có nhiều dấu hiệu suy thoái, anh em nhà Ngô thẳng tay đàn áp phong trào Phật giáo đấu tranh đòi tự do và bình đẳng tôn giáo, Dương Văn Minh được các tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa tôn làm minh chủ, cầm đầu cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm với sự ủng hộ và chỉ đạo gián tiếp của Mỹ. Dương Văn Minh trở thành Quốc trưởng.
Là một sĩ quan nhà nghề, chọn binh nghiệp làm lẽ tiến thân, bản chất trung thực hiền lành, sùng thượng văn hóa Pháp, hấp thụ giáo lý từ bi của đạo Phật, có thân nhân đang ở phía bên kia, Dương Văn Minh không đáp ứng các tiêu chí “chọn ngựa” của người Mỹ, không trở thành lãnh tụ chống Cộng cuồng nhiệt mà người Mỹ cần tuyển chọn, hầu thay thế Ngô Đình Diệm. Mỹ thay đổi chiến lược: Đổ quân, trực tiếp điều hành, đẩy mạnh chiến tranh trên cả hai miền Nam – Bắc.
Dương Văn Minh lần lượt bị tướt quyền, bị cho ra rìa, bị đẩy đi làm đại sứ (một hình thức lưu đày), được đưa lại miền Nam làm nhân vật đối trọng với “con ngựa nòi’ được Mỹ chọn đứng đầu chế độ Đệ Nhị Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu. Xuất thân như thế, sự nghiệp như thế, bản chất cá nhân như thế, bối cảnh xã hội, chính trị như thế, từng bước Dương Văn Minh chuyển dịch từ một trong những nhân vật hàng đầu của lực lượng thứ nhất (Việt Nam Cộng Hòa) qua một hình tượng tiêu biểu cho cái mà nhiều người gọi là lực lượng thứ ba.
Nơi Dương Văn Minh, đến thời điểm sau khi hiệp định Paris được công bố, tồn tại hai con người:
– Con người hình dung sắc tướng thuộc về lực lượng thứ nhất.
– Con người tâm thức thuộc về thành phần chính trị thứ ba.
Con người hình dung sắc tướng dễ nhìn, dễ nhận biết, bởi tất cả nhãn mác đều phô dán bên ngoài: Đại tướng, Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa.
Còn con người tâm thức, con người thuộc thành phần – lực lượng thứ ba quả là phức tạp trước nhãn quan của nhiều người, đặc biệt đối với đảng Cộng sản – kẻ đã nhiều lần trong quá khứ (từ 1960 trở về sau) đã cử người tiếp xúc với Dương Văn Minh để điều đình nầy nọ…, kẻ đang chớp thời cơ đẩy mạnh cuộc tiến công quân sự nhằm giải phóng miền Nam bằng bạo lực cách mạng: “Đánh cho Ngụy nhào”.
Ngụy nhào tức là lực lượng thứ nhất bị tiêu diệt. Khi mà lực lượng thứ nhất bị tiêu diệt, thì, tất cả các thứ thuộc về thứ ba không còn lý do để tồn tại. Lực lượng thứ ba hay thành phần thứ ba đều như thế cả. Chanh vắt hết nước, vỏ bị vứt đi. Chính trị là như thế. Chính trị Mỹ hay chính trị Cộng sản đều như thế. Đặc biêt, người Cộng sản mô tả hành động vắt chanh bỏ vỏ bằng thuật ngữ hoa mỹ: “Chấm dứt nhiệm vụ lịch sử”.
(Còn tiếp)


