Tại sao luật học ở Việt Nam không phát triển được?

Ngô Huy Cương

20-9-2025

Đây là một câu hỏi rất lớn và có nhiều câu trả lời khác nhau ở những góc nhìn khác nhau. Theo tôi, có rất nhiều nguyên nhân ở nhiều tầng nấc khác nhau tạo thành một hỗn hợp các vấn đề bi thương:

– Nguyên nhân thứ nhất: Nước ta thay đổi liên tục các kiểu loại pháp luật theo những truyền thống pháp luật khác nhau. Từ một hệ thống pháp luật độc lập có thể có trước năm 40 sau Công nguyên, ta bị ép buộc chấp nhận truyền thống pháp luật Viễn Đông, rồi bị ép buộc chấp nhận truyền thống Civil Law, tiếp đến là “tự nguyện” theo đuổi truyền thống Soviet Law. Và kể từ khi Liên Xô sụp đổ và ta bắt tay vào xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, thì hệ thống pháp luật của ta lại càng pha tạp nhiều hơn giữa nhiều truyền thống pháp luật mà có cả đôi tý của truyền thống Common Law.

Điều đặc biệt đáng lưu ý là chúng ta chưa kịp xây dựng nền tảng tư tưởng khi tiếp nhận (bắt buộc hoặc tự nguyện) bất kỳ truyền thống pháp luật nào thì lại bị chuyển đổi tiếp nhận truyền thống pháp luật khác.

– Nguyên nhân thứ hai: Chúng ta thực sự không hiểu hết vai trò của pháp luật trong xã hội (dù ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào) vì chúng ta luôn phản kháng với sự tiếp nhận pháp luật nước ngoài mà chủ yếu do bị ép buộc trong các cuộc xâm lăng cả về quân sự lẫn văn hóa của nước ngoài. Vì vậy chúng ta thiếu hẳn những tư tưởng nền tảng cho sự phát triển pháp luật.

Có một trường hợp rất tuyệt vời về tư tưởng pháp lý nền tảng được xướng lên trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và Hiến pháp năm 1946. Nhưng sau đó ta lại rơi vào tình trạng chiến tranh triền miên cho tới khi lại thay đổi tiếp kiểu loại pháp luật.

– Nguyên nhân thứ ba: Chúng ta phát triển pháp luật hiện nay trên nền tảng du nhập “trường phái thực chứng pháp lý cực đoan” theo cách gọi của nhà luật học so sánh để chỉ một trường phái pháp luật hầu như chỉ xem “văn bản quy phạm pháp luật” là loại nguồn duy nhất của pháp luật.

Vì vậy tất cả cái gọi là “tư tưởng pháp lý chính thống” chỉ tán quanh những đạo luật do Quốc hội thông qua, trong khi chúng đầy khiếm khuyết và xu thời.

Vì vậy mà ảnh hưởng nghiêm trọng tới đào tạo luật học cũng theo xu thời đó và xáo trộn liên tục.

– Nguyên nhân thứ tư: Không ít trường đại học chỉ chạy theo lợi ích của cá nhân giáo viên để tiến hành đạo tạo, từ thiết kế chương trình đào tạo, cho tới tuyển chọn giáo viên,…

Đặc biệt đào tạo sau đại học, dù quy chế có quy định số lượng thành viên hội đồng đánh giá luận án tiến sỹ và chấm luận văn thạc sỹ phải có quá nửa là người ngoài cơ sở đào tạo.

Thế nhưng “chủ nghĩa thân hữu” và “chủ nghĩa trao đổi” được đẩy lên cao độ. Họ chỉ mời những người cùng cánh hẩu. Họ mời những người cán bộ lãnh đạo, quản lý (không cần biết đến trình độ chuyên môn hay quỹ thời gian của người được mời) ngồi hội đồng đánh giá luận án hay chấm luận văn thạc sỹ, hay tham gia giảng dạy, làm để tài nghiên cứu. Và cái lợi họ được hưởng là được mời ngược lại ở phía bên kia. Quá trình này tiếp diễn cho tới khi người được mời không còn làm lãnh đạo, quản lý nữa. Quá trình mời lại tiếp tục với người lãnh đạo, quản lý mới. Cực đểu cáng cả về mặt tình nghĩa và bất chấp chuyên môn.

