Thư gởi các đại biểu Quốc hội: Cúi đầu bấm nút, rồi cúi đầu quỳ gối!

Lê Hữu Khóa

19-6-2018

Các đại biểu Quốc hội VN trong số 496 đại biểu QH khóa 14. Ảnh: VNE

Thưa các vị đại biểu Quốc Hội,

Sau gần một nửa thế kỷ thường xuyên được yêu cầu tư vấn cho các dân biểu và các thượng nghị sĩ tại các nghị trường được lập hiến bảo đảm, thuộc các đảng phái khác nhau trong sinh hoạt dân chủ và đa nguyên tại Âu châu, thì trong tháng 6 năm 2018 tôi rất ngạc nhiên về tuyên bố của bà chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân: “Về Đặc khu… Bộ chính trị đã quyết rồi. Bây giờ Quốc Hội phải bàn để ra luật…”.

Tôi rất ngạc nhiên, là một bà chủ tịch Quốc Hội lại không hề có ý thức và trách nhiệm về vai trò của lập pháp, rất rõ trong lập hiến của mọi nền Cộng Hòa. Từ ngạc nhiên này cho tới các ngạc nhiên khác về cách trả lời cũng vừa vô ý thức và vừa vô trách nhiệm của các đại biểu trước báo chí về một vấn đề trầm trọng trên vận mệnh của đất nước: luật đặc khu cho Vân Đồn, Bắc Văn Phong, Phú Quốc, mà Việt tộc đã hùng hồn xuống đường phản đối ngày 10 tháng 6 năm 2018. Và, từ ngạc nhiên đã tới bàng hoàng khi tôi “bị” chứng kiến qua truyền hình: hình ảnh các đại biểu lạnh lùng cúi đầu-bấm nút thông qua luật an ninh mạng ngày 12 tháng 6 năm 2018, một ngày đớn nhục cho quốc thể vì sự đớn hèn của đại đa số đại biểu Quốc Hội hiện nay.

Tôi xin phép được phân tích động tác cúi đầu-bấm nút, vì nó có liên quan trực tiếp tới ngôn ngữ hình thể của hành động cúi đầu-khoanh tay cúi đầu-quỳ gối đã được khoa học xã hội và nhân văn nghiên cứu rất kỹ, vì đó là cúi đầu-nhắm mắt, cúi đầu-bịt tai, cúi đầu-câm miệng, mà mắt, tai, miệng chính là thể chất của tự do, thể lực của dân chủ, thể xác của truyền thông. Như vậy, kẻ cúi đầu trong mù-điếc-câm là bại chất của những sinh vật bị bại não:

– Tâm lý học nhận định, kẻ cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối, không những là kẻ đã bị khuất phục, mà còn là kẻ đã bị thuần hóa, rời bỏ nhân tính để đi về phía thú tính trong thuần phục.

Xã hội học phân tích, kẻ cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối, không những là kẻ đã bị khống chế, còn là kẻ đã bị tha hóa, rời bỏ nhân lý để đi về phía bản năng đã bị điều kiện hóa.

Chính trị học phân tích, kẻ cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối, không những là kẻ đã bị công cụ hóa, còn là kẻ đã bị phương tiện hóa, rời bỏ nhân tri để đi về phía phản nhân trí.

Sử học phân tích, kẻ cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối, không những là kẻ đã bị mất nhân cách, còn là kẻ đã bị xóa tư cách, rời bỏ nhân đạo để đi về phía ngược nhân tính.

Nhân học phân tích, kẻ cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối, không những là kẻ đã bị mất nhân phẩm, còn là kẻ đã bị mất nhân tâm, rời bỏ nhân nghĩa để đi về phía chống nhân sinh.

Tri thức học tổng kết được cả hai khoa học não bộ và khoa học thần kinh đã phân tích, kẻ cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối, là kẻ đã bị vô hiệu hóa não bộ, còn là kẻ đã bị tê liệt hóa thần kinh, không có độc lập suy nghĩ để có tự chủ tư duy, để có tự tin trong quyết định, làm nên tự trọng trong hành động; như vậy kẻ này còn thua xa các rô bốt (robot) hiện nay là biết phân tích bối cảnh để có hành vi hợp lý, biết lý giải thực tế để có hành tác chỉnh lý.

Câu chuyện cúi đầu-bấm nút của đại đa số đại biểu hiện nay đúng thật là quốc nhục cho quốc thể, thật là điếm nhục cho nhân cách đại biểu Quốc Hội (và không có nhân cách thì đừng hòng có phong cách chính trị và tư cách đạo lý trước cử tri).

Hãy rút ra một kết luận trong hằng trăm kết luận cho tháng 6 năm 2018 này qua hai giả thuyết về cầu nối lập pháp giữa Quốc Hội và nhân dân, mà nhân dân đã có đầy đủ nhân phẩm xuống đường, biểu tình để phản đối không những Đảng Cộng sản Việt Nam, mà cả Quốc Hội, họ xác chứng là cúi đầu-nhắm mắt, cúi đầu-bịt tai, cúi đầu-câm miệng, chính là cúi đầu-mù-điếc-câm một cách bất chính trong quyết định, bất lương trong quyết đoán, bất tài trong hành động. Một là cầu nối đã hoàn toàn sập đổ vì sự bất tín của nhân dân đối với các đại biểu. Hai là cầu nối này chưa bao giờ có trong một chế độ đảng cử, dân bầu dựa trên hệ độc (độc đảng để có độc quyền thao túng lập pháp, độc trị đối với hành pháp, độc tài để o ép tư pháp).

Tôi mong mỏi được đối thoại – trực tiếp và trực diện – với quý vị đại biểu về lương tri của lập hiến dựa trên lương tâm của đại biểu, đại diện vừa cho nhân dân, vừa cho lập pháp, thượng đỉnh của tất cả các định chế trong một quốc gia, mà không có một đảng cầm quyền náo có thể tay sai hóa hoặc công cụ hóa nó được! Tôi muốn đối thoại trong tinh thần tôn trọng lẩn nhau, vì tôi vẫn (chưa) đồng ý là trong nghị trường hiện nay của Quốc Hội: “Đại biểu toàn là nghị gật! Đại đa số là đảng viên, công cụ ‘bấm nút’ của ĐCSVN”. Nội dung của cuộc đối thoại này phải dựa vào hệ thức (kiến thức của đại biểu, bảo vệ tri thức của lập hiến, bảo trì ý thức của lập pháp, bảo toàn nhận thức của nhân dân), không có hệ thức này thì Quốc hội đúng là: ngủ rồi gật, bù nhìn rồi mù lòa vì không thấy cử tri mà mình đại diện. Tôi xin được bắt đầu bằng đạo lý của Quốc Hội phải dựa trên luân lý về bổn phận và trách nhiệm của từng đại biểu:

– Chính hiến: Các đại biểu Quốc Hội là môi trường mà lý luận chính hiến, luôn ở dạng chỉnh lý, vì có nội lực của lập hiến chỉnh chu, tạo cơ sở tư duy cho các đại biểu sinh hoạt để đề ra những đạo luật vì lợi ích của nhân dân và đất nước, nó nằm ngoài mọi tư lợi chỉ của một đảng phái.

