Ký sự của Phạm Đình Trọng
30-4-2025
Tiếp theo phần 1 — phần 2 và phần 3
4. Bóng dừa của hôm qua. Bóng dừa của ngày mai
Nguyễn Hữu Cách dừng lời đã lâu. Cả Cách và tôi cứ ngồi lặng nhìn ra biển. Mấy cánh chim từ biển bay về lượn vòng rồi xà xuống đảo. Một đôi chim từ đảo vụt bay lên lại lượn vòng trên vòm trời có những đám mây nhận được tia nắng cuối cùng trong ngày, đỏ rực lên được dân gian gọi là ráng đỏ. Dân gian còn nhận ra điềm báo nắng mưa ở màu sắc của ráng mây “Ráng vàng thì nắng, ráng đỏ thì mưa”. Đảo đang vào mùa mưa mà ráng chiều đỏ rực thì đêm sẽ có mưa mát mẻ.
Nhớ đến ba nấm mộ dưới bóng mát những tán dừa nhưng chỉ có nấm mộ mé ngoài, phía Bắc có tấm bia gỗ ghi tên liệt sĩ Tống Văn Quang, tôi hỏi Cách:
– Trên đảo chỉ có một tấm bia Liệt sĩ Tống Văn Quang. Như vậy rạng sáng 14-4-1975, ta chỉ bị mất một người thôi, phải không?
Cách nhìn những mầm cỏ mới lên xanh mướt trên cát san hô sau những trận mưa đầu mùa, nói:
– Ta mất hai người anh ạ. Cả Quyền nữa. Nguyễn Văn Quyền quê ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Quyền thuộc phân đội Hai của trung uý Cường, ở Nam đảo. Trước cả Quang, Quyền là người đầu tiên lao ra chặn tốp lính định cướp bo bo, bị họ bắn trả. Đạn găm vào bụng. Quyền bị thương được đưa lên trạm quân y dã chiến trên tàu chỉ huy của trung tá Mai Năng, được sơ cứu rồi đưa về Đà Nẵng nhưng chưa về đến Đà Nẵng, Quyền mất ngay ngày thứ hai trên biển. Mộ Quyền ở Đà Nẵng nên ở đây chỉ có mộ Quang.
Tôi lại hỏi:
– Còn hai ngôi mộ không có bia có phải mộ lính miền Nam bị bắn ở chỗ chiếc bo bo không?
– Quân miền Bắc cả đấy anh ạ. Kỳ lạ là lính miền Nam ở cả nhà chìm, ở cả chỗ bo bo chỉ bị thương thôi, không ai chết trên đảo. Số người bị thương được sơ cứu rồi đưa lên tàu về Đà Nẵng cùng với Quang. Căn nhà chìm mà trinh sát đã bò đến đếm từng mạng lính miền Nam và bọn em dồn dập thả thủ pháo vào nhà cũng chỉ đánh vào căn nhà trống không. Khi quả đạn ĐKZ thổi bay mái nhà, lính ở đó liền theo lối ngách rút hết sang căn nhà chìm thấp hơn, mái nhà ngang với mặt đảo. Nhà chìm là căn hầm chắc chắn và kín đáo lính trinh sát ta không phát hiện được. Năm người lính chạy ra bo bo đều dính đạn AK nhưng không ai chết. Họ cũng được quân y dã chiến trên tàu chỉ huy băng bó sơ cứu và được đưa về Đà Nẵng cùng chuyến tàu với Quyền. Tàu cũ, tốc độ chưa đến mười hải lý giờ. Vượt 480 hải lý phải mất ba ngày. Cũng như Quyền, ba người lính miền Nam mất khi chưa về đến Đà Nẵng.
Vậy hai người dưới nấm mồ vô danh là ai? Tôi đang băn khoăn tự hỏi thì Cách như đang bị câu chuyện cuốn đi, lại cho tôi biết rành rẽ:
– Hai nấm mộ chưa có bia ghi tên là lính ta tự sát đấy anh ạ. Chắc anh không thề ngờ rằng lính chinh chiến từ Bắc vào Nam, từ Cửa Việt đến Trường Sa, chiến đấu không sợ chết thế mà lại tự tìm đến cái chết lãng nhách. Không thể ngờ nên càng đau xót cho thân phận lính tráng anh ạ.
