Nguyễn Khắc Mai
22-2-2025
Tôi mượn câu thơ của cụ nghè Nguyễn Văn Lý, là bậc đại nho sống vào giữa Thế kỷ XIX tại Thăng long, từng kết thân với Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, hiện còn nhà thờ ở Ô Đồng Lầm nơi tôi sinh sống, để nói đôi điều lúc Xuân Ất Tỵ đang đến. Câu thơ ấy có nghĩa: Xuân đến, thành Long Đỗ gần đây có chuyện gì? (Long Đỗ nghĩa là rốn rồng – một tên gọi xưa của Thăng long).
Ngày 18 tháng 1 năm 2025, tôi ra phố để lên Ban Dân vận dự tất niên và nhận quà mừng Tết. Khi ngang qua chùa Quán Sứ, thấy cổng tam quan có băng Mừng Xuân Di lạc. Tự nhiên tôi nhớ tới cảnh trên mạng, phật tử Thái lan đổ ra đường quỳ, cung kính đảnh lễ và dâng bố thí thức ăn, nước uống cho đoàn du tăng của nhà tu hành Thích Minh tuệ. Tôi nghĩ, tại sao ta không đặt tên cho năm mới Ất Tỵ này là Xuân Minh Tuệ. Và tôi đã viết mấy chữ Cung hỷ Minh Tuệ Xuân, dán ở cửa.
Điều thú vị là, tất cả những nơi phật tử xứ Thái tập họp bên đường đông đảo để dâng bố thí thì tịnh không thấy bóng lực lượng áo vàng như ở bên ta. Chính quyền Thái dường như coi đó là việc của dân, nên không cần phải can thiệp. Thế là tôi nhận thấy dường như có một đẳng cấp cao hơn so với xứ ta.
Ở xứ mình, những anh áo vàng lập tức có mặt nơi những người dân chỉ muốn đến chiêm bái một nhà tu hành đang đi khất thực. Họ tay huơ, miệng huýt, y như câu đố thuở nhỏ tôi đã nghe ở Huế. “Đố mi: Sừng sửng mà đứng giữa trời. Tay huơ miệng huýt c*t lòi bên hông là cái chi?” Là ông cảnh sát! Người Huế nghịch ngợm tả chân anh cảnh sát y chang, nhất là chiếc matrac đeo bên hông, thật hóm hỉnh.
Hiện tượng nhà tu hành Thích Minh Tuệ xuất hiện ở nước ta năm ngoái thật đầy ấn tượng và đã gieo nhiều duyên lành với những bài học cả Đạo lẫn Đời rất sáng giá. Chưa bao giờ cái gọi là ngoại giao nhân dân đã được đoàn các nhà tu hành Minh tuệ thực hiện một cách tinh tế, sinh đông, tự nhiên và hiệu quả như vậy. Hiệu quả còn sâu sắc hơn cả trận thắng bóng đá vừa rồi cũng ở Thái. Nếu tôi làm ông Lâm, ông Chính, nhất định tôi sẽ gọi điện chúc mừng năm mới khi đoàn du tăng đang băng qua các làng mạc, các cánh rừng xứ Thái khi đón giao thừa và đã làm tươi tắn lên hình ảnh của nước Viêt, của người Việt. Tôi cũng sẽ bảo Bộ Ngoại giao làm công hàm gởi các chính phủ nơi Đoàn Du tăng Việt sẽ đi qua.

Tôi nghĩ rằng nếu trả lời cách hỏi của cụ nghè Đông Tác vào giữa thế kỷ 19, rằng “Xuân lai Long Đỗ cận hà như”, thì năm con Rồng ở nước ta có hiện tượng Thích Minh Tuệ cũng là sự kiện đáng phải để tâm suy ngẫm và biện luận. Hai chữ Minh Tuệ là pháp danh của nhà tu hành này. Ai đặt, tôi không biết. Có ngẫu nhiên không? Có. Có ý tứ gì không? Rất nhiều. Chưa bao giờ người Dân, trong đó có tôi, lại khao khát mong chờ, đón đợi sự minh tuệ cho cuộc đời, và nhất là luôn mong đợi phẩm chất minh tuệ nơi những người lãnh đạo của thế hệ mới.
