Nhà tù Côn Đảo – Hãy lột bỏ chiếc áo dối trá để lịch sử sang trang

Nguyễn Tuấn Khoa

8-10-2025

Hà Nội tố cáo tù nhân chính trị tại Côn Đảo bị ngược đãi

Cuối thập niên 1960, Trung Tâm Cải Huấn Côn Sơn (TTCHCS) đã trở thành điểm nóng của một chiến dịch tuyên truyền toàn cầu. Hà Nội đã khôn ngoan khai thác và đồng bộ hóa chiến dịch tố cáo chế độ lao tù ở đây với những sự kiện chấn động xảy ra cùng năm 1968 như thảm sát Mỹ Lai và vụ tử hình trên đường phố Sài Gòn của Tướng Nguyễn Ngọc Loan.

Chiến thuật này đánh trúng vào lòng trắc ẩn của người dân các nước phương Tây, tạo nên một làn sóng chống chiến tranh Việt Nam mà đỉnh điểm là chuyến thăm Hà Nội của cô đào Jane Fonda năm 1972. Báo chí phương Tây lúc bấy giờ, hăng say bênh vực “kẻ yếu thế,” liên tục xuất bản các bài viết đi quá sự thật, nhưng lại chọn cách nhắm mắt làm ngơ trước sự kiện dã man hơn gấp bội xảy ra đồng thời: Thảm sát Tết Mậu Thân 1968 tại Huế do Cộng Sản Bắc Việt gây ra.

Những tố cáo từ Hà Nội đã tạo ra một áp lực chính trị đáng kể lên chính quyền Sài Gòn, buộc các nhà chiến lược hàng đầu tại Trường Cao Đẳng Quốc Phòng VNCH (CĐQP) phải vào cuộc để tìm kiếm sự thật.

Nghiên cứu hiện trường với chuyến thăm lịch sử của khóa IV CĐQP

Trường CĐQP là nơi đào tạo tầng lớp tinh hoa quân sự và hành chính của Việt Nam Cộng Hòa (tương đương với War College của Hoa Kỳ). Học viên tối thiểu là đại tá, quan chức ngạch A, đều là những người có tư cách và tư duy chính trị sắc sảo.

Năm 1972, giữa khóa học IV, Trung tướng Vĩnh Lộc (Hiệu trưởng) đã quyết định đưa vào chương trình một chuyến tham quan và hội thảo đột xuất về vấn đề tù nhân chính trị tại TTCHCS. Đoàn nghiên cứu gồm một chuẩn tướng (Đỗ Kế Giai), 28 đại tá và 8 quan chức dân sự đã được trao quyền hạn lớn: Tiếp cận không hạn chế đời sống tù nhân và kiểm chứng những cáo buộc quốc tế.

Học viên Khóa IV trường Cao Đẳng Quốc Phòng VNCH đã đến Trung Tâm Cải Huấn Côn Sơn để tiếp cận không hạn chế đời sống tù nhân và kiểm chứng những cáo buộc quốc tế. Hàng đầu, từ trái sang: Ông Nguyễn Xuân Đạo, Đại tá Lê Quang Hiền, Chuẩn tướng Đỗ Kế Giai. Nguồn: Nguyễn Tuấn Khoa

Ba tôi, một thành viên của đoàn, đã kể lại chuyến đi lịch sử này. Trong câu chuyện dài ông kể, tôi đặc biệt chú ý đến hai nhân vật là người của Hà Nội hiểu rõ đời sống tù chính trị. Tiếng nói của họ, nếu có, sẽ là trung thực và nhà nước Việt Nam nên lắng nghe nếu thực tâm muốn đối diện với lịch sử.

1. Giáo sư Lê Quang Vịnh – Người tử tù được tôn trọng

Trong buổi làm việc, ba tôi đã yêu cầu được gặp Giáo sư Lê Quang Vịnh, người bị kết án tử hình từ năm 1962 và đã bị giam giữ 10 năm. Yêu cầu này được đáp ứng ngay lập tức.

Trong căn phòng riêng, hai người đàn ông ở hai chiến tuyến đối địch đã dành cho nhau sự tôn trọng. Ba tôi đã dùng phần lớn thời gian để kiểm chứng các vấn đề mà Hà Nội đang tố giác. Cuối buổi gặp, khi ba tôi hỏi điều ưu tư nhất, Giáo sư Vịnh nói rằng, ông lo lắng cho người mẹ già, người chắc chắn tin rằng ông đã chết.

