Biến đổi khí hậu, cuộc chiến của Việt Nam ngày nay (Phần 1)

  •  
  •  
  •  
  •  

Phóng sự của đài truyền hình Arte

Tác giả: Laure Siegel, Luke Duggleby Hugo Leenhardt

Dịch giả: Nguyễn Văn Vui

1-9-2018

Sau những kinh hoàng của chiến tranh, Việt Nam ngày nay phải đối mặt với thử thách lớn nhất của thế kỷ 21: thích nghi với biến đổi khí hậu. Dải đất hình chữ S kéo dài từ Bắc chí Nam này đang phải vật lộn với các đợt hạn hán, mưa bão và lũ lụt ngày càng khắc nghiệt, cũng như với những thay đổi dài hạn như ngập mặn vùng ĐBSCL, xói lở bờ biển và mực nước biển dâng lên. Nhịp tăng trưởng kinh tế nhanh, đô thị hoá và công nghiệp hóa thiếu kiểm soát, mà chẳng lưu tâm gì đến môi trường, tất cả đều là những gánh nặng rất lớn cho các hệ sinh thái.

Thêm vào đó, việc xây các đập thủy điện trên sông Cửu Long đã đe dọa vấn đề bảo đảm lương thực cho tương lai. Từ Cần Thơ qua thành phố Hồ Chí Minh cho đến các tổ chức xuyên quốc gia của vùng sông Mekong, các nhà nghiên cứu, các nhà bảo vệ môi trường và tầng lớp nông dân đang cố gắng vận động dư luận. Mục tiêu của họ là khai triển những giải pháp thay thế để hạn chế tối đa các thiệt hại cho môi trường và các tác hại về kinh tế – xã hội của chúng, nhằm bảo vệ sự sinh tồn cho dân chúng.

Phần 1: Đồng bằng sông Cửu Long – một ca cấp cứu vì biến đổi khí hậu

Sông Mekong, sau sông Amazon là dòng nước có tính đa dạng sinh học nhất trên thế giới, nó uốn khúc trên 4.500 km xuyên qua Đông Nam Á. Từ hàng thế kỷ qua, nó là mạch sống xã hội và văn hóa của khu vực. Nó chuyên chở các nhà trên sông, các chợ nổi, nó là nơi tổ chức các lễ hội, là đường giao thông sông nước, dự trữ cá, nó cũng là trục chính của vệ sinh và của ngành du lịch.

Ở miền Nam Việt Nam, sông Mekong xòe ra như các nan quạt trong một vùng đồng bằng rộng lớn, trước khi đổ ra Biển Đông. Trước đây 3 thế kỷ, những ngôi làng đầu tiên mọc lên trong vùng đồng bằng ẩm thấp này, một vùng rộng lớn bằng nước Thụy Sĩ và được bao phủ bởi rừng rậm vào thời điểm đó. Có đến 18 đến 20 triệu dân hiện sinh sống trong 12 tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long, ba phần tư trong số họ sống về nghề nông.

Nhịp điệu của dòng sông cho phép nông dân thâm canh lúa khắp vùng châu thổ với 2-3 vụ mùa mỗi năm. Vô số các mương lạch, đê điều, kênh rạch và hệ thống khóa nước đã biến vùng đồng sông Cửu Long trở thành một trong những vùng nông nghiệp sản xuất hiệu quả nhất trên thế giới. Năm 1997, Việt Nam trở thành nước sản xuất gạo lớn thứ hai sau Thái Lan, nhờ vào sự lựa chọn của các giống lúa có năng suất cao và nhờ cơ sở hạ tầng tiên tiến. “Lúa thần nông” đã mang lại sự thịnh vượng. Phương pháp canh tác truyền thống lúa nước dần dần bị bỏ rơi trước những cái lợi của việc dẫn thủy nhập điền.

Tuy nhiên năm 2017 Việt Nam tuột hạng xuống vị trí thứ 5 về xuất khẩu gạo sau Ấn Độ, Thái Lan, Mỹ và Pakistan. Lý do là vì đồng bằng sông Cửu Long phải vật lộn với một lô vấn đề nghiêm trọng làm tổn hại đến chất lượng lúa gạo. Chúng ta có thể xem đất vùng châu thổ giống như một miếng xốp khổng lồ: Vào mùa mưa nó hút nước vô đầy lòng đất, rồi vào mùa khô nó lại thải nước ra dần dần. Cho nên nước khi nào cũng đục, đục nhiều hay ít là tùy theo mùa mà thôi. Trong hệ thống sinh thái đặc biệt này, muối luôn luôn là một thành tố. Nhưng vài năm trở lại đây, độ mặn của đất đã bị mất kiểm soát.