Có cơ sở bắt buộc chọn người ngồi hội đồng đánh giá luận án tiến sỹ phải là người có bài báo quốc tế.

Nhưng than ôi! Nhiều ai đó bỏ ra vài nghìn đô là Mỹ là có được một hoặc thậm chí vài bài quốc tế. Thế là những người khác đôi khi bị xấu hổ bởi phải ngồi hội đồng cũng những người này, đầu họ thì rỗng tuếch nói chẳng câu nào ra câu nào về mặt chuyên môn.

Gọi là hội đồng đánh giá luận án tiến sỹ nhưng thường xuyên chúng tôi phải nghe là: “văn phong của luận án thiếu tính hàn lâm”; “nhiều lỗi chính tả, nhiều lỗi đánh máy”; “nhẽ ra tiểu mục 3.1 phải được đưa lên Chương 2”; “người đọc còn cảm thấy thòm thèm về lý luận”; “luận án cần chỉnh trang về hình thức trang trọng hơn”; “kết luận chương và kết luận chung của luận án cần phản ánh đầy đủ hơn kết quả nghiên cứu của luận án”; “luận án là một công trình có giá trị tham khảo”; “giá như luận án mạnh dạn hơn trong việc phân tích thực trạng của pháp luật thì còn thành công hơn nữa”; “luận án cần dùng từ ‘chúng tôi’ thay cho từ ‘tôi’ khi khẳng định quan điểm của mình một cách khiêm tốn hơn”… Trong khi họ không đưa ra được đánh giá nào về mặt khoa học hay nghệ thuật của luận án, thậm chí còn không biết tới những cái sai kiến thức nền tảng luật học…

Những người có lòng tự trọng luôn muốn đóng góp thật cho đất nước thì bị loại ra khỏi cuộc chơi.

Cần hết sức lưu ý rằng: Đối với toán, lý, hóa, kỹ thuật, công nghệ, y, dược… đã không biết thì không nói phét được. Còn đối với luật thì không biết vẫn nói phét được, nhưng chỉ những người sành sỏi thì mới biết đó là “tán láo” và “đập phát chết ngay”.

Vì vậy đăng tạp chí quốc tế về luật thì có lẽ phần lớn chỉ cần thêm chữ “Việt Nam” vào là thế giới chịu, ví dụ “Sự phát triển của chế định pháp nhân trong luật dân sự Việt Nam”. Phản biện thì thế giới có biết đâu, mời ù ù cạc cạc đầy, trong khi họ lại cần biết về cái anh Việt Nam nó ra sao.

Vì vậy tôi nghĩ Bộ Giáo dục và Bộ Tư pháp cũng như Quốc hội sẽ vô cùng vất vả sắp tới để cải cách pháp luật Việt Nam nhằm đáp ứng các yêu cầu của Kỷ nguyên mới theo sự lãnh đạo của Đảng, mà trước hết là tư tưởng nền tảng về pháp lý.

Bình Luận từ Facebook

4 BÌNH LUẬN

  1. – “Tại sao luật học ở Việt Nam không phát triển được?” Hiến pháp là văn kiện quan trọng sau Cương lĩnh của Đảng CS (= Cướp Sạch), tức là Đảng Cướp Sạch “ngồi xổm” trên Hiến Pháp thì Hiến pháp chỉ là “mớ giấy lộn” không hơn không kém ! Luật sư mà “động đến Đảng là ông đánh bỏ mẹ” vì “Công an chỉ biết còn Đảng, còn mình” ! Nói như vậy thì “hết thuốc chữa” rồi !
    Chỉ khi nào ĐCSVN (= Đảng Cướp Sạch) trả lại nhân dân Việt Nam những quyền tự do, dân chủ thì khi đó luật học ở Việt Nam mới có cơ may phát triển, còn nếu không chỉ là Vũ Như Cẩn, không hơn không kém !
    Thiền sư Thích Không Đảng