Thấu hiểu tấm lòng hiếu thảo, ba tôi đã đưa ra một lời hứa danh dự: “Anh Vịnh, anh hãy nhìn thẳng vào mắt tôi. Anh có tin tôi không? Nếu tin thì giấy đây, bút đây, anh hãy viết thư cho bà cụ. Tôi, Nguyễn Xuân Đạo, hứa với anh rằng tôi sẽ đưa lá thư này đến tận tay mẹ anh“.

Người tử tù đã viết một bức thư ngắn và lời hứa đã được thực hiện. Bà cụ ở gần Chợ Nancy đã khóc ngất khi biết con trai mình vẫn còn sống sau nhiều năm bặt tin. Ba tôi kể lại, hành động chuyển thư này là việc làm rất nguy hiểm, nếu TTCHCS biết được, ông chắc chắn sẽ bị bắt giữ. Nhưng việc làm đó thể hiện tính nhân đạo vượt lên trên ý thức hệ, một giá trị mà người lính VNCH luôn đề cao.

Năm 1996, trong một tiệc cưới ở tại Sài Gòn, hai người bạn ở hai chiến tuyến đã bất ngờ gặp lại, ôm nhau mừng rỡ. Đó là buổi đoàn tụ cảm động mà tôi đã được chứng kiến.

2. Đại tá Lê Quang Hiền – Điệp viên bí số P71

Đại tá Lê Quang Hiền, Phó Tổng Thanh Tra Bộ Tổng Tham Mưu và là học viên Khóa IV CĐQP, cũng là một chứng nhân quan trọng. Sau nhiều ngày tìm hiểu cặn kẽ mọi vấn đề tại nhà tù, trong cuộc hội thảo tại Sài Gòn, ông cùng các học viên đồng khóa đã thảo luận thẳng thắn. Họ là những con người sinh hoạt trong một thể chế đa đảng, dân chủ, không chịu bất kỳ áp lực nào khi nêu lên chính kiến, và kết luận của họ là: Vấn đề ngược đãi tù binh và tù chính trị tại nhà tù Côn Đảo mà Hà Nội lên án là không đúng!

Sau khi tốt nghiệp CĐQP, Đại tá Hiền giữ chức vụ Phó Ban Liên Hợp Quân Sự Bốn Bên (FPJMC), một cơ quan giám sát việc thi hành Hiệp định Paris 1973. Năm 1993, ba tôi và đại tá Hiền gặp lại nhau trong một ngày tình cờ. Sự tình là, ông Jacques Marcille (công ty CFA) sang Việt Nam làm việc với công ty tôi cho dự án tìm nguồn nước khoáng (sau này là La Vie). Biết ba tôi đã từng tu nghiệp không quân ở Pháp, ông Marcille đã mời ba tôi và tôi đi ăn trưa.

Khi đến văn phòng CFA tại số 2 Đồng Khởi, ba tôi bất ngờ nhận ra đây là căn hộ của Đại tá Hiền cho CFA thuê. Ông ghé sang căn hộ thứ hai cách đó vài bước chân để thăm. Thật bất ngờ, Đại tá Hiền không phải đi cải tạo như bao sĩ quan khác. Thấy hai ông vui mừng đoàn tụ, ông Marcille đã mời Đại tá Hiền cùng tham gia.

Trong bữa ăn trưa, bác Hiền giải thích rằng ông đã cứu mạng các giám sát viên người Hungary khỏi sự mưu sát của lính VNCH trong trại Davis trước ngày Sài Gòn thất thủ, nhờ vậy mà chính quyền cách mạng đã dành cho ông đặc ân được miễn cải tạo [SIC]. Ba tôi hầu như không nghi vấn gì và vẫn giữ liên lạc với bác Hiền để rồi hai tháng sau, cả hai ông đã ra tận phi trường TSN để tiễn tướng Đỗ Kế Giai lên đường đi HO.

Tuy nhiên, một năm sau, qua nỗ lực tìm hiểu của tôi, sự thật được phơi bày: Đại tá Lê Quang Hiền là điệp viên của Hà Nội với bí số P71, chính thức kể từ ngày 15/10/1967.

