Sau sửa đổi Điều lệ Đảng và Hiến pháp sẽ là gì?

Blog VOA

Hoàng Trường

3-3-2025

Những chuyển động chính trị gần đây tại Việt Nam, đặc biệt là đề xuất mới nhất sửa đổi Điều lệ Đảng và Hiến pháp, đang làm dấy lên nhiều câu hỏi về tương lai quyền lực trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. Hình minh họa. Nguồn: Reuters

Nói theo dân gian, sau khi ông “Cả Trọng” qua đời, Tô Lâm giành ngay được “Sổ Đỏ của Ngôi nhà Đảng”, dù nền móng đã ọp ẹp. Với tư cách “chính chủ,” ông sẽ không ngần ngại trình bày một bản thiết kế mới cho ngôi nhà tương lai…

Ráo riết củng cố quyền lực

Những chuyển động chính trị gần đây tại Việt Nam, đặc biệt là đề xuất mới nhất sửa đổi Điều lệ Đảng và Hiến pháp (1), đang làm dấy lên nhiều câu hỏi về tương lai quyền lực trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN). Một trong những yếu nhân trung tâm của giai đoạn này là Tổng Bí thư (TBT) Tô Lâm – người đã từng bước trở thành lãnh đạo tối cao của Đảng.  Sau giai đoạn ẩn mình thời Nguyễn Phú Trọng, nay là lúc Tô Lâm bước vào thời kỳ củng cố sức mạnh và tầm ảnh hưởng, kể từ ngày 3/8/2024 tại Hội nghị bất thường của Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN khóa 13 (2).

Đi lên từ Bộ Công an, một cơ quan có ảnh hưởng lớn trong hệ thống chính trị Việt Nam, suốt những năm ông Trọng còn sống, Tô Lâm thể hiện sự trung thành với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đóng vai trò công cụ không thể thiếu trong việc thanh trừng các đối thủ chính trị dưới danh nghĩa chống tham nhũng. Thời gian này ông Lâm khéo léo trình diễn hình ảnh một công bộc trung thành, không có tham vọng cá nhân, trong khi dần nắm quyền kiểm soát các công cụ quyền lực quan trọng như Bộ Công an, hệ thống kiểm soát nội bộ Đảng và an ninh chính trị.

Từ nay trở đi là giai đoạn TBT Tô Lâm tập trung kiểm soát chặt chẽ nội bộ. Lợi dụng “di sản đốt lò”, ông đã loại bỏ những nhân tố bất lợi trên con đường tiến về đích, “cài cắm” thủ túc có gốc gác là công an hay cùng quê Hưng Yên vào các vị trí then chốt. Ngay sau khi loại hàng loạt đối thủ chính trị để nắm giữ chức Tổng Bí thư từ tháng 8/2024, ông Tô Lâm đã công kích bộ máy cồng kềnh và phát động chiến dịch tinh giản rầm rộ khắp các bộ ngành (3).

Việc đề xuất sửa đổi Điều lệ Đảng và Hiến pháp vừa được báo chí nhà nước rầm rộ đăng tải, không đơn thuần là thay đổi hành chính, mà có thể là cơ hội để tái cơ cấu hệ thống quyền lực, tạo lợi thế cho TBT Lâm trong quá trình chuẩn bị Đại hội 14. Một trong những chiến lược quan trọng trong giai đoạn này là rút gọn bộ máy tổ chức. Việc giảm số tỉnh từ 63 xuống còn 31 tỉnh và thu hẹp bộ máy trung ương còn lại có 13 Bộ sẽ giúp Tô Lâm kiểm soát quyền lực dễ dàng hơn (4). Khi số lượng “các quan đầu triều” giảm xuống chỉ còn dăm chục thay vì hơn 200 ủy viên Trung ương, thì việc tập trung quyền lực vào tay Tô Lâm sẽ thuận lợi hơn rất nhiều. Điều này đảm bảo những người còn lại đều là những người trung thành, được lựa chọn kỹ lưỡng theo tiêu chí phục vụ cho kế hoạch Đại hội Đảng tháng 1/2026.

