Những câu hỏi về vụ Hồ Duy Hải và Lê Đình Kình (Bài 11)

  •  
  •  
  •  
  •  

Nghiêm Huấn Từ

12-9-2020

Tiếp theo: Bài 1: Nếu lâm nạn, liệu cách ứng phó nào tối ưu? Bài 2: Chống oan sai: Khó như lên Trời! Bài 3: Vì sao Hồ Duy Hải chưa thể bị thi hành án; Bài 4: Sai trái phiên tòa giám đốc thẩm vụ Hồ Duy Hải; Bài 5bài 6: Chặng đường gian lao đi đến phiên giám đốc thẩm; Bài 7A: Khúc khuỷu con đường tới phiên tòa tái thẩm; Bài 7B: Đồng chí Nguyễn Hòa Bình và phiên tòa tái thẩm; Bài 8: Hoán đổi vị thế giữa bên “Buộc tội” và “Gỡ tội”; Bài 9: Liệu “kiến nghị” của VKS có cứu được Hải? Bài 10: Phiên tòa tái thẩm: Hy vọng sống của Hồ Duy Hải

***

Vụ Lê Đình Kình: Xử như một vụ án chính trị

1- Danh nghĩa là vụ án hình sự, nhưng xử như vụ chính trị

a- Sự thể hiện bên ngoài, dễ thấy nhất, đó là những vụ án “công khai” nhưng cực kỳ hạn chế số người tham dự và họ bị kiểm tra tới mức xúc phạm nhân phẩm, kể cả các luật sư. Nói khác, các biện pháp an ninh rất ngặt nghèo, khiến người không liên quan cũng thấy khó chịu, căng thẳng. Nhưng thôi, hãy nói về cách thức xét xử và nội dung xét xử.

b- Ở VN, chỉ cần dùng lời lẽ phê phán những sai trái của giới cầm quyền sẽ bị quy tội chính trị, như “lợi dụng quyền tự do ngôn luận”, “chống chế độ”, “lật đổ”… và bị trừng phạt rất nặng nề, tàn bạo. Không thiếu các dẫn chứng. Không những về ngôn luận, mà về văn hóa, kinh tế, đất đai, luật lệ… hễ bị coi là thách thức quyền lực đều bị xử như phạm tội chính trị. Xin nói thêm: Tội chính trị dưới một chế độ độc tài, đã kinh. Nhưng dưới chế độ CS lại càng kinh. Và dưới chế độ CS đang sống sót, mới thật khiếp.

Trường hợp bà Cấn Thị Thêu (và hai con trai bà là Trịnh Bá Phương và Trịnh Bá Tư) là một trong vô số ví dụ. Ban đầu, họ rất nhút nhát, rất sợ va chạm với quyền lực, chỉ muốn yên thân. Do vậy, họ chỉ muốn giữ được mảnh đất của mình để sinh sống yên phận. Nhưng rồi họ mất đất, sự đền bù không thỏa đáng (như ăn cướp), họ cố giữ tài sản, đất đai. Sự kiên nhẫn, kiên trì của họ lại bị coi là “ngoan cố”, “chống đối”, bị quy là do sự xui giục của “thế lực thù địch”. Và… đi tù. Và gia nhập khối tù nhân lương tâm.

c- Khái niệm tù nhân lương tâm ở nước ta được mở rộng (so với nội hàm ban đầu của nó); do vậy, khái niệm này ở nước ta không những đúng với Cù Huy Hà Vũ; Lê Công Định; Nguyễn Đan Quế; Nguyễn Văn Hải; Nguyễn Văn Lý; Phan Thanh Hải; Tạ Phong Tần; Vi Đức Hồi, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Hữu Vinh, Trần Thị Nga, Trần Huỳnh Duy Thức v.v… mà đúng với Cấn Thị Thêu nữa.