Lặng đi lúc lâu, Cách lại rì rầm như khi rì rầm kể về cánh quân từ Quảng Yên cuốn vào Đà Nẵng rồi gấp gáp ra Trường Sa:
– Đã là lính, ai cũng hiểu được rằng trong chiến tranh phải xa nhà, phải hy sinh những đòi hỏi, những nhu cầu chính đáng của con người riêng tư như là lẽ đương nhiên. Hết chiến tranh rồi thì không thể hy sinh mãi. Ai cũng mong được về với cuộc sống đời thường của con người. Nhưng bọn em ở Trường Sa như bị bỏ quên. Vẫn đằng đẵng chịu đựng kham khổ, thiếu thốn như thời chiến tranh. Còn kham khổ, thiếu thốn hơn cả thời chiến tranh nữa. Vì thời chiến tranh còn được ở trong đất liền. Sau những trận đánh vờn nhau với cái chết trong căn cứ giặc lại trở về hậu cứ giữa làng quê. Dù bận rộn, căng thẳng đến đâu vẫn có buổi sáng Chủ Nhật ra ngồi quán nước bên đường tán chuyện với chị chủ quán có đôi mắt lúng liếng và ngắm dáng thôn nữ đội nón ra đồng, đạp xe đi học. Ngoài đảo không còn những trận đánh chui hàng rào thép gai, lách qua bãi mìn nhưng cuộc sống căng thẳng như một hàng rào thép gai, như một bãi mìn vô tận. Ngày nắng cháy, trần lưng làm trận địa phòng thủ. Đêm thăm thẳm trằn trọc nỗi nhớ, bần thần nỗi thèm khát. Thèm từ lá rau xanh. Thèm cả tiếng gà gáy. Lại càng thèm tiếng con gái êm ái, dịu dàng. Quanh năm suốt tháng chỉ có nước biển mặn chát, chỉ có cát san hô bỏng rát, chỉ có mấy thằng lính con trai đen nhẻm và trùng trục cơ bắp như nhau. Những cái thiếu tưởng như rất nhỏ nhặt, ngọn rau xanh trong bữa ăn, bóng dáng người đàn bà trong cuộc sống, cũng làm cho con người mất đi sự cân bằng, hài hoà, cuộc sống trở nên không bình thường. Mà sự mất cân bằng cứ kéo dài như vô tận làm cho lính trẻ mất lý trí, mất tỉnh táo đến quẫn trí. Quẫn trí nghĩ rằng người trong đất liền mải ngất ngây với chiến thắng mà quên những thằng lính trần trụi trên núm cát san hô nhỏ xíu như đang còn trôi dạt bơ vơ, vô định trên ngọn sóng. Là con người có quê hương, có gia đình mà cuộc đời những người lính ở Trường Sa cũng bơ vơ vô định như núm cát hoang vu trôi dạt bất định trên biển. Quẫn trí nên lính kê nòng súng vào người tự sát, anh ạ.
Lặng đi lúc lâu, Cách lại rì rầm:
– Giữa năm 1975 còn kiếm được mảnh gỗ, lấy mũi dao găm vạch tên Quang. Giữa năm 1976 không kiếm được vật liệu làm bia mộ tạm cho hai ông bạn lính nông nổi xấu số nhưng trong sổ sách của đảo có đủ hồ sơ mộ chí. Đơn vị đã gửi giấy báo tử về gia đình. Rồi gia đình sẽ ra đảo đưa hài cốt về quê. Nhưng lính trẻ, vợ con chưa có. Dù thương nhớ con, bố mẹ già cũng không thể sống mãi. Anh em dù ruột thịt cũng mỗi người mỗi phận. Nắm xương khô dù có đưa về quê, hồn ma lính trẻ cũng vẫn chỉ là cô hồn vất vưởng nên em thấy bọn lính chúng em không may chết ở đảo cứ để nằm ở đảo, hàng ngày có đồng đội gần gũi, có lẽ tốt hơn. Hơn nữa hòn đảo cần có tinh thần, ý chí người sống, cũng cần có cả hồn thiêng người chết. Có dương, có âm mới là thế giới con người, cuộc sống mới có hiều sâu và bền vững.