Tuyên truyền dối trá sẽ phá vỡ niềm tin

Giáo sư Vịnh, Đại tá Hiền và ba tôi là những nhân cách lớn. Mặc dù khác nhau về ý thức hệ, họ vẫn dành cho nhau sự tôn trọng và tình bạn.

Sau năm 1975, Giáo sư Lê Quang Vịnh được đưa lên làm bí thư quận ủy Côn Đảo. Hai người Cộng sản giữ vị trí quan trọng trong chính quyền mới (Giáo sư Vịnh) và trong lòng địch (Điệp viên Hiền), được hưởng nền giáo dục nhân bản của VNCH, sẽ không bao giờ nói quá sự thật về đời sống tù chính trị tại Côn Đảo mà họ trực tiếp chứng kiến. Dù hiểu rằng người quân tử khó giữ được khí tiết trong thể chế độc tài, độc đảng, tôi vẫn gửi gắm niềm tin thận trọng vào hai vị này.

Nếu trở lại Côn Đảo họ sẽ cảm thấy xấu hổ khi nhìn những hình ảnh ngụy tạo: Nhốt tù nhân trong chuồng thép gai chỉ cao 0.5m phơi nắng suốt năm tháng, rải vôi sống để ho ra máu, đập chai bia rồi đâm vào cửa mình của nữ tù nhân… Đó là cách tuyên truyền vừa hèn hạ, vừa độc ác!

Một trong những cáo buộc độc ác và hèn hạ điển hình về việc ngược đãi tù chính trị. Hai tù nhân Côn Đảo là ông Lê Thân và bà Thiều Thị Tân, trong một buổi nói chuyện với ông Lê Nguyễn, cố vấn cho Quản Đốc Trung Tâm Cải Huấn Côn Sơn, đã phủ nhận tố cáo trên.

Sức mạnh lớn nhất của người Cộng Sản Việt Nam là sự tuyên truyền dối trá. Nhưng trong bối cảnh ngày nay thông tin dễ kiểm chứng, điều này không còn là thế mạnh nữa. Ngược lại, nó sẽ làm vỡ vụn niềm tin của cả một dân tộc và khiến vết thương huynh đệ không bao giờ lành. Chính những hành động nhân văn và dũng cảm của các nhân vật như ba tôi, vượt qua lằn ranh chính trị để giữ trọn tình người, mới là di sản mà VNCH thực sự muốn để lại.

Rồi đến một lúc nào đó, Nhà Tù Côn Đảo sẽ không còn là nơi tố cáo tội ác của “Mỹ Ngụy” như tuyên bố, mà sẽ tự biến thành phòng trưng bày sự dối trá của bên thắng cuộc. Việt Nam cần một chiếc áo mới: Chiếc áo của Sự Thật và sự Hòa Giải để cả dân tộc cùng bước tới.

