Nguyễn Thông
24-2-2025
Cách nay 22 ngày, tức 3 tuần, ngày 4-2, tôi có viết bài về cấp huyện, nhắc tới chủ trương của ông Tô Lâm bàn việc tinh giản, loại bỏ, giải tán công an cấp huyện. Tôi cho rằng đó là một quyết định vĩ đại bởi xưa nay qua hàng chục đời “vua” thời hiện đại xứ này, không ai dám làm vậy, nhất là đụng đến công an.
Trong bài ấy, tôi cũng đề xuất rằng đã bỏ được công an huyện thì hoàn toàn có thể bỏ được tất bộ máy và hệ thống chính trị cấp huyện, kể cả đảng, chính quyền, tòa án, viện kiểm sát, mặt trận, hội đoàn này nọ. Chúng tồn tại một cách thừa thãi, hữu danh vô thực, tốn kém cả đống tiền ngân sách, mà chỉ đạt được mỗi kết quả để cho có, gây vướng víu bộ máy, phiền hà nhân dân.
Có không ít người phản bác ý kiến tôi (tất nhiên phủ nhận cả ông Tô Lâm), bảo rằng không thể bỏ công an huyện, chính quyền, mặt trận, tòa án, kiểm sát, bởi chúng đã tồn tại lâu rồi, quen rồi, là thứ… không thể bỏ. Đến khổ với các vị. Công an mà còn bỏ được thì không gì có thể không bỏ. Giỏi thì đi mà cãi lại ông Tô.
Cứ luẩn quẩn loanh quanh mãi trong thứ tư duy, lý luận cùn mòn do ông trùm lý luận giáo điều Nguyễn Phú Trọng để lại thì sẽ không bao giờ nhìn thấy mặt trời rực rỡ đâu, tôi bảo thật.
Mọi thứ khi “bước vào kỷ nguyên mới” đã rõ ràng như vậy, các ông các bà bảo thủ đừng cãi nữa. Nhưng tôi cũng rất ghét nhiều ông bà giáo sư tiến sĩ, nhà này nhà nọ, ông nọ bà kia, đang quyền cao chức trọng hoặc có thời nghênh ngang “ngoài đường thì ngựa ngựa xe xe, về nhà thì vênh vênh váo váo”, suốt bao năm bám ghế nhưng cấm thấy mở mồm, cứ nín khe, ngậm miệng ăn tiền, chỉ lo cho cái thân mình và gia đình mình, giờ lại nhảy xổ ra lên tivi, lên báo, lên mạng khen này khen nọ, tụng ca ngất trời, tôn ông Tô làm thánh sống. Quá tầm thường.
Nếu đám “tre” gió chiều nào che chiều ấy còn tại vị, thưa thủ lĩnh, nên thải loại ngay; còn đám đã nghỉ nhưng quay ngoắt 180 độ không ngượng mồm, thì nên khởi tố về tội khi đương chức thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Mặt khác, cần biết lắng nghe những lời góp ý thẳng thắn, như của Trương Huy San-Huy Đức chẳng hạn. Nên thả ra bởi đương sự San không có tội, thậm chí còn có công, đáng được khen thưởng.
Tôi viết như trên bởi có căn cứ. Hôm qua 23-2-25, báo chí nhà nước gần như đồng loạt thông tin, đưa lời của ông Phạm Minh Chính thủ tướng về việc bỏ cấp huyện. Báo Sài Gòn giải phóng ghi “Thủ tướng nêu rõ, tinh thần là bỏ cấp huyện, bớt khâu trung gian, làm tốt công tác quản lý để thúc đẩy phát triển”. Cứ trong ý tứ mà suy, chính quyền huyện (ủy ban và các sở ngành) cũng không cần thiết nữa. Trước đó, ông Lê Minh Hưng, ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức trung ương, cũng nói, đại ý đã bỏ được công an huyện thì cũng cần xét đến sự tồn tại của tòa án và viện kiểm sát huyện.
Bộ máy huyện là một thứ điểm nghẽn kinh khủng. Bỏ là phải, hợp với sự phát triển. Xin đừng so với bên Tàu, nói rằng họ vẫn có huyện, có bỏ đâu. Hãy nhớ rằng không phải bất cứ thứ gì của Tàu mà ta cũng phải “học tập và làm theo”, vả lại một huyện nước ấy to bằng cả tỉnh xứ ta, một tỉnh to bằng gần cả nước ta, làm được như họ cũng còn khướt. Ông em rể tôi nhiều lần nói, cả nước ta chỉ nên chia thành năm tỉnh là vừa.