Vào tháng 1/2016, vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã trải qua một thời kì hạn hán tồi tệ nhất trong lịch sử cận đại. Nguyên nhân là vì hiện tượng El Nino và vì mùa mưa đến quá trễ. Nhưng nguyên nhân cũng là vì tác hại của vô số các đập nước trên sông Mekong và các nhánh của nó (xin xem Chương 3). Mực nước ở vùng đồng bằng nay hạ còn thấp hơn cả hồi năm 2006, thấp nhất kể từ năm 1926. Và như thế tình trạng nhiễm mặn đã lan đến một nửa trong số 2,2 triệu ha đất đai canh tác, phá hủy mùa màng và phá cả nguồn nước uống.

Tầm quan trọng của đồng bằng sông Cửu Long đối với nền kinh tế Việt Nam: ĐBSCL chiếm

12% lãnh thổ quốc gia và 19% dân số
50% sản lượng gạo
65% nuôi trồng thủy sản
70% sản lượng trái cây
95% xuất khẩu gạo
60% xuất khẩu cá

(Nguồn: Ủy ban sông Mekong – 2017)

Độ mặn ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong vụ hạn hán nghiêm trọng vào mùa đông 2015-2016 (cây lúa chỉ chịu đựng tối đa 4 gram muối mỗi lít). Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Học viện Việt Nam về nguồn nước.

Ngoài hiện tượng bị nhiễm mặn thì theo WWF, Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những khu vực bị đe dọa nghiêm trọng nhất bởi mực nước biển dâng cao, vì nó nằm cao hơn mặt nước biển chỉ một đến hai mét mà thôi: “Ngay cả trong trường hợp mực nước biển dâng lên chỉ một mét trong tương lai, thì việc này cũng là một hiểm họa đối với sự đa dạng các giống loài sinh vật trong những khu vực vốn đã bị các sinh hoạt của con người làm suy yếu, thậm chí hủy diệt lâu nay”.

Trong kịch bản xấu nhất, nếu mực nước dâng lên một mét cho tới năm 2100 (so sánh với mực nước năm 1986), thì tất cả các khu vực màu đỏ – tức là một phần ba đồng bằng – sẽ bị biển ngập vĩnh viễn và do đó không còn trồng trọt gì cả và không thể sinh sống được nữa.

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Học viện Việt Nam về nguồn nước

Một số nghiên cứu khác đánh giá các giả định này một cách tương đối hơn và ước tính rằng vào cuối thế kỷ này, nước biển sẽ “chỉ” dâng cao tối đa 77 cm. Nhưng lại có một hiện tượng thứ hai nghiêm trọng hơn nhiều và làm các chuyên gia lo lắng hơn nhiều: Đó là hiện tượng đất lún sụt của toàn bộ Đồng bằng sông Cửu Long.

Kể từ khi mở cửa kinh tế vào cuối những năm 1980, với nhu cầu gia tăng nhanh chóng về nước uống và nước cho nông nghiệp cũng như cho nuôi trồng thủy sản trong tiến trình hiện đại hóa, Việt Nam đã bơm hút lấy hàng triệu mét khối nước ngọt để dùng. Hậu quả là đồng bằng lún sụt xuống từ 1 đến 4 cm mỗi năm, nhanh gấp ba hoặc bốn lần tốc độ mực nước biển dâng lên.

Bản đồ đầu tiên là một mô hình computer cho thấy sự lún sụt đất tại ĐBSCL trong 25 năm, giữa năm 1991 và 2016. Bản đồ thứ hai cho thấy sự tăng tốc của tiến trình lún sụt đất trong năm 2015.