Điều không nằm ngoài dự đoán là xu hướng tinh giảm bộ máy và giờ đây là quyết định cấp tốc nhưng không mấy ngạc nhiên của Bộ Chính trị là sẽ sửa Điều lệ Đảng và Hiến pháp, được một bộ phận xã hội Việt Nam đồng tình. Có thể đọc thấy trên mạng xã hội như vầy: “Hãy tin rằng dân tộc ta đang bước vào một cuộc chuyển mình vĩ đại không thể đảo ngược. Đó là tiến trình chuyển đổi ôn hòa được dẫn dắt bởi Trào lưu mềm với năng lượng mềm, giúp chuyển hóa mọi năng lượng giận dữ tích tụ bao đời. Điều tốt đẹp đó đang đến gần hơn bao giờ hết. Mong quý đồng bào giữ vững niềm tin!” (5)

Tuy nhiên, không phải là không có những “trend” khác trái chiều, nhất là dưới con mắt của các nhà nghiên cứu nước ngoài. Theo Tiến sĩ Thủy Nguyễn, từ Đại học Oregon (Hoa Kỳ), chuyên gia về chính sách công và khoa học dữ liệu, nguyên nhân chính yếu cho việc sáp nhập hay tách tỉnh là để củng cố hay bẻ gãy quyền lực chính trị. Việc sáp nhập có thể giúp củng cố quyền lực cho một nhóm nhỏ hơn, loại bỏ những người đứng đầu yếu. Ngược lại, việc chia tách có thể là quá trình thương lượng để chia phần quyền lợi, nhằm làm “loãng” bớt quyền lực hiện đang thuộc về tay ai đó. Những người có thể đứng sau các công cuộc sáp nhập hay chia tách thành công đều thể hiện được sức mạnh chính trị của mình (6).

Dự đoán bước tiếp theo của Tô Lâm

Nếu thành công trong việc tiếp tục duy trì quyền lực đã chiếm lĩnh, Tô Lâm có thể bước vào giai đoạn ba – chuyển đổi hệ thống từ một thể chế độc tài tập thể sang mô hình độc tài cá nhân. Điều này có thể diễn ra theo các hướng sau:

– Tập trung quyền lực vào một cá nhân: Hiện tại, quyền lực của ĐCSVN vẫn có sự phân bổ giữa các cơ quan khác nhau. Tuy nhiên, nếu Tô Lâm có thể sửa đổi các điều khoản về tổ chức và quyền hạn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước hoặc Thủ tướng, ông có thể hợp nhất nhiều quyền lực vào tay mình.

– Kiểm soát tuyệt đối hệ thống an ninh và quân đội: Để củng cố vị thế lâu dài, ông sẽ cần sự trung thành tuyệt đối từ Bộ Công an và Bộ Quốc phòng. Điều này có thể được thực hiện thông qua việc cải tổ bộ máy nhân sự, đặt những nhân vật thân tín vào các vị trí chủ chốt để định hình một ‘vương quốc’ chính trị riêng.

– Trình bày ‘Bản thiết kế mới’: Nếu nhìn vào mô hình của các nhà lãnh đạo độc tài khác trên thế giới (Đài Loan, Hàn Quốc những năm trước ‘dân chủ hóa’), có thể thấy xu hướng chung là tạo dựng hệ thống quyền lực cá nhân hóa, nơi mà lãnh đạo tối cao không chỉ kiểm soát chính trị mà còn có ảnh hưởng lớn trong kinh tế và các lĩnh vực quan trọng khác (7).