Mà tôi bảo thật, không chỉ nên bỏ huyện (bộ máy) mà xứ ta còn rất nhiều dạng trung gian “thái vô tích” (thừa thãi, rảnh), vô duyên, ít tác dụng, tồn tại trang điểm là chính. Chẳng hạn hội đồng nhân dân (xã, huyện/quận, thậm chí tỉnh); mặt trận tổ quốc (từ trung ương xuống địa phương); tòa án cấp cao (tức tòa thượng thẩm) đã có tòa án nhân dân tối cao rồi, cấp tỉnh xử xong mà không ổn thì tòa tối cao xử, còn lập ra tòa cấp cao làm gì; hai cái đại học quốc gia chỉ tồn tại cho có, sống dựa vào các trường đại học, thành thứ gánh nặng cho cả các trường lẫn quốc gia.
Mà cũng nên xét lại sự tồn tại của cấp thành phố thuộc thành phố, thực ra chỉ tương đương với quận/huyện, như TP. Thủ Đức, TP. Thủy Nguyên, vẽ ra cho lắm làm gì… Nhiều lắm, cần dứt khoát “rũ bùn đứng dậy”, nếu không sáng lòa thì ít nhất cũng trút được gánh nặng, của nợ; để thẳng tiến đến cơm no áo ấm.
Cả ông Lâm, ông Chính, ông Hưng, bà Trà đều hăng hái trong vụ đổi mới này, nhưng đều khôn khéo rằng đang tiếp tục “nghiên cứu”. Ôi dào, rõ như ban ngày rồi, còn chờ gì nữa mà nghiên với cứu.



1. Đặng Tiểu Bình thường được biết đến như một “kiến trúc sư chính của quá trình hiện đại hóa và phát triển kinh tế Trung Quốc”, nhưng ít người biết, những châm ngôn hành động nổi tiếng nhất như thuyết “mèo đen, mèo trắng” hay “mò đá qua sông” lại không hoàn toàn là “phát kiến” của ông. Nó được ông học hỏi từ Lưu Bá Thừa, một người cộng sự chiến trường thân thiết suốt 13 năm của Đặng Tiểu Bình.
Thuyết “mèo đen, mèo trắng” xuất phát từ câu “mèo vàng, mèo đen, chỉ cần bắt được chuột đều là mèo tốt” của Lưu Bá Thừa trong thời gian ông cùng sát cánh với Đặng Tiểu Bình những năm 1930-40 trong cuộc vạn lý trường chinh. “Mò đá qua sông” cũng là câu mà Lưu Bá Thừa đã nói. Thời kỳ lập nước Trung Quốc mới, tướng Lưu Ái Bình nhận lệnh xây dựng trường quân sự, trước khi đi đã đến thỉnh giáo Lưu Bá Thừa. Lưu Bá Thừa nói: “Tôi cho đồng chí sáu chữ và cần phải ghi nhớ. “Hãy mò đá để qua sông””. Đặng Tiểu Bình đã áp dụng chính châm ngôn này trong thời kỳ cải cách mở cửa, khi “mở một con đường máu” là các đặc khu kinh tế.
2. Nhưng chuyện các “ý tưởng lớn” này có phải là phát kiến của riêng ông hay không, đối với Đặng Tiểu Bình, dường như không quan trọng. Ông chưa bao giờ muốn làm nổi bật mình trước tập thể. Chưa từng chính thức giữ các chức vụ nguyên thủ của Trung Quốc, ông luôn “thực sự cầu thị”, không cần hư danh, luôn biết cách lùi lại phía sau, miễn làm sao “được việc là được”. Khi chết, ông được hỏa táng và rải tro cốt xuống biển. Ông có thể xem là một người Cộng sản thực dụng điển hình. Tiếp nhận chủ nghĩa Marx từ những năm 1920 ở tuổi 16-17 khi du học nghề ở Pháp, ông cũng từng được gửi đi học ở Liên Xô, nhưng với ông chủ nghĩa Marx-Lenin chưa bao giờ là một tín điều bất biến. Ông nói: “Học Marx-Lenin phải học cái tinh túy, phải biết áp dụng”, là sự liên hệ lý luận với thực tiễn, chính “thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý”. Với châm ngôn này, cùng với thuyết “mèo đen, mèo trắng”, chỉ những gì “có hiệu quả thực tiễn mới là tốt”, luận thuyết nọ, ý tưởng kia dù nghe có vẻ hay ho đến đâu, mà không áp dụng được trong thực tiễn thì phải ngay lập tức vứt bỏ, “không tranh luận” dài dòng. Ở điểm này có lẽ ông khá giống với Lý Quang Diệu của Singapore.