Nguồn: Tác hại của 25 năm rút nước ngầm trên sự lún sụt đất tại Đồng bằng sông Cửu Long

Đối với một nước bị chiến tranh và đói kém tàn phá trong nhiều thập kỷ như Việt Nam thì việc bảo đảm lương thực là điều khó thực hiện nếu không có thâm canh lúa. TS Dương Văn Ni, một nhà nghiên cứu tại Đại học Cần Thơ cho biết ông đã sống với một bát cơm mỗi ngày trong thời chiến tranh. Cho nên ông hiểu việc thâm canh lúa là điều cần thiết trước đây, nhưng ngày nay chính ông cho rằng phải từ bỏ phương pháp độc canh này, càng sớm càng tốt: “Chúng ta phải đa dạng hóa việc cach tác, phải bớt sử dụng hóa chất lại và phải tiết kiệm nước hơn. Mục tiêu chiến lược sản xuất gạo và các sản phẩm xuất khẩu khác để được càng ngày càng nhiều như hiện nay là hoàn toàn không khả thi trong dài hạn nữa”.

Dương Văn Ni nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu từ cuối những năm 1990. “Tôi thấy rõ rằng nông dân của chúng tôi đặc biệt chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Họ đã phải đối mặt với mùa màng thất bát trong nhiều năm trời, mặc dù họ vẫn sản xuất theo kinh nghiệm được hình thành qua bao thế hệ, bằng cách gieo trồng đúng thời điểm và chọn đúng giống cây.”

Kết luận của ông dựa trên những quan sát thường xuyên và tích cực của người nông dân. Họ nhận ra thời tiết, khí hậu đã thay đổi, không còn như xưa nữa, cho nên nông dân vùng ĐBSCL đang rơi vào tình trạng kiệt quệ. Ông Dương Văn Ni nói: “Biến đổi khí hậu không phải là những cơn bão kinh hồn mà bạn thấy trên TV, mà nó thể hiện hàng ngày qua biết bao nhiêu là thảm họa nhỏ, những thảm họa cá nhân, chúng làm cho người nông dân mắt ăn mất ngủ, vì họ biết lương thực sẽ không kéo dài đủ cho đến cuối năm.”

Năm 2013 nhà nước đã ban hành “Kế hoạch cho Đồng bằng sông Cửu Long”. Kế hoạch này muốn cứu vãn ĐBSCL bằng cách xây thêm các đê đập, các hồ chứa nước ngọt và các vựa chứa ngũ cốc, đào kênh lạch mới, nâng cao các nền nhà và giúp đỡ nông dân trong việc chuyển sang một mô hình nông nghiệp mới. Kế hoạch này được bổ sung bằng một nghị quyết năm 2017, trong đó nhà nước cam kết “phát triển bền vững và an toàn Đồng bằng sông Cửu Long, trên cơ sở nông nghiệp chất lượng cao, cùng với các dịch vụ, du lịch sinh thái và việc thành lập các ngành công nghiệp thích hợp với môi trường, đặc biệt là ngành chế biến nông sản”.

Riêng phần mình, ông Dương Văn Ni và các đồng nghiệp của ông đứng ra thành lập “Dragon-Mekong Intitute” (viện Rồng Mekong), được đặt tên theo tên tiếng Việt của sông Mekong là Cửu Long. Cửu Long là chín con rồng, tượng trưng cho chín cửa sông Mekong đổ ra biển. Bước đi tiếp đến của Dragon-Mekong Intitute là xây dựng một mạng lưới toàn cầu để nghiên cứu và theo dõi các châu thổ lớn, bằng cách sát nhập tám trung tâm nghiên cứu trên thế giới: về sông Mississippi ở Mỹ, sông Nil ở Ai Cập, Châu giang ở Trung Quốc, sông Hằng ở Ấn Độ và Bangladesh, sông Danube ở Ukraine, sông Amazon ở Brazil và sông Irrawaddy ở Myanmar. “Tất cả những gì chúng ta đang gây ra cho vùng châu thổ hiện nay sẽ có tác hại trong nhiều thập kỷ tới nữa. Biến đổi khí hậu chỉ là một trong nhiều vấn đề. Muốn nghiên cứu về các châu thổ, chúng ta không thể không đề cập đến các vấn đề đói nghèo, toàn cầu hóa, công nghiệp hóa và việc di cư của dân vùng nông thôn. Tính bền vững và sự thích ứng là các nguyên tắc chính yếu để cứu vãn các vùng châu thổ hiện nay“.

(Còn nữa)

Bình Luận từ Facebook

BÌNH LUẬN

Xin bình luận ở đây
Xin nhập tên của bạn ở đây