Nói theo ngôn ngữ bình dân, sau khi ông “Cả Trọng” qua đời, Tô Lâm giành ngay được “Sổ Đỏ của Ngôi nhà Đảng”, dù nền móng đã xuống cấp nghiêm trọng. Với tư cách chính chủ, ông sẽ không ngần ngại trình bày một bản thiết kế mới cho ngôi nhà tương lai. Tô Lâm và “đám cận thần” cũng sẽ bảo đảm rằng, không ai – cho dù từ quân đội hay bất cứ từ một ngạch nào khác – có thể tranh chấp chiếc ghế Tổng Bí thư của ông trong nhiệm kỳ 2026 – 2030.

Việc sửa Điều lệ Đảng và Hiến pháp trước mắt sẽ là công cụ phục vụ trực tiếp cho tham vọng này. Và hệ quả tất yếu sắp tới là nó có thể đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử chính trị Việt Nam. Nếu những thay đổi ấy đi theo hướng củng cố quyền lực cá nhân, Việt Nam có thể chuyển từ một hệ thống lãnh đạo tập thể sang mô hình tập quyền mạnh mẽ hơn, tập trung vào một nhân vật duy nhất (8).

Điều này đặt ra nhiều câu hỏi về sự ổn định của hệ thống chính trị. Trong ngắn hạn, một cá nhân nắm quyền tuyệt đối có thể giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, giảm thiểu đấu đá nội bộ. Tuy nhiên, về dài hạn, việc tập trung quyền lực quá mức có thể dẫn đến tình trạng suy yếu thể chế, gia tăng sự phụ thuộc vào một người, và nguy cơ khủng hoảng kế nhiệm khi lãnh đạo đó không còn đủ sức duy trì quyền lực.

Liệu Tô Lâm có thể thực sự xây dựng một mô hình lãnh đạo mới hay không, và liệu hệ thống chính trị có chấp nhận một sự chuyển đổi như vậy, vẫn còn là một câu hỏi lớn. Tuy nhiên, với những dấu hiệu hiện tại, có thể nói rằng Việt Nam đang đứng trước một thời kỳ biến động quan trọng, nơi mà những thay đổi về Điều lệ Đảng và Hiến pháp có thể không chỉ đơn giản là vấn đề kỹ thuật pháp lý, mà còn là sự định hình lại toàn bộ cấu trúc quyền lực của đất nước.

Tham khảo:

(1) https://thuvienphapluat.vn/phap-luat/ho-tro-phap-luat/bo-sung-sua-doi-hien-phap-cham-nhat-ngay-3062025-khi-bo-cap-huyen-lo-trinh-sua-doi-hien-phap-cac-bu-203534.html#goog_rewarded

(2) https://www.voatiengviet.com/a/quyen-luc-to-lam-lon-co-nao-/7687713.html

(3) https://www.rfa.org/vietnamese/thoi-su/2025/01/25/to-lam-gat-bo-di-san-nguyen-phu-trong/?utm_source=chatgpt.com

(4) https://thuvienphapluat.vn/hoi-dap-phap-luat/83A52B5-hd-viet-nam-co-bao-nhieu-bo-hien-nay-va-sau-khi-tinh-gon-bo-may-chinh-phu.html

(5) https://www.voatiengviet.com/a/7796234.html

(6) https://www.rfa.org/vietnamese/thoi-su/2025/03/02/sap-nhap-tinh-ghep-tinh-don-vi-hanh-chinh/

(7) https://www.luatkhoa.com/2018/02/han-quoc-nen-dan-chu-chet-non-va-su-troi-day-cua-park-chung-hee/?utm_source=chatgpt.com