Tôi đoán rằng, nếu ta và nhất là họ, nếu không có minh tuệ, và cứ hư hỏng cũ kỹ mà cụ Hồ đã dự báo, họ sẽ lại chẳng làm nên trò trống gì cho kỷ nguyên mới. Vì thế tôi không ngac nhiên khi đông đảo những bần dân, hạ dân, phó thường dân xứ ta đã hăm hở, nồng nàn cung kính đón đợi đãnh lễ một nhà tu hành đầu trần chân đất đến như vậy. Cử chỉ không tầm thường chút nào!
Rõ ràng chỉ có tri thức, mà không có tuệ tâm, tuệ nhãn, tuệ trí, tuệ hạnh, dẫu đã dán hai chữ “cộng sản” lên trán, như cụ Hồ từng phán, họ vẫn như Lenine bão, chỉ là lũ vừa dốt, vừa tham, vừa cậy quyền mà thôi.
Còn một loạt các sự kiện có tầm quốc gia quan trọng khác đang chiếm lĩnh tâm trí ta và sẽ còn tác động ảnh hưởng đến từng người, đến cả “Quốc tộ” trong tương lai gần và xa hơn. Tôi nghĩ đến việc ông Tô Lâm mở đầu một trang sử mới và vào năm mới năm Con Rắn, tôi muốn mở quyển sách ước (*) để cầu mong cho nó thật sự Là “Nguyên hanh lợi Trinh”. “Nguyên hanh lợi trinh” là lời trong quẻ Càn của Kinh Dịch. Nó nêu một nguyên lý của muôn đời là, nếu sự việc bắt đầu là “nguyên”, đều là đúng đắn, thì sẽ hanh thông, chắc sẽ có lợi mà là đại lợi, và “trinh” là vững bền.
Mở đầu, ông Tô nhân ông Trọng ốm nặng bèn cởi chiếc xe tăng xông lên gạt phăng mấy ụ cản, tiến thẳng vào phủ Toàn quyền, bên Hùng Vương tây, rồi ung dung băng qua bên kia chỉ là một quãng ngắn là Hùng Vương đông, chiếm lấy Tòa Xích Ốc (Tòa nhà Đỏ) nơi xưa là trường Albert Sarraut, nay là văn phòng Trung ương Đảng. Rồi ông tuyên bố bốn sự kiện vang dội. Một là công bố mở Kỷ nguyên mới – Kỷ nguyên vươn mình của Dân tộc.
Tôi chỉ cầu mong không chỉ mấy ông cán bộ vươn mình mà trước hết, trên hết và quan trọng là Dân vươn mình. Tôi nghiệm ra rằng ở nước ta vào thời hiện đại, lúc nào Dân được vươn mình, có năng lực vươn mình, thật sự được vươn mình, thì dân tộc có thắng lợi, có thăng hoa phát triển. Năm 45, năm 75 rồi năm 86 là những chứng minh rõ nhất. Hãy làm cho Dân vươn mình.
Ngày xưa Lão Tử mong Dân tự hóa. Năm 45 thì mong “Mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Ai cũng có quyền tự do mưu cầu hạnh phúc”! Dưng mà không thực hiện được vì Dân bị tranh mất cái quyền mặc nhiên ấy. Bài học ấy nay phải thấm thía. Ông Tô khôn ngoan không đao to búa lớn, không đại ngôn như một thời “Tiến nhanh, Tiến mạnh, Tiến vững chắc, Tiến thẳng lên Chủ nghĩa Xã hội”, chỉ nói vươn mình. Ý tại ngôn ngoại, tư duy mở (cố gắng thành open mind đó chăng?).
