Đơn kiến nghị xem xét lùi thời hạn có hiệu lực và sửa đổi, bổ sung Nghị định số 109/2026/NĐ-CP

Trần Đại Lâm

13-4-2026

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 13 tháng 4 năm 2026

ĐƠN KIẾN NGHỊ

(V/v xem xét lùi thời hạn có hiệu lực và sửa đổi, bổ sung Nghị định số 109/2026/NĐ-CP nhằm bảo đảm tính độc lập của nghề luật sư)

Kính gửi:

Ông Lê Minh Hưng – Thủ tướng Chính phủ

Ông Hoàng Thanh Tùng – Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Tôi là Luật sư: Trần Đại Lâm thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội.

Địa chỉ và thông tin liên hệ (công khai trong thư tay).

Nay tôi làm đơn này, trân trọng kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tư pháp xem xét lùi thời điểm có hiệu lực và sửa đổi, bổ sung Nghị định số 109/2026/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 01-04-2026 (sau đây gọi là “Nghị Định 109”) dự kiến có hiệu lực từ ngày 18-5-2026, do Nghị Định 109 tồn tại một số nội dung gây lo ngại nghiêm trọng đối với tính độc lập của nghề luật sư và quyền được bảo vệ pháp lý của người dân, cụ thể như sau:

I. LÝ DO KIẾN NGHỊ

Nghị Định 109 xác định lĩnh vực bổ trợ tư pháp bao gồm hoạt động luật sư, đồng thời quy định chế tài xử phạt đối với hoạt động hành nghề luật sư, trong đó có hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam có thời hạn.

Điều đáng lo ngại là Nghị Định 109 hiện đang thiết kế thẩm quyền xử phạt theo hướng rất rộng, theo đó không chỉ Chủ tịch UBND cấp xã, mà Trưởng Công an cấp xã, Trưởng phòng thuộc Công an cấp tỉnh, Giám đốc Công an cấp tỉnh, một số Trưởng phòng nghiệp vụ, Cục trưởng thuộc Bộ Công an và các chủ thể khác được giao thẩm quyền có thẩm quyền tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn trong phạm vi mức phạt được giao.

Với cách viết hiện nay, Nghị Định 109 đã tạo ra cơ sở để có thể hiểu theo hướng chứng chỉ hành nghề luật sư nằm trong nhóm giấy phép, chứng chỉ hành nghề mà các chủ thể nêu trên có quyền áp dụng biện pháp tước quyền sử dụng có thời hạn.

Theo quan điểm của tôi việc trao quyền cho các thủ thể nêu trên có quyền tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề Luật sư làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới tính hoạt động độc lập và gây lo ngại cho giới hành nghề Luật sư vì:

Luật sư là người hành nghề độc lập, thực hiện chức năng bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; trong nhiều trường hợp là chủ thể trực tiếp tranh luận, phản biện, chỉ ra sai phạm của nhân viên hoặc cơ quan quyền lực công và/hoặc của người tiến hành tố tụng.

Nếu tồn tại một cơ chế pháp lý mà theo đó chính những chủ thể thuộc hệ thống quyền lực công, thậm chí ở cấp cơ sở, có thể được hiểu là có quyền tước chứng chỉ hành nghề luật sư, thì hệ quả tất yếu là:

(i) Luật sư bị đặt vào trạng thái lệ thuộc tâm lý trước chính chủ thể mà mình có thể phải phản biện hoặc đối tụng/đối trọng trong quá trình hành nghề.

(ii) Luật sư có thể bị thu hẹp không gian hành nghề độc lập, đặc biệt trong các vụ việc hành chính, hình sự, đất đai, khiếu nại, tố cáo hoặc các tranh chấp có liên quan đến cơ quan công quyền do luôn phải tính đến rủi ro nghề nghiệp phát sinh từ chính chủ thể mà mình đang thực hiện quyền phản biện, tranh tụng hoặc giám sát tính hợp pháp.

(iii) Quan hệ tin cậy giữa luật sư và khách hàng bị suy giảm, bởi khi người dân nhận thấy luật sư có thể bị đặt trong trạng thái dễ bị tác động bởi hệ thống quyền lực công, họ sẽ nghi ngờ khả năng bảo vệ đến cùng, độc lập và không lệ thuộc của luật sư.