Bởi vì, đấu tranh cố giữ những quyền lợi chính đáng về kinh tế sẽ dẫn tới chỗ phải sử dụng Luật để tự bảo vệ mình và tài sản. Và đây chính là thách thức quyền lực, do vậy mà bị đàn áp. Thủ đoạn đàn áp ở các nước CS (nói chung) đã kinh; nhưng ở các nước CS nông nghiệp mới thật khiếp (!). Tinh vi, thủ đoạn, hèn hạ, bẩn thỉu… đủ cả.

d- Sự hình thành khái niệm dân oan. Không những tù nhân lương tâm (đấu tranh cho quyền lợi chung) mới bị xử oan, mà vô số người đấu tranh cho quyền lợi riêng cũng bị xử lý oan ức. Do vậy, chỉ ở Việt Nam mới hình thành khái niệm “dân oan” – gồm đủ mọi đối tượng xã hội, kể từ các cụ Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Thị Năm… cho tới những dân đen đúng nghĩa, nằm ở tầng thấp nhất của xã hội. Ví dụ, một bị cáo bị xử oan đã tự tử (nhảy từ tầng lầu của tòa án tỉnh Bình Phước xuống đất). Trước khi chết, có lẽ chỉ dăm chục người “ở đất nước trăm triệu dân” có quen biết tới cái ông “dân oan” này.

e- Luật Đất Đai tạo ra khối dân oan, gồm hàng triệu người. Trước khi được mệnh danh là “dân oan”, tất cả có chung cái tội là thách thức quyền lực của ĐCS. Đó là dám đứng lên đòi thực thi một quyền gì đó, thiết thân, có ghi trong Hiến Pháp. Nguyên nhân tạo ra 70% dân oan ở nước ta là một câu trong Luật Đất Đai, nay rất nhiều người đã thuộc nó. Qua nội dung câu này, người dân bình thường hiểu “thế nào chủ nghĩa Mác-Lê” được ĐCSVN vận dụng tài tình và sáng tạo ở nước ta.

f- Vụ án ở xã Đồng Tâm cũng vậy. Nó được khởi tố dưới dạng một vụ án hình sự, nhưng thực chất là để trấn áp hành động phản kháng của nông dân do sự sai trái của chính quyền trong thực thi Luật Đất Đai. Nó sẽ được xử như một vụ án an ninh chính trị. Dễ thấy nhất là không khí ngột ngạt ngay ở bên ngoài nơi xử, trong phạm vi tính bằng kilomet.

Sự việc đưa đến vụ án rất đơn giản. Tháng 4-1980 ông Đỗ Mười (đứng đầu chính phủ) quyết định lấy một diện tích đất nông nghiệp (trong đó có 47,3 ha của nông dân xã Đồng Tâm) để Bộ Quốc Phòng làm sân bay. Nếu không có cái câu “sặc mùi CS” trong Luật Đất Đai, ông Đỗ Mười không có quyền làm như vậy. Thực tế, suốt 40 năm mảnh đất này vẫn không thành sân bay, nhưng cũng không trả lại cho dân để sản xuất. Rồi, Bộ Quốc phòng dự định xây một nhà máy (sai mục đích ban đầu), nhưng (nhân tiện) lấn thêm 59 ha đất nông nghiệp (thuộc cánh đồng Sênh) của dân thôn Hoành, xã Đồng Tâm.

Lẽ thường, người dân phản đối – đòi đối thoại để hai bên (chính quyền và người dân) đưa văn bản, bằng chứng ra tranh luận với nhau, coi bên nào có lý. Trên thực tế, khi Bộ Quốc phòng tiến hành xây tường rào khu sân bay, dân rất mừng, nghĩ rằng “thế là cánh đồng Sênh vẫn là đất canh tác của dân”. Nhưng chính quyền CS vẫn quyết chiếm lấy diện tích này, bằng cách giở cái trò “thanh tra” để đi tới kết luận “dân sai”… Cuối cùng, như ta thấy: Cuộc bố ráp ban đêm của 3000 cảnh sát cơ động vào thôn Hoành làm chết 4 người, mục đích vẫn chỉ là trấn áp sự chống đối quyền lực – như mọi trấn áp khác.

2- Nguồn gốc và thực chất vụ Đồng Tâm

a- Nguồn gốc xa xưa của vụ Đồng Tâm là từ chính sách đất đai của đảng Cộng Sản VN, thực thi từ năm 1953 bằng cuộc Cải Cách Ruộng Đất. Trước đó, để lôi kéo nông dân (thời xưa chiếm 95% số dân) đảng CS đề ra khẩu hiệu “Người cày có ruộng”. Cải cách ruộng đất là dùng bạo lực tước đoạt ruộng của của địa chủ, phú nông để chia cho người nghèo. Nhưng ngay sau chia đất, ĐCS lại tước đoạt ruộng đất của nông dân bằng cách buộc họ phải đưa ruộng đất vào hợp tác xã. Điều này nằm trong chủ trương công hữu hóa mọi tư liệu sản xuất, gồm cả công nghiệp (nhà máy) và nông nghiệp (đất đai).