(8) https://www.youtube.com/watch?v=E-vczHo1vI8

Bình Luận từ Facebook

1 BÌNH LUẬN

  1. 1. Đặng Tiểu Bình thường được biết đến như một “kiến trúc sư chính của quá trình hiện đại hóa và phát triển kinh tế Trung Quốc”, nhưng ít người biết, những châm ngôn hành động nổi tiếng nhất như thuyết “mèo đen, mèo trắng” hay “mò đá qua sông” lại không hoàn toàn là “phát kiến” của ông. Nó được ông học hỏi từ Lưu Bá Thừa, một người cộng sự chiến trường thân thiết suốt 13 năm của Đặng Tiểu Bình.
    Thuyết “mèo đen, mèo trắng” xuất phát từ câu “mèo vàng, mèo đen, chỉ cần bắt được chuột đều là mèo tốt” của Lưu Bá Thừa trong thời gian ông cùng sát cánh với Đặng Tiểu Bình những năm 1930-40 trong cuộc vạn lý trường chinh. “Mò đá qua sông” cũng là câu mà Lưu Bá Thừa đã nói. Thời kỳ lập nước Trung Quốc mới, tướng Lưu Ái Bình nhận lệnh xây dựng trường quân sự, trước khi đi đã đến thỉnh giáo Lưu Bá Thừa. Lưu Bá Thừa nói: “Tôi cho đồng chí sáu chữ và cần phải ghi nhớ. “Hãy mò đá để qua sông””. Đặng Tiểu Bình đã áp dụng chính châm ngôn này trong thời kỳ cải cách mở cửa, khi “mở một con đường máu” là các đặc khu kinh tế.
    2. Nhưng chuyện các “ý tưởng lớn” này có phải là phát kiến của riêng ông hay không, đối với Đặng Tiểu Bình, dường như không quan trọng. Ông chưa bao giờ muốn làm nổi bật mình trước tập thể. Chưa từng chính thức giữ các chức vụ nguyên thủ của Trung Quốc, ông luôn “thực sự cầu thị”, không cần hư danh, luôn biết cách lùi lại phía sau, miễn làm sao “được việc là được”. Khi chết, ông được hỏa táng và rải tro cốt xuống biển. Ông có thể xem là một người Cộng sản thực dụng điển hình. Tiếp nhận chủ nghĩa Marx từ những năm 1920 ở tuổi 16-17 khi du học nghề ở Pháp, ông cũng từng được gửi đi học ở Liên Xô, nhưng với ông chủ nghĩa Marx-Lenin chưa bao giờ là một tín điều bất biến. Ông nói: “Học Marx-Lenin phải học cái tinh túy, phải biết áp dụng”, là sự liên hệ lý luận với thực tiễn, chính “thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý”. Với châm ngôn này, cùng với thuyết “mèo đen, mèo trắng”, chỉ những gì “có hiệu quả thực tiễn mới là tốt”, luận thuyết nọ, ý tưởng kia dù nghe có vẻ hay ho đến đâu, mà không áp dụng được trong thực tiễn thì phải ngay lập tức vứt bỏ, “không tranh luận” dài dòng. Ở điểm này có lẽ ông khá giống với Lý Quang Diệu của Singapore.
    3. Không phải là một người ưa lý luận, giáo điều, nhưng Đặng Tiểu Bình chưa bao giờ xem nhẹ vấn đề tư tưởng. Trong bản nhận xét của tổ chức về Đặng Tiểu Bình khi ông được gửi sang Liên Xô học, cho rằng, ông có hai thế mạnh là khả năng “tuyên huấn và tổ chức”. Đây có vẻ là nhận xét xác đáng, bởi sau đó, ông đã phát huy đầy đủ cả hai thế mạnh này ở thời gian trong quân đội, với vị trí chính ủy. Một điểm được Đặng đặc biệt lưu ý và luôn đề cao trong quân ngũ đó là “tư tưởng phải thông suốt”. Trước khi bước vào mỗi trận đánh, ngoài tất cả mọi sự chuẩn bị thường quy khác, ông đều phải chuẩn bị làm sao để “tư tưởng phải thông suốt” từ trên xuống dưới. Điều này, cũng được ông áp dụng nghiêm ngặt cho công cuộc cải cách, mở cửa kinh tế ở Trung Quốc sau này.