Lý luận chính hiến chính là chính pháp (theo nghĩa phương pháp luận của lý) của chính hiến! Mặc dù Việt Nam chưa đón được dân chủ, nên chưa nhận được nhân quyền, vì chưa có đa nguyên để đa đảng trong đa trí để đa năng. Nhưng ngay trên thượng nguồn lý luận chính hiến chính là kiến thức chính trị của đại biểu, làm nền chính kiến của quốc hội, đủ nội công và bản lĩnh loại đi các tà kiến, từ đây tạo nên tri thức lập pháp, làm gốc cho ý thức bảo vệ nhân dân.

Vì thế lý luận chính hiến của các đại biểu dựa trên lịch sử của độc lập dân tộc vì toàn vẹn lãnh thổ qua thực tế của một đất nước đang bị Tàu tặc đe dọa với Tàu nạn về môi trường và thực phẩm, Tàu họa về lãnh thổ, biển đảo, và Tàu hoại về kinh tế, thương mại, nông nghiệp… (tôi quý trọng văn hóa và nhân dân Trung Quốc, nhưng tôi xin phép được gọi bọn lãnh đạo bành trướng và bá quyền của Bắc Kinh qua phương trình khống chế của hệ Tàu: Tàu tặcTàu nạnTàu họaTàu hoại).

– Nhân Việt: Quốc Hội khi đã đại diện cho nhân dân, thì các đại biểu phải đại diện cho nhân phẩm của Việt tộc, nhân nghĩa của tổ tiên, nhân văn của văn hóa, nhân bản của đồng bào, bằng nhân lý của lập hiến, nhân tri của lập pháp, nhân trí của dân tộc.

Tiêu chuẩn chọn các đại biểu của phương tây có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền, thì tại đây chính nhân lý, nhân tri, nhân trí bảo đảm cho nhân phẩm, nhân nghĩa, nhân văn, nhân bản làm nên hệ nhân tới từ hệ thức (kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức, tâm thức) không có hệ thức thì đừng làm đại biểu, vì làm thì chỉ khổ dân, hại nước!

Có một ngạn ngữ tại Âu châu giành cho các đại biểu, cho các lãnh đạo không có hệ thức: “Nếu áo (hệ thức) quá rộng cho mình, thì mình đừng mặc, mà để cho người khác xứng đáng hơn mặc nó!”. Đây chính là ý thức của ý thức, ý thức muốn làm lãnh đạo thì phải mài thật sắc hệ nhân, dũa thật nhọn hệ thức, nếu không làm được thì để người khác giỏi hơn làm thay cho mình

Đây cũng chính là quá trình nhân nhập nhân (vì nhân dân có trong mỗi đại biểu) lấy nhân tính của dân tộc để nhập nội vào nhân tình ngay trong xã hội mà nhân dân đang sống, đang làm, đang ăn, đang ở, để thấy và hiểu các trầm luân hằng ngày của nhân sinh. Làm đại biểu mà không thấy dân đen nhọc nhằn như thế nào, không hiểu dân oan hằng triệu người lang thang, lưu vong ngay trên chính đất nước Việt bị tủi nhục ra sao thì đừng làm đại biểu!

Thomas Mann nói rõ: “Nếu nhìn mà không thấy thì có lỗi”, còn làm đại biểu nhìn mà không thấy thì chắc chắn là có tội! Đây chính là ý thức chính hiến để có nhận thức chính pháp trong lập pháp.

– Quốc nạn: Các đại biểu của Quốc Hội có bản lĩnh của hệ nhân, có nội công của hệ thức, và quốc trường của Quốc Hội qua quá trình nhân nhập nhân, thì các đại biểu này sẽ có tầm vóc của chính hiến lấy nhân nghĩa để nhập sâu vào nhân thế ngay trong đau đáu “chén cơm manh áo” của nhân dân, ngay trong trằn trọc“cơm áo gạo tiền” của nhân tình, để thấy thật rõ các thiếu thốn hằng ngày trước các lo toan “ăn bữa sáng lo bữa tối”, rồi từ đó mài dũa thêm ý thức chính hiến cho thật bén, thật sắc để phục vụ cho nhận thức lập pháp thật sâu, thật rộng.

Nhân nhập nhân là lấy nhân tâm của đại biểu để nhập cho thấm nhân sinh của xã hội, qua thành tâm của đại biểu phải sống với dân để hiểu dân. Đây là chuyện không khó làm, ta đã thấy nhiều lần trong Việt sử, và có không biết bao nhiêu chuyện trong sử của thế giới là vua, quan, tướng“giả dân” để “đi vào dân”, để “chia sẻ cùng dân”.

Chuyện đại biểu không đồng tình, xuống đường, biểu tình để phản đối âm mưu bán nước qua luật đặc khu ngày 10 tháng 6 năm 2018, có thể là chuyện “bình thường” của chế độ độc tài vì độc đảng hiện nay tại Việt Nam, nhưng nó hoàn toàn bất thường trong một đất nước có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền. Sự vắng mặt của các đại biểu Quốc Hội trong các phong trào quần chúng đấu tranh cho Việt tộc thuộc về nhân phẩm Việt hiện nay mang hệ lụy của tặcnạnhọahoại, và vì sự vắng mặt này – gần xa hay ít nhiều – mà Quốc Hội sẽ rơi bẩy-lọt hầm-sa lưới của Tàu tặcTàu nạnTàu họaTàu hoại, mà sau đó là quá trình bị tròng cổ-xỏ mũi-kéo tai, đi dần tới cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối, nhận kiếp nô lệ của kẻ bị xâm lăng-đô hộ-đồng hóa.