Ngày nay, để thấy phần nào thảm họa do Cải cách ruộng đất gây ra, những người U70 chỉ cần đọc lại vụ án Nguyễn Thị Năm là tạm đủ.

Còn chủ trương “hợp tác hóa nông nghiệp” cũng gây thảm cảnh không nhỏ. Đó là thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ trước. Thảm họa lập tức xảy ra: Sản xuất tập thể thất bại, gây ra sa sút nặng nề về đời sống, dân tình cực khổ. Đây cũng là thời gian ĐCS phát động cuộc chiến tranh, Bắc – Nam, đổi xương máu của dân lấy viện trợ vũ khí và lương thực. Để hiểu quá khứ cách nay trên nửa thế kỷ, chỉ cần đọc để biết về một nạn nhân: Kim Ngọc.

b- Sau Cải cách ruộng đất và Hợp tác hóa nông nghiệp, là sự tước đoạt đất đai bằng một câu đơn giản “đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước (của ĐCS) toàn quyền quản lý“. Đảng vô sản bỗng dưng chiếm được quyền sở hữu đất đai, tạo thành một lớp tư bản đỏ. Thảm họa (mà câu này tạo ra) là sự hình thành hàng triệu “dân oan”, chỉ vì đấu tranh bảo vệ quyền lợi liên quan tới đất đai.

3- Vai trò cụ thể của ĐCS trong vụ Lê Đình Kình

a- Mục tiêu số 1 của vụ tập kích là tiêu diệt Lê Đình Kình. Cái tên này xứng đáng được dùng để gọi tên vụ án. Đây chính là nhân vật quyết giữ lại cánh đồng Sênh cho dân, mà suốt 65 năm công tác ở địa phương nhân vật này hiểu rất rõ: Chính quyền CS chưa bao giờ có quyết định thu hồi cánh đồng Sênh.

b- Vụ đàn áp này, có thể nói được chuẩn bị rất sớm, rất toàn diện. Riêng việc huy động cả một trung đoàn cảnh sát phải do một cấp rất cao quyết định. Tư liệu của nhà nước cho thấy 3000 cảnh sát được tập luyện sẵn trước đó hàng tháng trời.

Sự chỉ đạo hẳn là phải từ cấp tối cao, vì chỉ 24 giờ sau khi hoàn tất cuộc đàn áp, đồng chí Tổng bí thư/ Chủ tịch nước (Nguyễn Phú Trọng), đồng chí Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và đồng chí Bộ trưởng Công an (Tô Lâm) đã có ngay những động thái xử lý hậu quả: Vừa khen thưởng lực lượng đàn áp, lại vừa gán tội cho dân. Nào là lập tức công nhận liệt sĩ, nào là thăng quân hàm đặc cách và cấp tốc, nào là lễ truy điệu và an táng vừa khẩn trương, nhưng rất trọng thể, nào là bắt toàn ngành CA học tấm gương… Hành động tức khắc của cấp tối cao như nói trên, hẳn là phải được dự kiến từ trước trong một kế hoạch rất đầy đủ.

c- Sau đó, là khởi tố vụ án cũng khẩn trương không kém. Trong đó, từ khâu điều tra, khâu lập hồ sơ, khởi tố và khâu xét xử… đều do đảng viên CS thực hiện. Tới đây, khi tuyên án, chánh tòa sẽ đứng dưới cái quốc huy CS và nhân danh nhà nước CS (không nhân danh công lý).

d- Dù kết tội ra sao, đây là một vụ án vu khống. Do vậy, sự vi phạm Luật sẽ được cố ý thực hiện ngay từ khâu điều tra, khâu tạo ra cáo trạng để khởi tố và khi xét xử. Ngay từ khi bộ Công An giải thích trên truyền thông đã lộ ra nhiều mâu thuẫn (giấu đầu hở đuôi, tiền hậu bất nhất), sau này không thể cải chính được nữa.