    4. Một điểm nữa không thể không nhắc đến ở Đặng Tiểu Bình đó là tầm nhìn “sáng suốt đến mức kinh ngạc” của ông về vai trò của “khoa học kỹ thuật và giáo dục”. Ông từng nói: “…khi ra nhận nhiệm vụ chúng ta có thể có hai thái độ, một là để làm quan, hai là để làm một chút gì đó”. Đến tháng 7/1977, sau khi được chính thức phục hồi lần ba, ở tuổi 73, Đặng Tiểu Bình đã quyết định “phải làm chút gì đó”, đó chính là “nắm khoa học và giáo dục”. Ngay sau khi được phục hồi lần ba, ông đích thân chủ trì quản lý công tác khoa học kỹ thuật của Trung Quốc. Lợi dụng tất cả các phương thức cũng như các học giả, chuyên gia trong và ngoài nước về mọi lĩnh vực để bàn bạc quy hoạch phát triển khoa học kỹ thuật cao của Trung Quốc.
    Nửa tháng sau, ngày 4/8/1977 Đặng Tiểu Bình đã tham dự cuộc tọa đàm về công tác khoa học kỹ thuật và giáo dục do Trung ương tổ chức. Tham gia tọa đàm có 33 chuyên gia, giáo sư nổi tiếng. Trong ngày đầu tiên của cuộc tọa đàm, ông chỉ đọc một bài khai mạc ngắn gọn, sau đó ông chỉ lắng nghe. Hàng ngày, 8 giờ sáng bắt đầu buổi họp, buổi trưa nghỉ rất ít rồi tiếp tục cho đến chiều tối. Rất ít lãnh đạo cấp cao có thể kiên trì ngồi nghe hàng giờ liền như vậy, đặc biệt ở thời điểm đó tại Trung Quốc, các chuyên gia, giáo sư vẫn bị xem là “đối tượng của chuyên chính của cải tạo”.
    Tháng 3/1986, một số nhà khoa học già nổi tiếng như Dương Đại Hoành, Vương Kiềm Xương, Dương Gia Tê, Trần Phương Doãn… đã đưa ra một “Kiến nghị về việc theo đuổi sự phát triển kỹ thuật cao của thế giới”. Đặng Tiểu Bình lập tức chỉ thị: “Kiến nghị này vô cùng quan trọng, trong việc này cần làm nhanh và quyết đoán, không thể kéo dài”. Sau chỉ thị của ông, Quốc vụ viện Trung Quốc đã xây dựng: “Kế hoạch phát triển nghiên cứu kỹ thuật cao của Trung Quốc” (gọi là “Kế hoạch 863” – nổi tiếng).
    Thực tế, ông đã theo đuổi mối quan tâm thúc đẩy phát triển khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc đến tận những năm cuối đời. Năm 1992, khi đi thăm miền Nam, ông nói: “Tôi nói khoa học kỹ thuật là sức sản xuất số một. Gần hai chục năm nay, khoa học kỹ thuật thế giới phát triển nhanh biết bao? Một đột phá trong lĩnh vực kỹ thuật cao sẽ kéo theo sự phát triển của một loạt ngành nghề khác. Mấy năm gần đây, liệu xa rời khoa học kỹ thuật có thể làm nước ta tăng trưởng được nhanh như vậy không? Phải đề xướng khoa học, dựa vào khoa học mới có hy vọng được”.
    Đặng Tiểu Bình rất ít khi nói mình thấy vui về vấn đề gì, thế nhưng, cũng trong chuyến đi thăm miền Nam năm 1992 ông đã bốn lần liên tục dùng từ “vui mừng” khi nói về khoa học kỹ thuật: “Làm khoa học kỹ thuật, càng cao càng tốt, càng mới càng tốt, càng cao càng mới, chúng tôi càng vui mừng. Không chỉ chúng tôi vui mừng mà nhân dân cũng vui mừng, nhà nước cũng vui mừng.”
    (Mọi thông tin, trích dẫn trong bài, nếu không ghi chú gì thêm thì đều được lấy từ cuốn: “Đặng Tiểu Bình – Một trí tuệ siêu việt” của Lưu Cường Luân và Uông Đại Lý, NXB Lao Động, 2006.)
    NĐK

Comments are closed.