– Dân tộc: Các đại biểu Quốc Hội phải biết nhân phẩm Việt vì hiểu phương trình ý thức chính hiến-nhận thức chính pháp, để thấu chính nhân dân đưa đường dẫn lối cho chính sách, chính dân chúng soi sáng chính nghĩa của lập pháp. Luân lý chính hiến vừa là đi vào nhân tình, vừa đi tìm nhân sinh để hiểu rõ hơn nhân tính của dân tộc, cùng lúc thấu sâu hơn tính đa dạng của nhân thế. Đây là nội lực đi vào nhân lý, chính là sung lực đi tìm nhân tri của các đại biểu, có nhân trí để phục vụ cho nhân tình, nhân thế, nhân sinh, để đưa nhân quần đi vào quỹ đạo của nhân nghĩa, nhân văn, nhân bản. Chính lý tưởng lập pháp tạo ra đường lối chính thống cho mọi sinh hoạt của Quốc Hội, chế tác ra các quá trình tuyển chọn các dự luật, làm ra các đạo luật trúng với nhân phẩm, đúng với nhân tâm.

Và, nếu đại biểu liêm chính thì các dự luật, các đạo luật sẽ liêm minh, và lý tưởng lập hiến sẽ làm hùng lực cho lập pháp, để giữ liêm sĩ của tư pháp, để giữ liêm chính của hành pháp. Chính các đại biểu phải đứng về phía dân tộc, như đứng về phía nạn nhân, như đứng về phía nước mắt của Việt tộc, để yêu cầu ĐCSVN phải trưng cầu dân ý về luật đặc khu, để vô hiệu hóa độc quyền, để cô lập hóa độc tài, để giáo dục hóa độc đảng.

– Quốc trường: Với các đại biểu Quốc Hội có lý tưởng lập hiến làm gốc cho tư tưởng lập pháp, dựa trên kiến thức chính hiến vừa là bàn đạp, vừa là dàn phóng cho mọi dự luật, mọi đạo luật trong đạo lý của Quốc Hội, luôn có trao đổi với cử tri, phải có chất vấn hành pháp, có kiểm tra qua tư pháp, thì không một đảng nào có thể thuần hóa được Quốc Hội!

Chính lý tưởng lập hiến chỉnh chu qua lập luận quốc thái dân an thì các đại biểu đã được hổ trợ bởi kiến thức chính hiếndân giầu nước mạnh, đây không hề là chuyện mơ tưởng của Quốc Hội, mơ hồ của các đại biểu, đó là những mô hình sáng, luôn được lau chùi ngay tại quốc trường để ngày càng sáng hơn, qua hành động cụ thể của lập pháp. Muốn làm đại biểu thì đừng chọn cách đi đường mòn trên cái xấu, cái dở để lập lại cái tồi, cái hèn, mà chọn cái sáng suốt để đi cùng dân tộc, với cái tỉnh táo của đại biểu có lý tưởng song hành cùng nhân dân vì có quyết tâm thăng hoa cùng dân tộc.

Quốc Hội có lương tâm vì các đại biểu có lương tri, các vị đã có tri thức của lương tâm chưa? Nếu có lương tri này, xin quý vị hãy lấy toàn bộ nội dung của mật nghị Thành Đô tháng 9 năm 1990 ra mà chất vấn tất cả các lãnh đạo của ĐCSVN hiện còn sống, cùng lúc mang tất cả các mật ước khác đã được ký kết bởi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trước tên Tàu tặc Tập Cận Bình trong những năm qua, để xem ĐCSVN đã “nợ nần”, đã ký kết những gì với Đảng Cộng sản Trung Quốc, mà sao hiện nay Việt tộc phải mang bao cái tròng trên cổ của mình vậy?

Làm trong sạch hóa sinh hoạt của Quốc hội chính là minh bạch hóa hành vi của các đại biểu có luân lý (có trách nhiệm và bổn phận với nhân dân), có đạo lý (biết bảo vệ các giá trị hay, đẹp, tốt, lành của Việt tộc), có đạo đức (với tổ tiên, với dân tộc, với đất nước).

– Trọn lý: Quốc Hội với các đại biểu mà không trọn lý thì đừng mong trọn tình trong lãnh đạo lập pháp trước nhân dân; những xảo thuật trong thuật ngữ: đảng cử dân bầu, theo kiểu đảng đã quyết… đã biến thành tà ngữ của vô luật vì vô tri. Nếu các đại biểu không nhận ra nội chất của công pháp chính là nội lực của lập pháp, trong đó kết quả của dự luật được đo lường qua hiệu quả của các đạo luật.

Tại đây phải học công pháp cho kỹ để hành tác trong lập pháp cho đúng, đó là sinh hoạt bình thường nhất của một Quốc Hội, trong đó quá trình hành động lập pháp được xếp đặt có thứ tự trong quá tình xây dựng luật: Nắm trọn vẹn cứu cánh trong lý giải các dự luật, thấu rõ mục đích chính phục vụ nhân dân sẽ lý giải mọi mục tiêu trong thực tế của đất nước, ở đó chuyện ích nước-lợi dân là chính, lấy công ích đặt trên tư lợi.

Nắm đầy đủ phương tiện của dân tộc để giải thích về các giai đoạn đầu tư, từ đây có tự lực để có tự cường, lấy tự chủ để vận động liên minh, kể cả viện trợ quốc tế. Nắm rõ lợi ích trong lý giải các thành quả, bằng kết quả hay cho giống nòi, tốt cho dân tộc, đẹp cho văn hóa, lành cho xã hội. Các lợi ích luôn có tính hữu hiệu đẩy lùi được các chuyện xấu, tồi, tục, dở trong xã hội, trong quần chúng; các công ích luôn mang tính hiệu quả đẩy lùi được các chuyện thâm, độc, ác, hiểm của ngoại xâm.

Thưa quý vị, trong các nước có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền thì quá trình dự thảo luật có ích nhất các công đoạn sau đây của hệ đối (đối thoại với cử tri, đối diện với truyền thông, đối chất với hành pháp) không những qua thăm dò, phỏng vấn, chất vấn mà qua cả hội nghị, hội thảo, hội luận với các tiêu chuẩn khoa học, với các tiêu chí tri thức, với các chuẩn mực của đạo đức mà phương Tây có dân chủ vì có nhân quyền gọi là: giáo khoa chính sách! Tại sao quý vị lại không làm mà tránh né một công việc này phải được xem là bổn phận và trách nhiệm của quý vị?