  2. “Từ một hệ thống pháp luật độc lập có thể có trước năm 40 sau Công nguyên, ta bị ép buộc chấp nhận truyền thống pháp luật Viễn Đông, rồi bị ép buộc chấp nhận truyền thống Civil Law, tiếp đến là “tự nguyện” theo đuổi truyền thống Soviet Law. Và kể từ khi Liên Xô sụp đổ và ta bắt tay vào xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, thì hệ thống pháp luật của ta lại càng pha tạp nhiều hơn giữa nhiều truyền thống pháp luật mà có cả đôi tý của truyền thống Common Law.”
    Co lẽ phân đoạn này phải được biên tập lại cho phù hợp với thực tế lịch sử đất nước hơn, thí dụ như sau:
    Việt Nam không có một hệ thống pháp luật riêng biệt cho đất nước vì bị Trung Quốc trực tiếp đô hộ và chính sách chia ra ba Kỳ của Pháp để cai trị. Sau khi chiến thắng tại miền Bắc, Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng không có ý thức tôn trọng pháp luật vì đang lúc đề cao thuyết chuyên chính vô sản, xem luật pháp là vũ khí của bọn tư sản bóc lột và giai cấp vô sản cần phải dẹp bỏ bằng cách mạng bạo động. Việc đóng cửa trường Luật Đại học Hà Nội năm 1954 là một ví dụ. Vì khởi động chiến tranh giải phóng miền Nam nên tình trạng vô pháp luật của miền Bắc kéo dài cho đến năm 1975. Trong khi đó, Việt Nam Cộng Hòa đã phát triển được chế độ dân chủ pháp trị theo khuôn mẫu của Pháp để lại. Thành tựu của hệ thống tam quyền phân lập (dù là tương đối) này hoàn toàn sụp đổ sau khi hệ thống Tư pháp và các trường Đại học Luật Khoa Sài Gòn, Huế và Cần Thơ bị dẹp bỏ. Sau ngày Đổi mới, Việt Nam du nhập khái niệm kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Liên Xô mà cho đến nay không có những lý giải thuyết phục. Hiện nay, giới lãnh đạo Đảng đã từ bỏ khái niệm chuyên chính vô sản và không còn xem luật pháp là vũ khí của giai cấp tư sản dùng để bóc lột mà nhận ra rằng luật pháp là phương tiện để thu hút đầu tư ngoại quốc và hội nhập quốc tế. Do đó, họ đang thể hiện nhiều nỗ lực cải cách luật pháp cho phù hợp với kỷ nguyên mới và xây dựng một nền tảng pháp lý vững chắc là một thách thức to lớn.”

    • Trong các sách vở về lịch sử truyền thống pháp lý thế giới, Viễn Đông không hề được đề cập như là một truyền thống pháp luật, mà là một khái niệm địa lý để so sánh với Đông Nam Á, Đông Á và châu Á. Cộng Sản Việt Nam dựa theo triết thuyết Mác Lê làm nền tảng tư tương pháp lý; do đó, từ năm 1954 – 1989 không bao giờ công khai đề cập đến việc tiếp nhận truyền thống Civil Law để làm cơ sở cho hệ thống pháp lý. Cho đến nay, Hà Nội không có sách vở nào chứng minh cho việc này và cũng không có một tác phẩm nào trình bày về đề tài nhà nước pháp quyền theo đinh hướng XHCN một cách thuyết phục và mang tấm vóc quốc gia và quốc tế.

  3. “Bộ Giáo dục và Bộ Tư pháp cũng như Quốc hội sẽ vô cùng vất vả sắp tới để cải cách pháp luật Việt Nam nhằm đáp ứng các yêu cầu của Kỷ nguyên mới theo sự lãnh đạo của Đảng, mà trước hết là tư tưởng nền tảng về pháp lý.”
    Không có gì là vất vả như tác giả lo âu. Sự lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực cải cách pháp luật Việt Nam là toàn diện và tuyệt đối. Bộ Giáo dục và Bộ Tư pháp cũng như Quốc hội sẽ vô cùng thuận lợi khi theo ánh sáng Nghị quyết của Đảng mà thi hành tuyệt đối. Mọi việc sẽ an bài trong kỷ nguyên mới.

BÌNH LUẬN

Xin bình luận ở đây
Xin nhập tên của bạn ở đây