Thứ hai là phải Đổi Mới Đảng. Cái Đảng nói như Lenin là vừa dốt, vừa tham lại cậy quyền. Đó là ba gót Achille của cộng sản (Xem bệnh ấu trĩ tả khuynh của người cộng sản). Vì thế những nhóm cán bộ Dốt, Tham, Cậy quyền của đảng đã đánh cắp Độc Lập, Tự do, Hạnh phúc của Dân mất. Thế hệ cầm quyền mới hãy cố vươn mình để có một nhân cách mới! Đó sẽ là hồng phúc của Dân.
Tôi nhớ, ông La Rochefoucauld từng nói, người ta dốt vì họ chỉ biết những điều sai và những điều không cần biết. Giữ mãi cái sai mà không biết cái đúng là Ngu, chứ không chỉ là dốt. Cổ nhân của phương Đông rất minh triết nên từng nói, “biết mình dốt mới thật là người có trí – nghĩa là không dốt”. Vì họ biết mình dốt nên luôn cố gắng học hỏi. “Bất sĩ hạ vấn”, không xấu hổ học hỏi người kém hơn mình.
Người nước ta tự dưng nảy nòi cái xấu rất kỳ cục, luôn xưng mình là nhất thiên hạ, là vô song, là vô địch muôn năm, là đỉnh cao trí tuệ… Hết biết! Ai đã gieo cái xấu đó vào xã hội thật là đại gian, đại ác, là tôi đồ của dân tộc. Hai ông Mác và Ăng-ghen, cuối đời đã từng thôi cuồng tín trẻ con, nên đã luôn nhắc nhở đồ đệ của mình “Hãy bắt chước những thực tế văn minh của những dân tộc tiên tiến, để làm chính sach”. Do người ta ỷ mình và kiêu ngạo nên đã không thèm học những thành công của thiên hạ. Nhớ ngày xưa Thánh Gióng chỉ xin nhà vua ngưạ sắt và roi sắt, còn vươn mình là việc của dân. Việc ông tự ăn ba nong cơm, bảy vại cà, là mật mã nói về sự vươn mình của Dân.
Thế hệ lãnh đạo mới nói nhiều về phát triển khoa học công nghệ, nhất là về nền văn minh tin học, số hóa. Tuy nhiên tôi chưa thấy cái Ủy ban khả kính, đang chỉ đạo công cuộc phát triển vĩ đại này được coi như cái passe-partout cái chìa khóa vạn năng để mở ra cánh cửa lớn, đặng đi vào kỷ nguyên mới.
Thời đại của kỷ nguyên kỹ thuật số không thể như thời trung cổ, chỉ đạo theo ý đồ, theo tư tưởng mà được. Thời hiện đại người ta chỉ đạo theo chương trình được xác lập với mục đích rõ ràng, khả thi, có nội dung cụ thể từng nghành, từng giai đoạn, có phương thức tiến hành phù hợp.
Tôi nghe nói thời Tổng thống Phác Chính Hy (Park Chung-hee) khi muốn Hàn quốc phát triển kinh tế và công nghiệp, ngài đã cho thanh lập một Ủy ban quốc gia để chỉ đạo, mời một nhà khoa học có uy tín làm Giám đốc, đồng thời đồng ý để cho cái Ủy ban ấy vận hành như một công ty tư nhân. Ngài Tổng thống hàng tuần đến chỉ quan sát họ làm việc, không can thiệp, chỉ lắng nghe những khó khăn, vướng mắc của họ rồi tìm cách giải quyết. Quả nhiên, chỉ sau mấy thập kỷ, Hàn quốc đã vươn lên thành nền kinh tế thuộc tốp 10 của thế giới, nền khoa học và giáo dục được xếp vào hàng tiên tiến của hành tinh!