Bình Luận từ Facebook

3 BÌNH LUẬN

  1. Vai chị tiết nên biết thêm về “bác Hien” của tác giả:

    https://nguyentin.tripod.com/dt_lequanghien.htm

    Bốn Người Bạn Thân
    Còn Hai Hiền cũng đã theo cách mạng, song năm 1946 bị bọn Pháp bắt làm thông dịch viên; năm 1949 bị đưa đi học lớp đào tạo sĩ quan; năm 1954 đã là trung tá, làm trung đoàn trưởng, Tỉnh trưởng Ba Xuyên, Tham mưu trưởng Liên trường võ bị Thủ Đức rồi Tham mưu trưởng Sư đoàn 1; năm 1964 lên đại tá, làm Tham mưu trưởng Quân đoàn 3, Chỉ huy trưởng biệt khu Phước Biên, Đổng lý văn phòng Bộ thanh niên rồi Phó tổng thanh tra ngụy quân… Tuy xa nhau, thậm chí còn ở hai bên chiến tuyến song họ vẫn lưu giữ những kỉ niệm đẹp về nhau và luôn thăm hỏi, giúp đỡ nhau khi có cơ hội. Hồi chống Pháp, Ba Phấn mấy lần gửi thư cho Hai Hiền, khiến Hai Hiền rất cảm động. Năm 1958, khi là Tỉnh trưởng Ba Xuyên, Hai Hiền đã cứu Bảy Đồng khỏi bị bắt vì vết lộ cũ.
    Tháng 7-1966, Năm Cứ được phái vào Sài Gòn, sử dụng giấy tờ giả để tồn tại và hoạt động. Cùng thời gian này Ba Phấn được phái vào phụ trách Trạm điệp báo B52 đứng chân ở Mỹ Tho. Trạm B52 gồm 6 cụm, trong đó Cụm 5 đảm trách giao thông liên lạc với tổ điệp báo của Năm Cứ.
    Cuối buổi sáng 25-4-1967, Năm Cứ tới nhà riêng thăm Hai Hiền với câu chuyện ngụy trang là sau hiệp nghị Giơ-ne-vơ, Năm Cứ không tập kết ra Bắc vì bịn rịn vợ con nhưng phải chạy sang Cam-pu-chia để tránh né sự truy bức của chính quyền Diệm, sau khi Diệm đổ mới dám quay về, tiếp tục đi dạy học. Năm Cứ tin rằng tình bạn sẽ khiến Hai Hiền nếu có nghi ngờ thì dù xấu đến đâu cũng không gọi địch tới bắt anh. Tới nơi, Năm Cứ được vợ Hai Hiền ra tiếp. Bà nói độ 12 giờ trưa Hai Hiền về rồi mời Năm Cứ uống trà, ngồi đợi. Tới 12 giờ rưỡi mà Hai Hiền vẫn chưa về, Năm Cứ đành ghi mấy chữ, đưa vợ Hai Hiền, hẹn trưa hôm sau quay lại rồi về. Tuy nghĩ rất lung về việc Hai Hiền về trễ, còn đưa ra khả năng Hai Hiền tránh mặt mình song trưa hôm sau, Năm Cứ vẫn quay lại. Vợ Hai Hiền đón tiếp Năm Cứ trọng thị hơn hẳn, mời nước ngọt và đưa một lá thư không kí tên của Hai Hiền. Thư viết: “Lầu thân mến! Đọc thư anh, tôi rất mừng! Tôi mong muốn gặp anh nhưng hôm nay bận đi đưa đám ma, có lẽ về muộn. Sẽ cố gắng sớm gặp anh”. Xem thư, Năm Cứ biết tình hình như vậy là thuận lợi vì Hai Hiền thấy Năm Cứ bất ngờ xuất hiện trở lại, đã không tránh mặt mà còn muốn gặp Năm Cứ. Hôm qua vợ Hai Hiền mời trà, hôm nay mời nước ngọt, sự việc nhỏ nhưng mang ý nghĩa lớn.
    Một lát sau Hai Hiền về, trân trọng giới thiệu Năm Cứ với vợ rồi mời ở lại ăn trưa. Ăn xong, Hai Hiền đưa Năm Cứ vào phòng riêng chuyện trò thân mật. Thấy Hai Hiền đã ít nhiều biết mình vẫn hoạt động cách mạng, Năm Cứ liền nói: “Ba Phấn đã về làm trong Mặt trận dân tộc giải phóng, có cử người tới đưa thư cho tôi, nói kì này cách mạng sẽ thắng lợi. Ba Phấn gửi lời hỏi thăm anh và mong tụi mình đi đúng đường để sau này được gặp nhau vui vẻ”. Nghe vậy, Hai Hiền rất xúc động. Hai Hiền kể sơ về Bảy Đồng và mấy người bạn cũ, nói mình vừa có lệnh gọi từ Bộ thanh niên về Bộ tổng tham mưu, chưa rõ sẽ làm gì. Chiều ấy Hai Hiền chở Năm Cứ tới thăm Bảy Đồng tại nhiệm sở, hôm sau thì mời Năm Cứ, Bảy Đồng đi ăn tiệm. Ba người bồi hồi ôn chuyện xưa. Hai Hiền tâm sự rất mong đất nước hòa bình để bốn anh em gặp lại nhau. Trước khi chia tay, Hai Hiền hỏi Năm Cứ khi nào về quê. Năm Cứ nói ngày mai về, hỏi có nhắn gì Ba Phấn không. Hai Hiền đáp là gửi lời thăm và chúc Ba Phấn mạnh khỏe.
    Ít hôm sau, Hai Hiền tìm đến tận nhà Năm Cứ thuê trọ để thăm. Hai Hiền nói sẽ tìm cách giúp Ba Phấn song không tiếp xúc bất kì ai thuộc phía cách mạng ngoài Năm Cứ, dặn Năm Cứ tránh quan hệ với bạn cũ để đề phòng khả năng tình báo Mỹ xâm nhập, còn nêu phương án dùng em ruột Hai Hiền là Lê Quang Lộc* làm cầu nối và cho Năm Cứ số điện thoại để liên hệ khi cần.