– Trí lực: Với các đại biểu Quốc Hội có nhân lýnhân tri thì không chấp nhận hiện cảnh bị thao túng, bị o ép, bị giật dây của của Bộ Chính trị ĐCSVN, mà trong đó đã có kẻ đang mang dã tâm bán nước cho Tàu tặc, có kẻ bao năm nay được dân chúng xếp loại “cướp ngày là quan”, chúng biến đồng bào mình một sớm một chiều thành dân đen, dân oan.

Đã là đại biểu thì không chấp nhận bọn “đục nước béo cò”, buôn bất động sản kiếm lời ngay trên quê cha đất tổ của chúng ta; không tha thứ bọn “sâu dân, mọt nước”, mượn đặc khu để sau này rửa tiền bất chính của chúng.

Đã là đại biểu thì không lùi bước trước bọn “thừa gió bẻ măng”, đưa đồi trụy, nhập trác táng, buôn lậu nhân cách rồi gây những điều điếm nhục cho đồng bào ta ngay trên quê hương ta.

Đã là đại biểu thì không khoan nhượng bọn “mượn đầu heo nấu cháo” xem tử thù là bạn tốt, láng giềng tốt, đồng chí tốt… Chúng là bọn “mua quyền, bán chức” vì đã quen thói “buôn thần, bán thánh”, rẻ rúng hóa tiền đồ của tổ tiên, hèn nhục hóa các giá trị thiêng liêng của Việt tộc, trong đó độc lập dân tộc phải song hành cùng toàn vẹn lãnh thổ.

Quốc Hội với các đại biểu có nhân văn trong nhân bản không chấp nhận thực trạng tới từ bọn “đem voi giày mồ tổ”, không được nhắm mắt trước bọn “cõng rắn cắn gà nhà”, không được quay lưng đối với bọn “buôn nước bán dân”. Chúng ta không chấp nhận chúng vì chúng chỉ thấy chúng, chỉ thấy cái ích kỷ của chúng, sẽ đưa tới chuyện “ai chết mặc ai”, nếu chúng còn nắm các chức lãnh đạo thì chúng sẽ làm chuyện bỏ đồng bào, quên đất nước, theo thói của chúng “bây chết mặc bây”!

Quý vị đại biểu hãy hiểu nhân phẩm Việt để bảo vệ nhân đạo Việt: Đồng bào là tâm lực của các vị! Đất nước là thể lực của các vị ! Hãy dựa vào Việt sử bất khuất của tổ tiên từ Ngô Quyền xóa sạch đô hộ tới Quang Trung đuổi sạch quân xâm lược, hãy lấy bất khuất làm nên trí lực cho quý vị!

– Cứu oan: Các đại biểu Quốc Hội hãy làm việc theo hai từ sống còn mang ba chỉ báo xấu trong xã hội Việt hiện nay: sống trong lo âu (ăn bữa sáng, lo bữa tối), sống như nạn nhân (trên dao, dưới búa), sống trong sự đe dọa (sống nay, chết mai). Khi ba chỉ báo này đã rõ trong tư duy của quý vị thì quý vị sẽ thương quý dân đen, dân oan, ngày ngày gia tăng trong thường dân.

Quý vị hãy như dân thường cũng “mất ăn, mất ngủ”Tàu tặcTàu nạnTàu họaTàu hoại. Trong đó trẻ con trên miền cao miền xa “ăn lá để sống”, kẻ già trong thành thị “bới rác để sinh nhai”, vì lãnh đạo chính trị của ĐCSVN đã bị thất bại nặng nề. Thất bại này rất thảm hại, vì nó sinh ra oan khiên trong cả cuộc đời đại biểu của quý vị! Tại đây, oan khiên đã biến thành chỉ báo khách quan qua hành vi của Quốc Hội cúi dầu-bấm nút.

 Nếu còn liêm sỉ trong liêm chính thì phải đứng về phía nhân dân và chống lại tất cả các mưu đồ bán nước của một số lãnh đạo đang làm tay sai cho giặc, bắt buộc chúng phải thay đổi triệt để chính sách quản lý xã hội. Và nếu là đại biểu thấy không thực hiện nổi quyết tâm chống oan khiên này, thì phải từ chức ngay để dân tộc tự cứu oan!

– Lương tri: Các đại biểu Quốc Hội phải biết, hiểu, thấu nhân lý mục đích để làm nhân luận phương tiện, ngữ pháp này không liên quan gì tới loại khẩu lệnh “lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện”, sống sượng trong diễn luận, mù quáng trong giải luận, vì loại khẩu lệnh này không có một cứu cánh nào của nhân lý, nhân tri, nhân tâm, nếu phương tiện của nó không tôn trọng nhân bản, nhân bản, nhân tính. Ngược lại, nếu lấy nhân lý mục đích để làm nhân luận phương tiện thì luôn được hỗ trợ bởi nhận thức của hệ lương (lương thiện-lương tâm-lương tri), không chấp nhận để bị o ép bởi các mưu đồ chính trị lãnh đạo bất chính buôn dân bán nước.

Và khi đất nước có biến động thì bọn này sẽ cao bay xa chạy qua phương Tây văn minh (mà chúng không biết là phương Tây văn minh có tầm vóc công pháp, có bản lĩnh công lý để tịch thu tất cả tài sản bất chính của chúng để trả lại cho dân lành đã là nạn nhân của chúng bao năm qua). Đã là đại biểu thì không thể vô cảmvô tri để trở thành vô nhân trước đồng bào và đất nước vì đã đánh mất lương tri của chính mình.