Rất bất ngờ về điều người lính trẻ quê làng đạo vùng biển Nghĩa Hưng, Nam Định vừa nói nhưng tôi vẫn im lặng nhìn những con sóng trắng ngẩn ngơ, lang thang vô định trên mặt biển đang tối thẫm dần ngoài khơi xa. Bóng đêm đang chậm chạp lan trên biển. Gió đột ngột mạnh lên, ném cát bay rào rào. Cách lại lên tiếng:
– Anh có thấy cây dừa cụt ngọn ở khoảng trống giữa đảo không? Rạng sáng 14-4-1975 một quả đạn cối tám hai đã phạt ngang thân nó đấy. Còn hai cây dừa đổ rạp ở rìa Bắc đảo là bị trận bão tháng tám năm 1975 quật ngã. Đào hào chiến đấu, bọn em luôn gặp những gốc dừa lớn đã mục, vùi sâu trong cát san hô. Có gốc chỉ còn là một vệt đất mùn nâu sẫm, tơi xốp với vài mảnh thân dừa, vài sợi rễ chưa phân huỷ hết. Có gốc dừa bộ rễ đồ sộ, bền chắc của nó vẫn còn nguyên vẹn bám sâu trong cát san hô. Ở đảo em mới nhận ra cây dừa không phải chỉ cho hòn đảo trần trụi một khoảng bóng râm, cho tâm hồn lính một khoảng bình yên, thanh thản. Thân dừa vùi trong cát san hô còn cho hòn đảo có thêm sức sống. Chỉ có cát san hô thì cỏ cũng không sống nổi. Nhờ có lớp phân chim, cỏ mới bén rễ được. Rồi những trái dừa già từ những bãi dừa ven biển trong đất liền rớt xuống biển, được sóng đưa ra đảo, được cỏ giữ lại và nảy mầm bén rễ vào cát phân chim. Dừa sống che bóng mát cho đảo cát san hô bớt trần trụi. Dừa chết tạo ra lượng đất mùn quí giá cho màu xanh trên đảo. Nhờ có đất mùn thân dừa, đảo mới có màu xanh của cây bàng quả vuông, cây phong ba, cây sâm đất. Mùa mưa thứ hai ở đảo, mùa mưa năm 1976, bọn em đã trồng được hơn năm trăm mầm dừa. Những chỗ có đất mùn của xác dừa, mầm dừa non lên xanh tốt nhanh lắm anh ạ.
Tôi đã thấy những cây dừa non xanh mơn mởn sau những trận mưa đầu mùa đang trải rộng màu xanh cho hòn đảo. Tôi cũng đã đứng bên thân dừa cụt ngọn như cái cột nhà bị mất mái, để lại một khoảng cát san hộ trống trải giữa đảo. Ngồi với Cách ở ghế đá trong chiều muộn, ánh sáng đang tắt dần, không nhìn thấy thân dừa cụt ngọn nhưng lời Cách nhắc đến cây dừa chết đứng vì bị đạn cối phạt mất ngọn rạng sáng 14-4-1975 tôi lại nhớ lời Cách kể về buổi sáng 14-4-1975, về những người lính trẻ đều là người Việt đổ vật ở mép đảo trong làn đạn của hai sắc lính vãi cái chết cho nhau, về khoảnh khắc người chỉ huy chiến dịch Trường Sa, trung tá Mai Năng đặt chân lên đảo Song Tử Tây rạng sáng hôm đó.
Sáng sớm ngày 14-4-1975, dòng lính miền Nam nối nhau ra khỏi nhà chìm vừa dứt thì trung tá Mai Năng bước lên đảo Song Tử Tây, cùng trung uý Cường đến bên người lính nằm gục trên cát san hô ở chỗ chiếc bo bo rìa Tây Bắc đảo. Ra lệnh chuyển những người lính bị thương, cả lính miền Bắc, cả lính miền Nam lên cấp cứu ở trạm quân y dã chiến trên tàu chỉ huy rồi đưa ngay về đất liền, trung tá Mai Năng đến bia chủ quyền giữa đảo, nơi trung uý Quế đang đôn đốc những người lính miền Bắc làm công việc phi quân sự hoá những người lính miền Nam bằng cách yêu cầu họ giao nộp hết vũ khí, trút bỏ bộ đồ lính và khai báo nét chính nhân thân của họ. Dẫn đến trước trung tá Mai Năng người lính miền Nam quần đùi, áo sơ mi trắng ngắn tay, trung uý Quế nghiêm giọng đúng quân phong, quân kỉ nhưng lời báo cáo thì chưa hẳn đã đúng điều lệnh:
– Báo cáo trung đoàn trưởng. Thiếu uý đảo trưởng quân miền Nam xin được gặp trung đoàn trưởng. Tay thiếu uý này rất được trung đoàn trưởng ạ!
Trung tá Mai Năng cho dẫn viên thiếu uý đảo trưởng về nhà chìm mé Nam đảo và người chỉ huy quân miền Bắc đã ngồi nói chuyện với người chỉ huy quân miền Nam trấn giữ đảo Song Tử Tây đến tận trưa. Bảo lính công vụ mang đến hai suất ăn trưa được nấu ở bếp trên tàu chỉ huy, trung tá quân miền Bắc cùng ăn bữa trưa dã chiến với viên thiếu uý quân miền Nam trên núm cát san hô còn hoen máu những đứa con yêu mang hai sắc lính của người mẹ Việt Nam.