Khi chưa về hưu, mấy lần tôi được giao nhiệm vụ trình bày chuyên luận: Chính sách Trí thức của Đảng. Tại Ban Dân vận trong tòa nhà Đỏ, tại Ban khoa giáo, tôi chọn lát cắt về những vai trò của trí thức trong lịch sử và xã hội, về tiếp nhận văn hóa, truyền bá văn hóa, sáng tạo văn hóa, phản biện, dự báo và nhất lài vai trò định hướng. Tôi thẳng thắng thưa, trên hết và trước hết là Đảng phải biết “Bái Trí vi Sư”. Tôi mượn cách nói của cụ Phan Bội Châu khi cụ nói “Bái Thạch vi Huynh”. Điều thú vị là khi nghe xong, giáo sư Nguyễn Đình Tứ, Trưởng ban Khoa giáo nói riêng với tôi: Anh nói đúng nhưng họ không làm được mô!
Vào năm Rắn này, tôi từng trò chuyện với bạn bè về những mật mã minh triết liên quan tới con rắn. Đó là chiếc gậy thần từng cứu rắn khỏi chết. Thánh Tản Viên được gậy thần từ một người đàn bà, một nữ thần, không phải từ triều đình, nên đã tìm được “voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao”, mà cưới được công chúa, lại cứu được long thái tử, tức là người thừa kế. Những người thừa kế của hôm nay hãy tìm đến dân để cải tử hoàn sinh cho chính mình, cũng là cho Dân cho Nước. Rồi ngài được Long vương, tức Cha Rồng, tặng cho quyển sách ước. Trước đây triết gia Lương Kim Định rất quan tâm đến sách ước như một archetype của minh triết Việt. Ước gì được nấy, nhưng chưa chú ý đến nó là quyển sách không chữ. Thật kỳ diệu.
Tổ tiên mình từng ngụ ý, chớ cả tin vào sách vở. Cả tin vào sách vở là ngu. Như Phật bảo, hãy tin vào chính mình tin vào sự chiêm nghiệm của chính minh. Cụ Khổng Phu tử thì bảo “tận tín ư thư bất như vô thư”, “cả tin vào sách chi bằng không có sách”. Nguyễn Du cũng nói chí lý “Tài tri vô tự thị chân kinh. Mới hay không chữ mới thật là chân kinh”. Chỉ có minh tuệ mới tìm tới được cái khôn ngoan sáng láng, những lè Chân-Thiện-Mỹ của con người, cuộc đời. Ngụ ý ấy trong pháp danh Minh Tuệ có cho ta một chút đốn ngộ nào không?
Vào năm Ất Tỵ này ta không thể quên sự kiện của 800 năm trước, khi nhà vua Trần Thái Tông tiếp quyền nhà Lý, mở ngôi nhà Trần. Trần thái Tông lên ngôi năm 1225, năm nay 2025, vị chi đã 800 năm chẳn. Nhà Trần với một nền lịch sử huy hoàng, một nền chính trị để lại nhiều giá trị minh triết của tinh thần thân dân, khoan thư, nhân ái; để lại một nền Phật học đậm chất thiền Đại Việt; để lại tinh thần văn hóa Đông A vô vàn giá trị, mà bài thơ tứ tuyệt của Trần Minh Tông đã chỉ rõ:
Đường, Việt khai cơ lưỡng Thái tông
Bỉ xưng Trinh quán, ngã Nguyên phong
Kiến Thành tru diệt, An sinh tại,
Miếu hiệu tuy đồng, đức bất đồng
Một cái Đức của Đại Việt đang được khơi dậy và hình thành từ thuở Văn hóa Đông A.