4- Cách xét xử cụ thể và cách hóa giải

a- Phiên tòa sơ thẩm diễn ra tháng 9-2020, tất nhiên phải áp dụng Luật tố tụng mới (2015). Nghĩa là phải thay hẳn cách xử thẩm vấn (lạc hậu) bằng cách xử tranh tụng (tiến bộ, công bằng). Muốn vậy, Hội Đồng xét xử (các thẩm phán) phải trung lập, đóng vai trọng tài nghe hai bên (công tố và luật sư) tranh luận… để rút ra kết luận Đúng/Sai và phải áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội… Nếu không như vậy, cái phiên tòa chính trị này sẽ gây ra oan sai “cao như núi, dài như sông”… cho 29 bị cáo.

b- Hãy liên hệ với phiên tòa giám đốc thẩm vụ Hồ Duy Hải để thấy cách thức xét xử quen thuộc – dù luật mới đã ra đời được 5 năm. Đây là phiên tòa lớn trong cả nước, mới cách nay 4 tháng, do đích thân đồng chí chánh tòa tối cao Nguyễn Hòa Bình làm chủ tọa. Ông này còn đương nhiệm bí thư Trung ương, do vậy ông là đại diện cao nhất của đảng CS trong ngành Tư Pháp nước ta. Ông hành xử thế nào đều theo đường lối, chủ trương của ĐCSVN.

Lẽ ra, chính ông phải rất gương mẫu áp dụng luật mới, nhưng dư luận đã hoàn toàn thất vọng. Do vậy, tới phiên tòa này (vụ Lê Đình Kình) thật khó mà tin rằng, 100% đảng viên CS điều hành có thể áp dụng Luật mới – tuy luật này thể hiện công lý, nhưng lại có hại cho quyền lực của ĐCS.

c- Phiên tòa xử vụ Lê Đình Kình là phiên tòa vu cáo, bởi vì cuộc đàn áp vừa qua là không cần thiết, thậm chí không phù hợp pháp luật. Bởi vì, muốn tước vũ khí (thô sơ) của một dúm người tự phát và tự vệ, có rất nhiều cách mà pháp luật đã hướng dẫn và cho phép. Do vậy, việc huy động cả một trung đoàn cảnh sát 3000 người để bắt vẻn vẹn 30 người là chuyện vô pháp, vô luân, lại hành xử bất ngờ, ban đêm… là rất không hợp pháp. Lẽ ra, những người chủ trương phải bị lên án, phải ra tòa, phải là bị cáo… nhưng nay thì ngược lại. Bởi vậy, đây là vụ án oan, với những “lời khai nhận tội” (do bị bức cung) là chủ yếu, còn những “chứng cứ” được thu thập sẽ không hợp lệ, thậm chí bịa đặt. Và cách xét xử sẽ là né tránh tối đa sự áp dụng luật mới

d- Triển vọng. Phải có chữ “nếu”, nếu các luật sư đòi hỏi khiến Tòa buộc phải xử theo cách tranh tụng và Hội Đồng xét xử phải đóng vai trọng tài, công lý sẽ được thực thi. Mọi người sẽ tâm phục, khẩu phục. Khả năng này là tiệm cận 0%. Dẫu sao vẫn phải kiên nhẫn và kiên quyết đòi hỏi, và đòi hỏi trong suốt quá trình xét xử. Vừa qua, tập thể luật sư đã có những kiến nghị kịp thời và xác đáng, ví dụ đòi được tiếp xúc với thân chủ ngay tại tòa (theo luật)… và đã được đáp ứng một phần.