– Lẽ phải: Các đại biểu Quốc Hội có quyền lực cao nhất và trùm phủ toàn sinh hoạt xã hội, có vai trò trong an sinh song hành cùng quốc phòng, dụng giáo dục để bảo vệ đạo đức, lấy đạo đức để thi hành công lý qua pháp luật. Một Quốc Hội thông minh với các đại biểu sáng suốt không bao giờ nằm ngoài hệ nhân: lấy nhân tính để dìu nhân tình, lấy nhân tri để dắt nhân thế, lấy nhân trí để dẫn nhân dân, đưa tất cả vào nhân đạo, để nhân dân sống có nhân bản, đối xử có nhân văn, trong quan hệ xã hội có nhân nghĩa. Ước mơ một quốc hội thật sự có tự do, trong một xã hội biết tôn trọng nhân quyền đã có ngay những ngày sơ thai của dân chủ Hy Lạp, mà Platon đặt tên là cộng đồng lý tưởng. Quốc Hội phải bảo đảm các định chế xã hội, được ghi trong hiến pháp, bảo hành luôn tất cả cơ chế trong xã hội, từ hành chính tới giáo dục, bảo trì từ ngân sách tới xuất khẩu, từ văn hóa tới luân lý… Quốc Hội phải có bản lĩnh bảo đảm, có tầm vóc bảo trì, có nội công bảo hành các sinh hoạt xã hội! Trong các quốc gia có dân chủ, chính đầu phiếu qua bầu cử sẽ quyết định câu trả lời qua các chính sách, của các đảng phái trên nguyên tắc của đa nguyên, trong quyền chọn lựa lãnh đạo dựa trên tự do bầu cử của người dân, chính đây là câu trả lời thông minh của dân chủ mà hiện nay không có câu trả lời nào thông minh hơn. Bi kịch của Việt tộc là ĐCSVN không bao giờ được Việt tộc bầu lên để lãnh đạo! Các đại biểu của Quốc Hội phải bảo đảm việc dân bầu như bảo vệ con ngươi của chính mình, chính đây là sự thật của dân chủ làm nên chân lý của nhân quyền để thực hiện lẻ phải của tự do.

– Có hậu: Các đại biểu Quốc Hội phải đại diện cho tri thức của nhân dân để kiểm tra quá trình lãnh đạo của hành pháp. Tri thức này dựa trên quần chúng với cuộc sống hiện nay ngày càng nheo nhóc của họ, mà các đại biểu có ý thức, có nhận thức để biết biến nó thành tâm thức trong hành động và trong sinh hoạt của Quốc Hội.

Weber yêu cầu định nghĩa “chính quyền như một tập thể nhân tri sống động có quyền lực trên một lãnh thổ, nhưng phải thực thi quyền lực đó qua các giá trị của nhân tính”.nhân tính Việt chính là nhân nghĩa Việt (bầu ơi thương lấy bí cùng), chính là nhân bản Việt (một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ), chính là nhân đạo Việt (máu chảy, ruột mềm), chính là nhân văn Việt (máu chảy tới đâu, ruột đau tới đó).

Tại đây, một Quốc Hội có nhân tri Việt phải hướng dẫn xã hội, phải bảo vệ nhân dân, qua hai từ có trong lương tri của mỗi đại biểu: có hậu! Có hậu với tổ tiên, với con cháu, với tiền đồ, với dân tộc, vì “ăn ở có hậu” mới có lối ra, để thoát ra khỏi ngõ cụt của quốc hội hiện nay là vô trách nhiệm trước Việt tộc, ngày ngày theo lối đi đường mòn bấm nút của vô hậu!

– Trí tuệ: Các đại biểu Quốc Hội phải bắt đầu nhận trách nhiệm bằng trực diện để trực quan với các cơ quan có những toà nhà đắt tiền, rộng lớn, cũng từ tiền thuế của dân mà ra. Chính các cơ quan đó, từ địa điểm của các hội đoàn tới các địa danh của chính quyền, thì tất cả cửa nẻo đóng im ỉm ngay trong các ngày hành chính bình thường, nơi mà chung quanh dân oan đứng, ngồi, nằm la liệt, họ đang đi ăn xin công lý đấy!

dân oan chính là dân ta, họ đang trực tuyến để trực diện với một chính quyền vô nhân trước công pháp đấy! Họ có kinh nghiệm với một chính quyền đi bắt cóc các nhà vận động dân chủ; tuyên bố xử các công dân yêu nước công khai nhưng chặn nhân dân đi dự các phiên tòa ngay trước các cổng tòa; bỏ tù các nhà vận động dân chủ nhưng khi thả họ ra thì không có chứng thư giam giữ và phóng thích; cùng lúc chối leo lẻo trước quốc tế là Việt Nam không có tù nhân lương tâm.

Một ĐCSVN cầm quyền bắt cóc dân-xử đóng cửa tòa-nhốt bừa bãi-tra tấn ác đó là một chính quyền vô nhân, đã bị nhúng chàm quá lâu. Thực quyền của Quốc Hội có công thức là công lý, có pháp quyền là pháp luật, hãy đưa mô thức công tâm này mà áp dụng vào thực tế, nếu không ứng dụng vào xã hội, thì chính nhân dân sẽ tạo ra phản hồi như phản lực để chống lại áp chế, khống chế, để chống lại bạo quyền trên nhiều mức độ, với nhiều trình độ, bằng trực diện để phản biện với tà quyền.

Đây là thực chất những ngày trong tháng 6 năm 2018, của cuộc đấu tranh, xuống đường, biểu tình để phản đối tất cả các hành vi độc tài, trước các hành động bán nước, đây chính là khúc quanh về bản lĩnh của một dân tộc, về tầm vóc của các con dân yêu nước, về nội công của Việt tộc bất khuất đi trên lưng, trên vai, trên đầu mọi mưu đồ xâm lược của Tàu tặc.

Thưa các vị đại biểu, các vị hãy lấy tháng 6 năm 2018 để làm điểm vừa cao, vừa sáng cao trong cuộc đời làm đại biểu của quý vị, vì nó là thời điểm chuyển hướng của Việt tộc hiện nay, đã không chịu đựng được nữa chuyện tà quyền dùng bạo quyền để bạo hành với đồng bào, bạo ngược với tiền đồ của dân tộc.

– Lòng tin: Các đại biểu Quốc Hội phải tìm lại công lý tỉnh-công pháp thức làm được chuyện giải luận đồng hội-đồng thuyền vì biết thương đồng bào, thấu đồng cam-đồng khổ để bảo vệ nhân dân, làm được cầu nối để nhân dân qua nhân lý-nhân tri-nhân trí. Đây là lòng tin dân chủ khi mà các đại biểu có lập pháp trong tay, đây chính là lòng tin vào nhân phẩm, nhân đạo, nhân nghĩa, làm nên nhân bản, nhân văn để bảo vệ nhân tính, nhân lý bằng nhân trinhân trí. Chính lòng tin này bảo đảm tuổi thọ cho một đại biểu, tuổi trọng cho một quốc hội, tuổi dầy cho công lý đúng, cho công pháp trúng.