(iv) Chất lượng tranh tụng, bào chữa và phản biện pháp lý có nguy cơ suy giảm vì luật sư trong thực tiễn có thể buộc phải lựa chọn cách thể hiện an toàn, tiết chế trong phát ngôn, ứng xử, né tránh những lập luận sắc bén hoặc những vấn đề nhạy cảm, thay vì trình bày đầy đủ và quyết liệt các luận điểm cần thiết để bảo vệ thân chủ.

(v) Nguy cơ phát sinh tình trạng tự kiểm duyệt trong giới luật sư sẽ tăng lên, không cần đến một quyết định xử phạt thực tế cũng đủ tạo ra hiệu ứng răn đe tâm lý, khiến nhiều luật sư dè dặt ngay từ đầu khi tiếp cận, nhận vụ việc hoặc xác lập chiến lược bảo vệ.

(vi) Việc thu hút và duy trì đội ngũ luật sư tham gia các vụ việc khó, phức tạp, nhạy cảm hoặc có yếu tố đối kháng với quyền lực công sẽ trở nên khó khăn từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý chất lượng của người dân và doanh nghiệp.

(vii) Môi trường hành nghề luật sư bị đặt vào trạng thái bất ổn và thiếu dự báo, bởi quyền hành nghề là nền tảng tồn tại của luật sư, mà nếu nền tảng đó có thể bị tác động bởi những quy định mơ hồ, dễ diễn giải rộng, thì bản thân sự an toàn pháp lý của nghề luật sư sẽ bị suy giảm.

(viii) Về lâu dài, cơ chế như vậy có thể làm suy yếu vai trò của luật sư như một thiết chế bảo vệ công lý, kiểm soát quyền lực và hỗ trợ vận hành Nhà nước pháp quyền, bởi một nghề không đủ độc lập trên thực tế thì không thể thực hiện trọn vẹn chức năng phản biện và bảo vệ pháp lý của mình.

Một nghề được gọi là độc lập mà quyền hành nghề lại có thể bị treo lơ lửng trước sự tác động của chủ thể hành chính cấp cơ sở hoặc của cơ quan mà luật sư đang phải phản biện, thì đó không còn là độc lập thực chất, mà chỉ là sự độc lập trên danh nghĩa.

Không dừng ở đó, Nghị Định 109 còn quy định một số hành vi vi phạm có nội hàm rộng, dễ bị diễn giải tùy nghi, chẳng hạn, quy định xử phạt đối với hành vi: “ứng xử, phát ngôn hoặc có hành vi làm ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của nghề luật sư hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự” là một quy định có biên độ diễn giải rất lớn.

Trong thực tiễn hành nghề, luật sư có thể phát biểu phản biện mạnh mẽ tại phiên tòa, chất vấn tính hợp pháp của hành vi tố tụng, kiến nghị về sai phạm của cơ quan nhà nước, hoặc công khai quan điểm pháp lý để bảo vệ thân chủ trong giới hạn pháp luật cho phép.

Nếu những tiêu chí như “ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của nghề luật sư” hoặc “gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân” không được xác định rõ ràng, không được giới hạn chặt chẽ, mà lại đặt cạnh cơ chế trao quyền xử phạt rất sâu xuống cấp cơ sở, thì nguy cơ áp dụng tùy nghi và lạm dụng là hoàn toàn có thể dự liệu từ trước.

Pháp luật về xử phạt càng mơ hồ thì người hành nghề càng buộc phải tự kiểm duyệt và khi luật sư phải tự kiểm duyệt trước quyền lực công, thì người bị thiệt cuối cùng không chỉ là luật sư, mà chính là người dân đang cần được bảo vệ bằng một tiếng nói pháp lý độc lập.

II. KIẾN NGHỊ

Từ những phân tích nêu trên, tôi trân trọng kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tư pháp xem xét:

(i) Tạm thời lùi hiệu lực thi hành của Nghị Định 109 để rà soát, sửa đổi các quy định có nguy cơ ảnh hưởng đến tính độc lập của nghề luật sư; trường hợp không lùi hiệu lực thì cần ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc hướng dẫn chính thức ngay trước khi Nghị định được áp dụng trên thực tế.