Triển vọng xấu là chánh án vẫn tuyên theo một bản án bỏ túi, nhưng thấp hơn rõ rệt so với mức án do công tố viên đề nghị. Ví dụ, công tố đề nghị 3 án tử hình (để dọa cho hãi), nhưng khi chính thức tuyên án (bỏ túi) thì chỉ còn 1 tử hình và khi phúc thẩm chỉ toàn là tù chung thân. Đó là âm mưu dọa giết cho sợ vãi đái, rồi “tỏ ra khoan hồng” để nạn nhân biết ơn Trời-Biển. Không thể chấp nhận điều này, nhưng phải có cách làm phù hợp. Đó là tố cáo liên tục trong suốt quá trình chờ đợi phiên tòa sau (phúc thẩm). Dư luận trong nước và quốc tế sẽ làm chùn lại những bàn tay vấy máu.

e- Chứng minh vô tội cho các thân chủ tất nhiên là rất quan trọng, nhưng với một vụ án vu cáo tới mức đổi vị trí thủ phạm và nạn nhân thì điều này chưa phải là quan trọng nhất. Quan trọng nhất là chứng minh sự vi phạm Luật Tố Tụng trong suốt quá trình hình thành Hồ sơ vụ án và Bản cáo trạng. Nghiêm trọng nhất là ở bước điều tra. Chứng minh thành công càng nhiều, tội của bị cáo càng giảm, kể cả vô tội.

LS Nguyễn Danh Huế cho biết“Tôi đã từng tham dự nhiều phiên toà liên quan đến tội danh ‘Chống người thi hành công vụ’ hay ‘Gây rối trật tự công cộng’. Hầu hết những phiên tòa này đều có lực lượng cảnh sát dày đặc, thậm chí phong toả toàn bộ khu vực xét xử, cấm luật sư đem điện thoại, máy tính vào phòng xử án hoặc lắp đặt hệ thống máy phá sóng. Trong phần tranh luận, đại diện Viện Kiểm sát cũng không chịu đối đáp đến cùng với luật sư, hội đồng xét xử thường hỏi theo hướng buộc tội, nhân chứng quan trọng để gỡ tội thường vắng mặt và cuối cùng, mức án rất nghiêm khắc được đưa ra”.

LS Ngô Anh Tuấn viết: Luật sư là đứa con hoang của nền Tư Pháp: “Một thực tế là các vụ án mang màu sắc chính trị thì việc kiểm soát an ninh chặt chẽ từ vòng ngoài là chuyện thường và tôi không tỏ thái độ khó chịu dù bị kiểm tra ít nhất 4 vòng. Tuy nhiên, điều khiến tôi vô cùng phẫn nộ đối với việc tổ chức phiên toà sáng nay là những vấn đề sau:

1. Dù TAND thành phố Hà Nội mượn trụ sở của TAND Cấp cao tại Hà Nội để xét xử, nhưng luật sư không được đi xe vào sân toà để gửi như những phiên toà khác. Khắp dãy phố Phạm Văn Bạch từ khu vực Thanh tra Chính phủ tới trụ sở VKSNDTC, luật sư cũng không được để xe, ngay cả các chỗ trông xe của dân xung quanh đó cũng được công an trưng dụng, dù còn chỗ nhưng cũng không cho luật sư gửi. Riêng việc tìm chỗ đỗ xe, tôi mất gần 30 phút loay hoay tìm.

Một cán bộ an ninh quen với tôi khá lâu, bảo luật sư cứ vứt ngoài đường để vào toà đi cho kịp giờ, nếu công an cẩu xe thì tôi đi “xin” cho. Nhưng tôi không muốn phiền tới họ…

2.TAND Cấp cao Hà Nội mở cổng cho tất cả các mọi người vào làm việc nhưng kiên quyết không cho luật sư đi vào mà bắt luật sư phải đi vòng lại cổng TAND thành phố Hà Nội, cách đó khoảng 200m. Chưa hết, vào được cổng TAND thành phố Hà Nội, lại phải đi 1 vòng qua sau lưng TAND Cấp cao tại Hà Nội, vòng qua cửa chính TAND Cấp cao tại Hà Nội rồi mới đi vào bên cổng phụ để vào toà. Nghĩa là để đi được vào phòng xử án, các cán bộ của các cơ quan khác chỉ mất trên dưới 50m, còn luật sư phải đi vòng hết ít nhất là 350m. Trời sáng nay mưa tầm tã, vào được đến toà bằng kiểu cực hình đó, nhiều luật sư chúng tôi bị ướt sũng như luật sư Lê Văn Luân, Nguyễn Hà Luân, Phạm Lệ Quyên… và cả tôi, Ngô Anh Tuấn.