3. Không phải là một người ưa lý luận, giáo điều, nhưng Đặng Tiểu Bình chưa bao giờ xem nhẹ vấn đề tư tưởng. Trong bản nhận xét của tổ chức về Đặng Tiểu Bình khi ông được gửi sang Liên Xô học, cho rằng, ông có hai thế mạnh là khả năng “tuyên huấn và tổ chức”. Đây có vẻ là nhận xét xác đáng, bởi sau đó, ông đã phát huy đầy đủ cả hai thế mạnh này ở thời gian trong quân đội, với vị trí chính ủy. Một điểm được Đặng đặc biệt lưu ý và luôn đề cao trong quân ngũ đó là “tư tưởng phải thông suốt”. Trước khi bước vào mỗi trận đánh, ngoài tất cả mọi sự chuẩn bị thường quy khác, ông đều phải chuẩn bị làm sao để “tư tưởng phải thông suốt” từ trên xuống dưới. Điều này, cũng được ông áp dụng nghiêm ngặt cho công cuộc cải cách, mở cửa kinh tế ở Trung Quốc sau này.
4. Một điểm nữa không thể không nhắc đến ở Đặng Tiểu Bình đó là tầm nhìn “sáng suốt đến mức kinh ngạc” của ông về vai trò của “khoa học kỹ thuật và giáo dục”. Ông từng nói: “…khi ra nhận nhiệm vụ chúng ta có thể có hai thái độ, một là để làm quan, hai là để làm một chút gì đó”. Đến tháng 7/1977, sau khi được chính thức phục hồi lần ba, ở tuổi 73, Đặng Tiểu Bình đã quyết định “phải làm chút gì đó”, đó chính là “nắm khoa học và giáo dục”. Ngay sau khi được phục hồi lần ba, ông đích thân chủ trì quản lý công tác khoa học kỹ thuật của Trung Quốc. Lợi dụng tất cả các phương thức cũng như các học giả, chuyên gia trong và ngoài nước về mọi lĩnh vực để bàn bạc quy hoạch phát triển khoa học kỹ thuật cao của Trung Quốc.
Nửa tháng sau, ngày 4/8/1977 Đặng Tiểu Bình đã tham dự cuộc tọa đàm về công tác khoa học kỹ thuật và giáo dục do Trung ương tổ chức. Tham gia tọa đàm có 33 chuyên gia, giáo sư nổi tiếng. Trong ngày đầu tiên của cuộc tọa đàm, ông chỉ đọc một bài khai mạc ngắn gọn, sau đó ông chỉ lắng nghe. Hàng ngày, 8 giờ sáng bắt đầu buổi họp, buổi trưa nghỉ rất ít rồi tiếp tục cho đến chiều tối. Rất ít lãnh đạo cấp cao có thể kiên trì ngồi nghe hàng giờ liền như vậy, đặc biệt ở thời điểm đó tại Trung Quốc, các chuyên gia, giáo sư vẫn bị xem là “đối tượng của chuyên chính của cải tạo”.
Tháng 3/1986, một số nhà khoa học già nổi tiếng như Dương Đại Hoành, Vương Kiềm Xương, Dương Gia Tê, Trần Phương Doãn… đã đưa ra một “Kiến nghị về việc theo đuổi sự phát triển kỹ thuật cao của thế giới”. Đặng Tiểu Bình lập tức chỉ thị: “Kiến nghị này vô cùng quan trọng, trong việc này cần làm nhanh và quyết đoán, không thể kéo dài”. Sau chỉ thị của ông, Quốc vụ viện Trung Quốc đã xây dựng: “Kế hoạch phát triển nghiên cứu kỹ thuật cao của Trung Quốc” (gọi là “Kế hoạch 863” – nổi tiếng).