    Ngày 4-6-1967, Năm Cứ tới tặng gia đình Hai Hiền một ít trái cây gọi là quà quê và đưa thư của Ba Phấn cho Hai Hiền rồi mời Hai Hiền ra tiệm ăn cơm để tiện trò chuyện. Hai Hiền rất mừng, nhờ Năm Cứ cảm ơn Ba Phấn song tâm sự: “Tôi lỡ đi với bên quốc gia quá nhiều rồi. Tôi rất ghét Mỹ, không muốn phục vụ Mỹ vì chúng khinh rẻ người Việt mình. Tôi cũng không muốn phục vụ Cộng sản vì như thế là phản bội các chiến hữu bấy lâu nay của tôi. Mỹ mạnh lắm, bên cách mạng khó mà thắng nổi”. Thấy Hai Hiền vẫn lo cách mạng không tha thứ cho quá khứ của mình và e sợ Mỹ, Năm Cứ liền giải thích: “Cách mạng đánh kẻ chạy đi chứ không đánh người chạy lại, anh chớ lo! Còn bọn Mỹ, anh không thấy vừa qua đã thua cách mạng dài dài đó sao?”. Nghe vậy, Hai Hiền trầm ngâm hẳn đi.
    Tối hôm sau, Hai Hiền tới đón Năm Cứ đi uống cà phê. Hai Hiền tỏ ý lo cách mạng sẽ giao việc quá sức Hai Hiền và sợ Mỹ đã cài được người vào hàng ngũ cách mạng, từ đó phát hiện ra Hai Hiền làm việc cho cách mạng. Năm Cứ bảo: “Cách mạng chỉ yêu cầu anh góp sức đuổi Mỹ ra khỏi đất nước ta cho đồng bào ta đỡ khổ, con cháu ta đỡ hư hỏng. Nếu anh đồng ý thì cách mạng sẽ cân nhắc kĩ khả năng của anh rồi mới giao việc. Cách mạng sẽ bảo đảm cho anh tuyệt đối an toàn vì sự an toàn của anh đem lại lợi ích cho cách mạng. Mà đã có Ba Phấn bảo lãnh, lo toan, anh chớ nên e ngại!”. Hai Hiền nhẹ nhõm hẳn, câu chuyện vì thế mà tiếp tục rất cởi mở, thân tình. Hai người chuyển sang xưng hô mày tao thân mật như thời trai trẻ từ hồi nào không hay. Trước khi chia tay, Năm Cứ hỏi: “Ba Phấn đã gửi thư cho mày, vậy mày có viết cho nó mấy chữ không?”. Hai Hiền bèn lấy một cuốn sách, viết lời đề tặng bằng tiếng Pháp, tạm dịch là: “Tôi sẽ không đánh đổi tình bạn giữa hai ta, dù có lấy tất cả số vàng trên quả đất này” rồi đưa Năm Cứ, nhờ chuyển tới Ba Phấn.
    Vì sau đó Hai Hiền vẫn lừng chừng, đắn đo nên đầu tháng 10-1967, Năm Cứ đề xuất là cần có biện pháp khiến Hai Hiền đi tới một quyết định dứt khoát. Ba Phấn bèn viết thư gửi Hai Hiền: “Vì muốn giúp anh đi đúng đường nên tôi nhờ Năm Cứ vào làm việc với anh. Nay anh tỏ ra không muốn làm việc nên tôi có ý định rút Năm Cứ về làm việc khác”. Đọc thư, Hai Hiền suy nghĩ hồi lâu rồi bảo Năm Cứ là Hai Hiền sẽ cố gắng cung cấp tin tức cho cách mạng, đề nghị cách mạng cho Hai Hiền mật khẩu để dùng khi cần. Trưa 11-10-1967, Hai Hiền đã chủ động đưa Năm Cứ một tài liệu mật có giá trị cao, tiêu đề là “Bố trí binh lực của quân đội cộng hòa”. Ngày 15-10-1967, Hai Hiền được công nhận là điệp viên của ta với bí số P71. Từ đó cho tới ngày toàn thắng, Hai Hiền đã cung cấp hơn 50 tin tức, tài liệu, trong đó có hàng chục tin tức, tài liệu có giá trị cao. “Kế hoạch hỗn hợp mục tiêu chiến lược” do Mỹ biên soạn, dày 300 trang mà Hai Hiền thu được cuối tháng 2-1973 được đánh giá là có giá trị rất cao và có tính chiến lược bậc nhất trong số tài liệu ta thu được của địch trong kháng chiến chống Mỹ. Vào những ngày chế độ Sài Gòn hấp hối, Hai Hiền đã tích cực góp phần vận động Thiếu tướng Đỗ Kế Giai, Tư lệnh Biệt động quân ngụy ra lệnh cho thuộc cấp án binh bất động; kịp thời hóa giải một tốp lính ngụy khi chúng xông vào trụ sở Ủy ban quốc tế giám sát và kiểm soát việc thực hiện hiệp định Pa-ri về Việt Nam, định tìm diệt hai phái đoàn Ba Lan, Hung-ga-ri.
    Cũng qua sự tìm hiểu, chắp nối của Ba Phấn và Năm Cứ mà ngày 15-9-1968 Bảy Đồng được công nhận là điệp viên của ta với bí số P29, tới ngày 20-5-1969 thì được kết nạp lại vào Đảng. Bảy Đồng đã thu thập được một số tin tức, tài liệu có giá trị. Từ tháng 12-1969 tới tháng 6-1973, khi Năm Cứ phải rút ra vùng giải phóng, Bảy Đồng đảm nhiệm cán bộ truyền đạt với Hai Hiền rồi thay Năm Cứ làm tổ trưởng tổ điệp báo, phụ trách Hai Hiền và điệp viên Ngô Hiệp Minh (trung úy hải quân ngụy, bí số H2, là con Bảy Đồng).
    Sau giải phóng, đóng góp của Hai Hiền đã được ghi nhận. Năm Cứ công tác vài năm nữa rồi về hưu với quân hàm thiếu tá. Bảy Đồng chuyển ngành rồi về hưu. Ba Phấn làm Tham mưu phó Quân khu 9, sau chuyển ra làm Viện trưởng Viện KSND tỉnh Vĩnh Long, tới tháng 9-1979 thì về hưu song năm 1990 vẫn được Quân đội thăng quân hàm thượng tá. Ngày 23-5-2005, Ba Phấn được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
    Tình bạn chân thành, sâu sắc đã góp phần chủ yếu và trực tiếp giúp Lê Quang Hiền quay trở về với nhân dân, với dân tộc, tích cực phục vụ sự nghiệp cách mạng bằng một động cơ hoàn toàn trong sáng, giúp cả bốn người bạn học thân thiết năm xưa được vui mừng siết chặt tay nhau trong ngày toàn thắng.
    Vũ Sáng
    Bốn Người Bạn Thân