Tôi không hiểu người ta nghĩ luật sư là cái giới gì, xếp hạng gì trong hệ thống tư pháp Việt Nam nữa. Họ đang nghĩ luật sư là những kẻ cặn bã, những kẻ cúi đầu chạy án, ngậm miệng ăn tiền…? Ai cho họ cái quyền phân biệt đối xử với luật sư?

Không chỉ các luật sư được gia đình các bị cáo mời bị đối xử tệ hại mà chính những luật sư chỉ định (mà nhiều người coi đó như là tay sai của họ, bước theo chân họ và nói theo miệng họ) cũng bị đối xử như vậy. Tuy nhiên, chỉ có kẻ “lắm mồm” như tôi mới dám nổi khùng lên và vào quát ầm ĩ mà thôi, còn những người khác đều ngoan ngoãn chấp nhận vì chắc họ nghĩ phận mình chỉ đáng vậy thôi, có ý kiến cũng bằng thừa.

Trong khi đó, người cấp thẻ hành nghề cho luật sư là Bộ Tư pháp thì cũng chẳng coi giới luật sư ra gì, họ chỉ săm soi tìm các lỗi sơ hở của luật sư để phạt hay dọa nạt tước thẻ hành nghề. Liên đoàn luật sư thì nhiều việc, không bao quát hết các vấn đề của đồng nghiệp dù dạo này họ cũng tỏ rõ sự quan tâm tới anh em hơn trước. Tệ nhất có thể nói là cái Đoàn luật sư thành phố Hà Nội, ngoài việc lo đấu đá nội bộ thì họ chẳng quan tâm gì ngoài việc nhắc nộp phí thành viên…

Lý thuyết, luật sư là một mắt xích quan trọng, là nền tảng quan trọng cho công cuộc cải tổ nền tư pháp nước nhà để bắt kịp trình độ quốc tế, nhưng thực tế thì khác xa. Về số lượng, lực lượng luật sư ngày một đông hơn nhưng vị thế của luật sư đang không được xem trọng đúng mực, không chỉ trong những phiên toà đặc biệt như phiên toà hôm nay.

Nếu mỗi một luật sư không tự ý thức, tự đấu tranh trong từng tình huống nhỏ và nếu các cơ quan quản lý luật sư không có phương án, chính sách tốt để bảo vệ luật sư, thì ngày càng nhiều những luật sư tâm huyết, có tài sẽ bỏ nghề và phần lớn sẽ xuôi theo chiều gió để tồn tại – khi đó, nếu xã hội có khinh chúng ta hơn nữa thì đó âu cũng là điều xứng đáng!

Bình Luận từ Facebook

1 BÌNH LUẬN


  1. ĐỒNG TÂM : 29 nạn nhân – tù nhân oan sai uất hận cũng sẽ là 100 triệu Tù nhân Việt
    *********************************

    Tương quan trong Trường Tình thương
    Giữa Đồng bào với Đồng hương
    Như nhà tù Nhỏ – nhà tù Lớn
    Không tách biệt riêng lẻ đơn phương
    Vậy cá nhân chẳng là ốc đảo hoang mạc
    Cho nên mỗi Tù nhân Lương tâm trong khám
    Đều khiến hàng triệu Trái tim Việt Nam thắt lại
    Vì chúng ta dấn thân cho Đất Việt dấu yêu này
    Huống hồ chi ĐỒNG TÂM : 29 nạn nhân – tù nhân
    Oan sai uất hận cũng sắp là 100 triệu tù nhân dự khuyết
    Già làng LÊ ĐÌNH KÌNH Tuổi xuân HỒ DUY HẢI vô tội
    Là hai Hồi chuông gọi Hồn phiên chúng ta dù Lương dân
    Mỗi án tù bất công từ Tòa án Chuột Úc bỏ túi
    Chắc phải làm Tâm hồn bạn Trái tim tôi chết đi
    Vì chúng ta dấn thân cho Đất Việt dấu yêu này
    Vì nhà tù Nhỏ dễ hóa thành nhà tù Lớn nhost Toàn Dân
    Vì thế bản án bỏ túi phủ xuống Phận người oan uất
    Chính cũng là phát đạn bắn vào đầu Bạn và tôi đấy ! !!

    TRIỆU LƯƠNG DÂN VIỆT

BÌNH LUẬN

Xin bình luận ở đây
Xin nhập tên của bạn ở đây