Thực tế, ông đã theo đuổi mối quan tâm thúc đẩy phát triển khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc đến tận những năm cuối đời. Năm 1992, khi đi thăm miền Nam, ông nói: “Tôi nói khoa học kỹ thuật là sức sản xuất số một. Gần hai chục năm nay, khoa học kỹ thuật thế giới phát triển nhanh biết bao? Một đột phá trong lĩnh vực kỹ thuật cao sẽ kéo theo sự phát triển của một loạt ngành nghề khác. Mấy năm gần đây, liệu xa rời khoa học kỹ thuật có thể làm nước ta tăng trưởng được nhanh như vậy không? Phải đề xướng khoa học, dựa vào khoa học mới có hy vọng được”.
Đặng Tiểu Bình rất ít khi nói mình thấy vui về vấn đề gì, thế nhưng, cũng trong chuyến đi thăm miền Nam năm 1992 ông đã bốn lần liên tục dùng từ “vui mừng” khi nói về khoa học kỹ thuật: “Làm khoa học kỹ thuật, càng cao càng tốt, càng mới càng tốt, càng cao càng mới, chúng tôi càng vui mừng. Không chỉ chúng tôi vui mừng mà nhân dân cũng vui mừng, nhà nước cũng vui mừng.”
(Mọi thông tin, trích dẫn trong bài, nếu không ghi chú gì thêm thì đều được lấy từ cuốn: “Đặng Tiểu Bình – Một trí tuệ siêu việt” của Lưu Cường Luân và Uông Đại Lý, NXB Lao Động, 2006.)
NĐK
Hề… hề…, ông Thông này:
1. Tôi xin kể một câu chuyện gần như có thật (vì do tôi thêm mắm thêm muối đôi chút), đó là, khi Bộ Giáo Dục (lú ấy chưa có cái đuôi là: VÀ ĐÀO TẠO) thành lập ĐHQG Hà Nội, Đại học này quy tụ các trường ĐH đầu ngành ở Hà Nội, nhưng, chỉ kết nạp ĐHSP Hà Nội 1 mà không thèm cho ĐHSP 2 (Xuân Hòa) vào trong biên chế của mình. Một thời gian sau, ĐHSP Hà Nôi 1 phát hiện ra con dấu của mình NHỎ HƠN CON DẤU của ĐHSP 2 cho nên họ đã ly khai khỏi ĐHQG Hà Nội, dẫn đến việc các trường ĐH tầm cỡ khác cũng ly khai dần khỏi ĐHQG, và, ĐHQG chỉ còn là cái XÁC SỐNG, nên, để cho mình còn tồn tại ở tư cách pháp nhân, ĐHQG đành phải thành lập các khoa, trường mới với chất lượng thỉnh giảng ở giai đoạn đầu là chính. Và, hậu quả hiện nay là đất nước ta tồn tại hai loại bác sĩ được đào tạo từ trường ĐH Y và từ ĐHQG, có nên so sánh trình độ “thực chiến” của hai loại bác sĩ này không!!?
2. Ở bài trước của ông, tôi đã “còm” rằng thì là mô hình tiết kiệm chi tiêu nhất lại là mô hình Phát Xít (Fascio), đó là, quan hệ qua lại trực tiếp từ THƯỢNG TẦNG KIẾN TRÚC tới thẳng tới HẠ TẦNG CƠ SỞ, tức là nhà nước tw bỏ qua luôn mọi cấp trung gian huyện, tỉnh, vùng… mà làm việc trực tiếp tới từng xã. Vậy thôi!!
Hề… hề…, bổ sung: Ông Thông này, tôi biết ông có khả năng viết bài LỌT LỖ NHĨ của các vị LÃNH TỤ, vì thế, tôi đề nghị ông:
1. Ông hãy cố gắng thuyết phục các LÃNH TỤ hãy bỏ các tổ chức quần chúng, đưa các tổ chức này về CHO DÂN NUÔI. Được không!!?
2. Ông hãy cố gắng thuyết phục các LÃNH TỤ đừng NHÀ NƯỚC HÓA các TRÒ CHƠI nữa (có những trò như BÓNG ĐÁ, chẳng hạn, nhà nước phải huy động MỌI NĂNG LỰC CHÍNH TRị để cổ vũ cho một trận đấu TÀO LAO CHI KHƯƠN không thể gọi là đỉnh cao). Có được không ạ!!!?