    • Co hai nhận xét bạn đầu như sau::
      1- Bên ngoài mang lon đại ta một phe, bên trong đại tá đánh cắp tài liệu quân sự tuyệt mật tuôn ra cho phe kia để đánh cho chết me chúng, có phải là hoa giải hòa hợp không? hay là lật lọng phan bội, ta gọi là văn cơm quốc gia thờ ma cộng sản một da hai lòng ?
      2- nếu tui là gian điệp leo cao nằm sâu như đại ta Hiền, ông nội cha tụi cũng không dám “ ông ơi tui ở bụi này “ mà phát biểu to cáo chánh phủ VNCH tra tấn tù chánh trị ở Côn đảo hay là tui phải tích cực phu nhận hong che dấu cái đuôi việt cộng của mình? Một người thông minh như ông Khoa có thể trả lời?

  2. Bài này đưa ra 1 chân lý (rất) cụ thể, đó là kích cỡ của nhân cách tỷ lệ nghịch với trí tuệ, qua tấm gương rực rỡ về nhân cách của cha tác giả

    Và tác giả đã thừa hưởng nhân cách lớn của người cha . Even better, bằng bài này, ông đã phát triển kích cỡ nhân cách có tính gia truyền của gia đình lên cỡ vài chục ngàn lần

BÌNH LUẬN

Xin bình luận ở đây
Xin nhập tên của bạn ở đây