Tỉnh thức vì thông minh để hiểu thấu được cái cao, sâu, xa, rộng của lòng tin, cái hay, đẹp, tốt, lành của dân chủ. Chính lòng tin dân chủ là một chỉ báo để nhận định chế độ độc (độc đảng, độc quyền, độc trị, độc tài, độc trị) hiện nay của ĐCSVN, đang áp đặt lên số phận của Việt tộc một quốc thể quái thai sinh ra từ tà quyền. Cụ thể là hành vi “đảng cử, dân bầu”, để dân chỉ có thể bầu cho đảng viên, với đại đa số dân biểu Quốc Hội đều là đảng viên, cùng lúc tổ chức mọi định chế và cơ chế từ hàng dọc tới hàng ngang đều là đảng viên, chia quyền để chia lợi lẫn nhau, lấy chia chác để giết luật pháp lẫn lập pháp qua độc quyền-lạm quyền-buôn quyền, qua ma đạo của tham quyền-tham nhũng-tham ô.

Chế độ quái thai sẽ sinh ra các ung thư liên đới giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp; ung thư này ăn mòn chất xám của hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức) các nguyên khí của quốc gia phải bỏ nước ra đi, sau đó nó gây hoạn bịnh cho hệ sáng (sáng kiến, sáng tạo), để cuối cùng là nạo rỗng hệ phát (phát minh, phát triển). Quái thai loạn quyền song hành cùng nhiều ung thư loạn luật (luật đặc khu, luật an ninh mạng…), số phận của Việt tộc thật bi đát!

Thưa quý vị đại biểu, quý vị có thấy là số kiếp Việt tộc thật bi thảm không?

Chủ thể: Mỗi đại biểu Quốc Hội phải là một chủ thể lập pháp, có trách nhiệm với cử tri, có bổn phận với nhân dân, có đạo đức của công pháp để bảo vệ lập pháp, tham gia trực tiếp ngay thượng nguồn qua kiểm định các chính sách, qua kiểm tra các quốc sách, qua kiểm soát các đầu tư của hành pháp.

Không để mất chủ quyền, luôn đấu tranh vì toàn vẹn lãnh thổ với ít nhất ba quyết tâm Việt được tổ tiên ta dặn dò rất kỹ: “cơm no, áo ấm”, “trong ấm ngoài yên”, “dân giầu nước mạnh”, như ba đòi hỏi rất tối thiểu vì nhân dân. Chính tự chủ nâng tự lập, tự lập tăng tự chủ, làm nên tầm vóc, bản lĩnh, nội công của chủ thể tạo ra tự cường, trong đó có quyết tâm thật mới và thật mạnh là bỏ thói quen xin viện trợ, gạt thói xấu đi ăn xin quốc ngoại, giữ tự trọng để khi vào các đàm phán quốc tế, không cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối, mà ngược lại phải thẳng lưng-ngẩng đầu-mạnh bước.

Đừng tự hào mình cần cù, thông minh, cùng lúc cứ ngửa tay đi xin của người, các đàn anh lãnh đạo hãy làm gương cho đàn con, đàn cháu, đàn em, sẽ lãnh đạo đất nước này là bỏ xin xỏ để cực lực lao động, làm để tự lực, tự lực để nắm tự chủ, để giữ tự lập, vì biết tự trọng! Hãy học người chứ đừng xin người, học để bằng người, xin người chỉ để người khinh!

Để bắt đầu chuyện này, các đại biểu phải có một ưu tiên hiện nay là thật sự lao tâm-lao trí-lao lực để chống thù trong-giặc ngoài.

– Tự chủ: Mỗi đại biểu Quốc Hội phải có ít nhất là sáu nguyện lực khi bỏ phiếu về các đạo luật: tự chủ về sáng kiến, tự chủ về quyết định, tự chủ về phương tiện, tự chủ về mục đích, tự chủ về hành động, tự chủ về cách ứng dụng vào thực tế. Tại đây, viện trợ quốc tế về khoa học kỹ thuật để tăng sức tự chủ, viện trợ quốc ngoại về chất xám, về tư vấn để nâng lực tự lập, ta không từ chối vì một chính sách đứng đắn luôn tạo ra tự cường mà không lạc lối vào lệ thuộc, vì lệ thuộc bắt kẻ ăn xin phải đi ăn xin suốt kiếp!

Tự lập mang theo ít nhất là hai nội lực khi chế tác ra chính sách: sáng kiến sáng tạo, đây là chuyện rất cụ thể sáng kiến trong đề nghị sáng tạo ra công luật của Quốc Hội, làm nên năng suất xã hội, hiệu suất nhân dân để phát triển. Tại đây, kinh nghiệm quốc tế, tài năng của các nước văn minh, tiên tiến được vận dụng tích cực một cách có ý thức vào thực tế của xã hội nước nhà, vào thực tại của dân tộc, không viển vông để bị lạc lối, cũng không bừa bãi để bị “rút ruột” trong đầu tư bởi bọn tham ô.

Tự cường khai thác tính chủ động tương tác của tự chủ nâng tự lập, tự lập tăng tự chủ. Trong đó, tự chủ về phương tiện phải đi đôi với tự chủ với thích ứng, cùng lúc tự lập về công cụ phải song hành với tự lập về sáng kiến, để nhân dân luôn đóng vai trò tích cực trong sáng tạo thường xuyên vì dân tộc, vì đất nước, vượt qua khó khăn! Sẽ không có tự chủtự lập để tự cường, thì sẽ đánh mất tự tin, từ đấy sẽ không còn là đại biểu mà chỉ là cúi đầu để bấm nút cho tà quyền hành pháp.

– Đồng bào: Tiếng gọi thiêng liêng giữa người Việt với nhau, luôn mang theo tâm thức của một dân tộc sinh ra trong cùng một bào thai, đây cũng là hằng số cơ may của các đại biểu, chỉ vì nó có hùng lực tập hợp tức khắc khối đại đoàn kết dân tộc mỗi khi đất nước bị ngoại xâm đe dọa, mỗi khi tiền đồ tổ tiên bị xâm phạm từ lãnh thổ tới văn hóa. Trong khi đó, các lãnh đạo Tàu thì gọi nhân dân họ là: thiên hạ, bá tánh… vừa xa lạ, vừa thờ ơ, vừa lãnh đạm so với từ đồng bào của Việt tộc.

Chuyện chính ở đây từ đồng bào là gân cốt của đồng cảm, chính là vai vóc thường xuyên của các đại biểu chân chính, trước các thử thách của độc tài, trước các thăng trầm trong thời cuộc, nơi mà đồng bào nếu có lòng tin với Quốc Hội sẽ có sự đồng tâm với các đại biểu. Và, nếu các đại biểu nầy có công tâm để bảo vệ sự liêm chính của họ, có công lý để bảo trì sự liêm sỉ của họ trong các dự thảo luật thì họ sẽ đồng giao với cử tri của họ, để biến niềm tin của nhân dân thành tâm giao ngay trong Quốc Hội, nếu các đại biểu biết yêu nước-thương dân, làm việc và hy sinh vì nước-vì dân.