(ii) Sửa đổi Nghị định theo hướng quy định minh thị rằng Chủ tịch UBND cấp xã, Trưởng Công an cấp xã và các chủ thể hành chính, chức vị công an khác không có thẩm quyền tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư.

(iii) Giao thẩm quyền đối với biện pháp đình chỉ hoặc tước quyền hành nghề luật sư cho Tòa án hoặc thiết chế tự quản nghề nghiệp như Đoàn Luật sư hay Liên đoàn Luật sư.

Lý do giao cho các đơn vị nêu trên là bởi biện pháp đình chỉ hoặc tước quyền hành nghề luật sư không phải là một chế tài hành chính thông thường, đây là biện pháp tác động trực tiếp tới tư cách hành nghề, danh dự nghề nghiệp, sinh kế của luật sư và gián tiếp tác động tới quyền tiếp cận công lý của người dân.

Vì vậy, thẩm quyền này phải được đặt trong tay một thiết chế có đủ tính độc lập, khách quan và hiểu biết chuyên môn về hoạt động hành nghề luật sư.

Đối với các vi phạm có tính chất quản lý hành chính đơn thuần, Nhà nước có thể giao cho cơ quan hành chính thẩm quyền xử phạt tiền hoặc áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp.

Tuy nhiên, đối với các biện pháp điều chỉnh trực tiếp đến quyền hành nghề luật sư, như đình chỉ hoạt động hành nghề có thời hạn, tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư, tước giấy phép hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam thì cần tách khỏi logic xử phạt hành chính thông thường và giao cho chủ thể có vị thế độc lập hơn, khách quan hơn và phù hợp hơn với bản chất đặc thù của nghề luật sư.

Ngoài ra, tôi cũng đề nghị rà soát, sửa đổi các quy định tại Điều 8 của Nghị Định 109 và các điều khoản có liên quan, đặc biệt là các cụm từ như “ứng xử, phát ngôn”, “ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của nghề luật sư”, “gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân” theo hướng xác định tiêu chí pháp lý rõ ràng, giới hạn phạm vi áp dụng và loại trừ các phát biểu, quan điểm, hoạt động tranh tụng, phản biện, kiến nghị nghề nghiệp hợp pháp của luật sư được thực hiện đúng chức năng, đúng trình tự và đúng pháp luật.

Một văn bản pháp luật với cách quy định hiện hành có thể dẫn đến cách hiểu rằng chủ thể hành chính hoặc cơ quan công an cấp cơ sở có quyền tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư, đồng thời khiến giới luật sư kiêng dè, e ngại khi nhận các vụ việc về khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hành chính hoặc dè dặt khi bào chữa, bảo vệ thân chủ trong các vụ án hình sự, thì rõ ràng là văn bản đó cần được rà soát, sửa đổi.

Bởi lẽ, khi luật sư trở nên dè dặt trước các vụ việc có tính đối kháng với quyền lực công thì quyền được bào chữa và quyền được bảo vệ bằng một công cụ pháp lý độc lập của người dân cũng bị ảnh hưởng trực tiếp.

Vì những lẽ trên, tôi kính đề nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tư pháp xem xét nội dung kiến nghị này, sớm có biện pháp xử lý phù hợp nhằm bảo đảm tính minh bạch của pháp luật và bảo vệ đúng mức tính độc lập của nghề luật sư.

Xin trân trọng cảm ơn.

Luật sư Trần Đại Lâm

Bình Luận từ Facebook

1 BÌNH LUẬN

  1. – Kỷ nguyên Tô Lâm xổ ra quá nhiều ngôn từ mỵ dân, hứa hẹn… nhưng những quy định về xử phạt (phạt tiền, phạt nghề, phạt phát ngôn)… cũng quá nhiều.
    – Từ khi ra đời năm 1917 đến nay, mọi quốc gia cộng sản đều rất e ngại, hạn chế và đầy cảnh giác với ngành luật và nghề luật.
    Xin mọi người hãy tìm hiểu lịch sử cho thật kỹ để tự rút ra kết luận cho bản thân.

BÌNH LUẬN

Xin bình luận ở đây
Xin nhập tên của bạn ở đây