Người lính đặc công đã tạo ra biển lửa đốt máy bay Pháp ở sân bay Cát Bi, Hải Phóng. Người anh hùng đánh chìm tàu chiến Mỹ ở quân cảng Cửa Việt, Quảng Trị. Người chỉ huy đạo quân ra nhận những núm cát san hô trong quần đảo Trường Sa của lịch sử Việt Nam, của cha ông người Việt để lại. Người lính đó năm 1975 là trung tá trung đoàn trưởng trung đoàn đặc công nước 126. Mười bảy năm sau người lính đó là thiếu tướng Tư lệnh binh chủng Đặc công.
Tư lệnh binh chủng Đặc công Mai Năng về hưu năm 1998 nhưng vốn là lính đặc công nước của hải quân, dịp 14.4.2014, bộ tư lệnh Hải Quân đã tổ chức đưa người lính Mai Năng của sông, biển trở về với biển đảo Trường Sa, nơi ông và những người lính của ông đã góp thêm vào trang sử đương đại Việt Nam những dòng bi tráng. Dịp này cũng có người của xưởng phim Quân Đội mang máy quay phim theo người lính già Mai Năng ra đảo Song Tử Tây. Nhờ vậy tôi lại được biết thêm về chuyến đi biển cuối cùng của người lính sông biển Mai Năng.
Ngày 14 tháng 4 năm 2014 lịch tây lại đúng ngày rằm tháng 3 lịch ta. Mặt trăng tròn vành vạnh thả ánh sáng huyền ảo xuống biển. Trong ánh trăng, tán dừa lại thả bóng la đà xuống đảo Song Tử Tây. Trong bóng dừa xao động giửa đảo, trước những người lính trẻ quây quần chung quanh, người lính chiến trận Mai Năng lại bắt đầu bằng câu “Các đồng chí” như mấy chục năm trước ở quân cảng Đà Nẵng khi giao nhiệm vụ cho những người lính ra Trường Sa, ông cũng mở đầu như vậy.
– Các đồng chí, tôi muốn kể với các đồng chí mẩu chuyện nhỏ về hòn đảo mà các đồng chí đang làm chủ. Dù chuyện cách đây đã mấy chục năm nhưng tôi vẫn để trong dạ. Chuyện chỉ đơn giản thế này thôi. Khi toàn bộ quân miền Nam đồn trú ở đảo Song Tử Tây buông súng, giao lại đảo cho quân miền Bắc, chấm dứt trận đọ súng ngắn ngủi nhưng cũng đủ đẫm máu, viên thiếu uý quân miền Nam thuộc quân địa phương tỉnh Phước Tuy mặc xà lỏn, đến gặp tôi, nói với tôi rằng chúng tôi đã nhận được lệnh từ chỉ huy và từ chính trái tim chúng tôi phải tử thủ bảo vệ đảo và chắc chắn chúng tôi sẽ thực hiện như vậy nếu là quân nước ngoài chiếm đảo. Tuy vậy nghe thấy tiếng các ông, tiếng người Việt yêu cầu buông súng, giao lại đảo cho người Việt thì tôi thấy không cần tử thủ nữa. Biết chắc là người Việt, là quân Bắc Việt, tôi đã ra lệnh buông súng. Khẩu súng từ tay người lính mang dòng máu Việt Nam không thể xả đạn vào đầu, vào ngực người lính cũng mang dòng máu Việt Nam. Chúng tôi chỉ buông súng trước người Việt. Chúng tôi còn sống thì không bao giờ để hòn đảo này rơi vào tay người nước ngoài. Mẩu chuyện chỉ có vậy mà tôi không thể quên. Như tôi không thể quên câu mẹ tôi vẫn nói đói cho sạch, rách cho thơm từ ngày tôi còn nhỏ. Người Việt là như vậy. Người Việt dù ở bên nào cuộc chiến cũng vẫn là người Việt. Chúng ta có được đất nước như hôm nay là nhờ lớp lớp thế hệ người Việt như vậy đó các đồng chí ạ.