Đây là thất bại xem như lớn nhất của ĐCSVN trong gần một thế kỷ qua với hành vi độc đoán vì độc tài, độc tôn vì độc đảng, dùng chuyên chính để chuyên quyền, từ đó bạo lực đi đôi với tham ô, bạo quyền song hành cùng tham nhũng. Đồng lòng khi vận nước lâm nguy, lấy đồng tâm giữa nhân dân và các đại biểu để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, đây là tinh thể của Quốc Hội, mà Việt sử kể đã chỉ dẫn rõ qua Hội Nghị Diên Hồng, vì nó bất chấp mọi kẻ thù dù lớn, dù mạnh cỡ nào.

Nơi đây, Việt tộc đã có các câu châm ngôn luân lý, các ngạn ngữ đạo lý để sẵn sàng hành động: “cả nước một lòng”, ngữ pháp của sung lực-nội công-bản lĩnh Việt tộc có thể đẩy lùi, đánh văng mọi ngoại xâm. Đồng hội, đồng thuyền với đồng bào, nơi mà Quốc hội đại diện cho chính nghĩa trong các chính sách cứu nước, giữ nước để làm thăng hoa dân tộc. Tình hình hiện nay của các lãnh đạo ĐCSVN, qua hối lộ đã vơ vét tiền của nhân dân, một số đã có thẻ xanh, quốc tịch ngoại, sẵn sàng “cao chạy xa bay”, thì chắc chắn sẽ không có chuyện đồng hội, đồng thuyền, nơi mà Nguyễn Du đã có lần dặn con cháu nên cẩn trọng: “Trong khi chắp cánh liền cành, mà lòng rẻ rúng đã dành một bên”. Dân tộc rất mong các đại biểu ý thức để có nhận thức đầy đủ về chuyện này.

– Giáo thoại: Phải là phản xạ bình thường của Quốc Hội, với các đại biểu có đủ tỉnh táo để sáng suốt về số phận dân tộc mình, bằng cách cùng nhân dân làm chủ vận mệnh đất nước mình, làm chủ trong lao động, làm chủ luôn trong sáng kiến để biến sáng kiến thành sáng tạo, dụng sáng tạo để thay đời đổi kiếp mình, phải làm chủ số kiếp của mình. Các láng giềng gần xa, cùng một nôi văn hóa, văn minh trong tam giáo đồng nguyên với Việt tộc, như Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản đã thành công. Chúng ta tại sao không thành công? Tại sao ta không làm được? Trong đó câu trả lời có trong vị thế của Quốc Hội, phải thúc đẩy hành pháp có đủ tầm, đủ vóc để thực hiện phát triển!

Chức năng của các đại biểu phải được xem là thiết yếu trong quá trình vận động tài năng lãnh đạo chính trị của hành pháp. Giáo thoại là giáo dục bằng đối thoại trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, trên đạo lý của công bằng giữa quyền lực của kẻ lãnh đạo và quyền lợi của người chấp nhận người khác lãnh đạo mình. Đối thoại này dựa trên giáo khoa của Lập pháp: “Nói có luật, mách có tâm”, từ dữ kiện qua chứng từ, từ lý luận qua lập luận, làm ra giáo khoa của Quốc Hội có giáo án“ích nước, lợi dân”,giáo trình hoàn chỉnh “đầu xuôi, đuôi lọt”, mà đại biểu phải là“người khôn chưa đắn đã đo, chưa ra tới biển đã dò nông sâu”.

Giáo thoại là lộ trình thông minh của mọi đại biểu, trong đó mọi công đoạn của dự luật được tổ chức theo quy trình giáo khoa-giáo án-giáo trình của giáo thoại, để quần chúng thấy rõ mức độ của chính sách qua trình độ của các đại biểu. Chính thực tế mức độtrình độ này xác nhận khả năng lãnh đạo của kẻ đang lãnh đạo, không có chuyện “lấy vải thưa che mắt thánh”, mắt thánh đây là mắt của tổ tiên, mắt của dân tộc. Hành vi độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc tôn) với phản xạ “cả vú lập miệng em”, chỉ là chuyện trống mức độ và thiếu trình độ; ngược lại giáo thoại lập pháp tôn trọng phương trình tiềm năng-khả năng-kỹ năng của dân tộc, mà quần chúng rất rõ khi phán đoán các đại biểu:“so ra mới biết ngắn dài”.

– Đối trọng: Nhiệm vụ thường trực của Quốc Hội cùng các đại biểu có lý luận trên thực tế, có lập luận qua chứng từ, có giải luận bằng luật pháp, nhân dân sẽ nhận ra các đại biểu khôn là luôn nghe, luôn nhận, luôn tiếp, luôn đón đối trọng như chào, nhận, đón, tiếp các phản biện khách quan, các phản đề có trách nhiệm vì có cùng một công lợi.

Các đại biểu thông minh biết nhận luôn cả đối kháng, sẽ có mặt trước, cùng lúc và sau khi ban hành một đạo luật, chia sẻ cùng nhân dân theo năm tháng để ra chân lý: “có thực mới vực được đạo”, trong đó thực vừa là thực phẩm, vừa là sự thực. Vì có sự thật mới có có chân lý để có lẽ phải!

Các đại biểu có trí tuệ luôn tìm ra được các đối tác, khác hẳn với đối phương vì đối tác khai minh, ít nhất là hai cái minh mà đại biểu phải biết để nắm, phải nắm để hành động: liên minh tạo được đồng minh rộng trong không gian, dài theo thời gian để phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho các đạo luật của Quốc Hội.

Đối thoại, chính là thực hành thông minh trong đối trọng, nó tổng kết thông minh của đối kháng, đối lập để mở cửa cho các phương hướng dự thảo mới, cởi mở hơn vì cao, sâu, xa, rộng hơn ý định-ý muốn-ý đồ ban đầu của hành pháp. Đối thoại chấp nhận đối đầu để nhận diện đối trọng, để hiểu thêm về đối kháng có trong xã hội, có trong nhân dân. Đối thoại để xem lại bản lĩnh, tầm vóc chính trị của các lãnh đạo hành pháp, đủ sung lực để hóa giải các tà quyền có trong các tà án của chính sách. Đối thoại để xem lại tiềm năng, tiềm lực của lãnh đạo hành pháp có đủ sức khai thác tối đa đối trọng, đối tác trong các quan hệ quốc tế.