Nhấp ngụm nước dừa trong chiếc li nhựa, người lính già Mai Năng nói tiếp:
– Chuyện trò với người chỉ huy quân miền Nam bảo vệ đảo Song Tử Tây tôi còn được biết rằng viên thiếu uý quân miền Nam lại là cháu gọi một đồng chí lãnh đạo quân chủng Hải Quân miền Bắc lúc đó là chú ruột. Thật trớ trêu, hai chú cháu cùng ý chí giữ gìn non nước Việt Nam lại ở hai chiến tuyến đối kháng tiêu diệt nhau. Khi những người lính miền Nam buông súng thì năm người lính đều là người Việt, ba người lính miền Nam, hai người lính miền Bắc đã bị những loạt đạn từ họng súng trong tay người Việt giết chết trên núm cát san hô của tổ tiên người Việt. Năm mươi ba lính miền Nam giữ đảo Song Tử Tây. Bốn mươi bốn lính miền Bắc ra nhận lại đảo. Cả hai bên cộng lại chưa đến một trăm người. Chỉ vài loạt đạn quất vào nhau mà năm người chết. Tỉ lệ chết chóc tới hơn năm phần trăm. Tính thêm cả gần chục người bị thương nữa, tỉ lệ thương vong lên đến hơn mười phần trăm. Chết chóc nhiều quá. Ngày lịch sử 14 tháng tư năm 1975 của đảo Song Tử Tây là như vậy. Ngày lịch sử 30 tháng tư năm 1975 của cả dải đất Việt Nam cũng hệt như vậy.
Người lính già dừng lời. Những người lính trẻ vẫn ngồi lặng. Tiếng tán dừa lao xao trong gió. Tiếng biển rì rầm xa thẳm. Chợt tiếng người lính già lại nổi chìm trong tiếng gió, tiếng biển:
– Sang năm mới tròn 40 năm ngày 14 tháng tư năm 1975 và tròn 40 năm ngày kết thúc cuộc chiến tranh trong lòng đất nước Việt Nam. Năm nay tôi tám mươi tư tuổi rồi. Sức khoẻ suy giảm từng ngày. Sang năm chắc gì tôi còn đủ sức khoẻ đi biển nên dịp mười bốn tháng tư và ba mươi tháng tư năm nay bộ tư lệnh Hải Quân ưu ái cho tôi có được chuyến đi dối già này, cho tôi có cuộc gặp này để tôi được nói đôi điều chân thật như những lời của một người già gửi gắm lại. Tôi xin cảm ơn bộ tư lệnh Hải Quân cho tôi có dịp trở lại hòn đảo nhỏ đã viết nên sự kiện 14-4-1975 và tôi cũng có nỗi áy náy xin được cảm phiền là khi tiễn tôi xuống tầu ở Hải Phòng ra Trường Sa, chính uỷ quân chủng Đinh Gia Thật nhắc đi nhắc lại rằng qua những câu chuyện truyền miệng của lính, lính trẻ hải quân đều biết tên tôi và đều mong gặp được người thật. Chính uỷ Thật bảo rằng thần tượng của tuổi trẻ trong xã hội hôm nay là những ngôi sao ca nhạc còn thần tượng của tuổi trẻ trong quân ngũ vẫn là những người lính trận mạc như tôi. Làm công tác chính trị, tư tưởng với tôi rồi chính uỷ Thật giao nhiệm vụ bảo tôi ráng đến tất cả các điểm có lính ta đang trấn giữ ở Trường Sa. Tôi đi một vòng Trường Sa rồi cuối tháng, lãnh đạo quân chủng sẽ đón tôi ở Sài Gòn trong bữa tiệc mừng hai sự kiện. Sự kiện 14 tháng tư và sự kiện 30 tháng tư năm 1975. Gặp các đồng chí là tôi đang thực hiện nhiệm vụ do chính uỷ quân chủng giao. Tôi sẽ ráng đi được đảo nào hay đảo đó. Còn chắc chắn tôi sẽ không về Sài Gòn dự bữa tiệc mừng hai sự kiện tháng tư năm 1975.
Lặng đi lúc lâu, người lính trận mạc lại rì rầm:
– Ở hòn đảo nhỏ xíu này, ở mép nước lúc thuỷ triều lên phía Tây Bắc đảo, tôi đã chứng kiến những cái chết của người Việt ở cả hai phía cuộc chiến. Hằng năm, đến ngày mười bốn tháng tư và đến ngày ba mươi tháng tư, lại nhắc tôi nhớ đến những dòng máu người Việt đổ ra ở Song Tử Tây, những dòng máu người Việt đổ ra trên cả dải đất Việt Nam. Những dòng máu ấy cứ chảy mãi trong tâm tưởng tôi. Tôi xin thú thật rằng tôi không còn bụng dạ nào ăn mừng sự kiện đổ máu đó.