Thưa quý vị đại biểu, quý vị đã làm đầy đủ các việc này chưa?

– Phản hồi: Không những là khả năng trực diện với quần chúng đang bức xúc về chính sách hoặc đường lối của lãnh đạo chính trị, mà phải là năng lực của các đại biểu biết phản hồi ngay trong một phản ứng nhanh nhẹn, bén nhạy trên chính sách của hành pháp. Nếu phản hồi tổng kết được tất cả các phản kháng, thống hợp được tất cả các phản bác một cách tích cực sẽ tạo ra bản lĩnh thuyết minh, sẽ nâng lên tầm vóc thuyết phục của đại biểu.

Muốn làm đại biểu mà không biết, không tạo ra được phản hồi, cứ để mặc các hồ sơ chất đống, cứ bỏ qua các vụ oan án, cứ “cúi đầu-bấm nút”, gạt bỏ đi các đề nghị hoàn thiện của các chuyên gia, của quần chúng thì đừng làm đại biểu! Vì tránh né phản hồi chỉ “hao tiền, tốn của” của dân, chóng chầy trở thành “sâu dân, mọt nước”, một loại ký sinh trùng lập pháp trong “ăn đậu, ở nhờ” trong sinh hoạt chính trị của tà quyền. Nếu nhận ra mình là loại “ăn trên, ngồi trốc” để “ăn bám, ăn hại” thì nên rút lui càng sớm càng hay, để chỗ cho người khác có lý lịch liêm chính hơn thay thế mình!

Phản biện luôn tích cực nếu nó khách quan, khoa học, hợp lý, trọn tình, nó lại càng tích cực khi nó nêu được khuyết điểm, nhược điểm, nhất là khuyết tật của lãnh đạo chính trị, nó lại càng có ích khi chính kiến của nó thực sự hiệu quả chống lại tà kiến, được che phủ bởi tà ngữ của tà đạo (không dám nói thẳng trong Dự luật Đặc khu là bán nước cho Tàu, mà lại viết trong xảo ngữ là cho láng giềng có biên giới chung là Quảng Ninh với ta), tà ngữ xen vào dự luật để đánh lận con đen, để tráo, lừa, phỉnh, gạt nhân dân, tức là đang qua mặt Quốc hội, đang che mắt các đại biểu!

Biết nhận, đón, tiếp, nghe tất cả các phản biện luôn là đức Quốc Hội có ngay trong chức đại biểu, chính là lập của pháp, vì biết nghe nên biết lập, tạo ra phản tỉnh, cũng là nhu cầu tư duy của đại biểu biết sửa sai, biết chỉnh cái xấu, tồi, tục, dở, để đưa cái hay, đẹp, tốt, lành vào các dự luật để làm ra các đạo luật (vì dân-vì nước), cùng lúc loại, khử, trừ, bỏ mọi cái thâm, độc, ác, hiểm của ngoại xâm luôn tạo chiến trường đôi để làm ta sớm suy kiệt vì “thù trong, giặc ngoài”.

Không giành thời gian đầy đủ cho phản tỉnh để tỉnh thức, lấy thức (kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức) để thao thức vì dân, thì đừng làm đại biểu! Thao thứcđau đáu qua việc nước-việc dân. Nếu không biết phản tỉnhtỉnh thứcthao thức thì nên chọn nghề khác mà làm, vì đại biểu vượt lên chuyện nghề, nó là nghệ của thương dân-yêu nước, nó là nghiệp của vì dân-vì nước!

Trong lịch sử của nhân loại, Quốc hội phải là quốc trường của hùng lực dân tộc, của sung lực giống nòi, của nội lực tổ tiên, xin quý vị xem lại lịch sử cổ, cận, hiện đại của nhân loại, trong đó nghị quyền của lập pháp chính là lương tri của lẽ phải:

  • Dân chủ nghị trường Hy Lạp trước cả công nguyên là nơi lẽ phải được lý luận của sự thật cổ vũ, được lập luận của chân lý cổ súy, nơi mà hùng lực đã thành mãnh lực để tư tưởng, triết học trở thành mặt trời chang chang đốt cháy tà quyền của âm binh phản nước hại dân.
  • Dân chủ nghị trường của phương Tây, từ Âu châu qua Bắc Mỹ là nơi lập pháp hằng ngày, hằng giờ chất vấn hành pháp, cũng cố liêm chính cho tư pháp, để Quốc Hội luôn là lương tâm cho xã hội, cho dân tộc.
  • Dân chủ nghị trường hiện nay của nhiều quốc gia tại Nam Mỹ, tại châu Phi với một nền cộng hòa mong manh, với một vốn dân chủ mỏng manh, đã cho xuất hiện bao đại biểu Quốc Hội kiên cường trong nhân lý, xuất sắc trong nhân tri, sắc nhọn trong nhân trí…

Tại sao trên đất Việt hiện nay, nơi mà ĐCSVN đã bị mang điếm danh: “Hèn với giặc, ác với dân”, và trong những ngày tới, nếu các đại biểu không thức tỉnh nhân tâm để có phản tỉnh nhân lý, thì quý vị sẻ phải mang một nhục danh: “Cúi đầu-bấm nút cho đảng để cúi đầu-quỳ gối trước giặc!”.

Muốn chém đứt cả hai điếm danh và nhục danh, thì cứ tâm niệm câu thần chú lập pháp của các nước đã có văn minh của dân chủ, đã có văn hiến của nhân quyền: “Quốc Hội con dao chính nghĩa chém đứt bạo quyền, Quốc Hội con dao chính trực chém vụn tà quyền”.

Xin được kính chào quý vị đại biểu và kính mong được thấy quí vị ngẩng đầu-sáng mắt- thẳng lưng-mạnh bước vì nhân phẩm của Việt tộc.

Lê Hữu Khóa

Giáo sư Đại học Lille* Giám đốc Anthropol-Asie* Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á* Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCO – Liên Hiệp Quốc* Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris* Thành viên hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á* Hội viên danh dự nhóm Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới.

_____

Các bạn có thể tìm hiểu thêm các lập luận qua nghiên cứu của VÙNG KHẢ LUẬN (trang thầy Khóa) qua www.facebook.com/vungkhaluan/

Bình Luận từ Facebook