Văn hóa Đông A còn để lại cho chúng ta hôm nay một bản hùng văn như nhiều học giả khẳng định. Đó là Kê Minh Thập Sách do bà phi của vua Trần Duệ Tông là Nguyễn Cơ Bích Châu viết, dâng lên nhà vua. Đoàn Thị Điểm đã sưu tầm và giới thiệu cho chúng ta trong truyện Hải Khẩu Linh Từ, đăng trong tác phẩm Truyền Kỳ Tân Phả của bà. Kê Minh Thập Sách là mười chính sách để trị nước an dân, như là minh triết của muôn đời. Chính Lê Thánh Tông hiểu ý ấy nên đã phong tặng bà Bích Châu mỹ tự “Chế Thắng Phu Nhân”, nghĩa là vị phu nhân đã chế định ra những bài học để chiến thắng. Cũng có nghĩa là, ai học được Kê Minh Thập Sách vận dụng nó vào công cuộc trị nước an dân, nhất định sẽ chiến thắng.
Mở đầu Kê Minh là bốn chính sách về chính trị:
Nhất viết: Nâng đỡ Dân nước (quốc bản), trừ bỏ hà khắc bạo ngược thì lòng dân an vui.
Nhị viết: Bãi bỏ phiền nhiễu để kỹ cương không rối.
Tam: Đè nén lũ lộng quyền để phòng sâu mọt chính trị.
Tứ: Sa thải bọn quan lại tham nhũng để giảm sự chài vét của dân
Hai chính sách về văn hóa:
Ngũ: Xin chấn chỉnh nho phong để ánh sáng văn hóa như măt trời soi khắp.
Lục: Cầu lời nói thẳng khiến đường ngôn luận và cổng thành cùng rộng mở.
Bốn điều về quân sự.
1. Kén quân trước là sức khỏe, sau mới đến dáng vóc.
2. Tuyển tướng cốt người thao lược, sau mới tính thế gia.
3. Vũ khí cốt bền sắc, cần chi hoa hòe.
4. Trận pháp cốt chỉnh tề, không phải múa may.
Phải chăng, bước vào kỷ nguyên vươn mình việc số một là “Phù Quốc bản. Hà bạo khử tắc dân tâm tự an”. Phù là nâng đở lên. Quốc bản chính là người dân.
Điều nghịch lý là mở đầu kỷ nguyên lại bằng 168 cái còng để trừng phạt dân. Trong khi minh triết của cha ông ta lại dạy rằng, mỗi khi một vị minh quân ra đời, họ bao giờ cũng bắt đầu bằng chính sách khoan thư sức dân, tha tù, miễn giảm sưu thuế, kính cẩn với người có công, tôn vinh trí thức… Như vậy, những người giúp anh Tô đã không làm tròn nhiệm vụ!
Trong Kê Minh Thập Sách, bà Bích Châu cố vấn cho vua rằng, bỏ phiền nhiễu, thải loại lũ tham quan ô lại thời nay. Đè nén lũ lộng thần, chấn chỉnh nho phong để đuốc văn hóa soi khắp. Cầu lời nói thẳng (chính là thực hiện tự do tư tưởng) đều là những mách bảo sáng suốt, kịp thời. Điều đặc biệt là bà nói việc tuyển tướng, nhưng không chỉ là trong quân sự.
Có lần tôi thưa với anh Trọng khi tham gia cùng anh trong một đề tài cấp nhà nước, rằng cách chọn cán bộ của ta không theo được nguyên lý rất cổ điển mà cũng rất hiện đại, đó là phẩm chất thao lược của người chỉ huy. Hầu như ở bất cứ lĩnh vực nào ta cũng rất kém cả thao cả lược.
Muốn phát triển khoa học, công nghệ số hóa, trí tuệ nhân tạo… trước hết hãy chấn chỉnh phong cách, phong thái của kẻ sĩ, từ anh chị sinh viên cho đến bậc trí thức ở các trường, viện. Sửa đổi nền giáo dục đang lạc hậu nhiều, coi trọng đầu tư cho RD, tức là cho nghiên cứu và triển khai. Coi trọng khoa học, công nghệ, số hoá trí tuệ nhân tạo… là tư duy rất đúng đắn mà ông Trọng hai ba nhiệm kỳ cũng không có nữa câu! Tuy nhiên, còn phải chờ đợi xem cái Ủy ban quan trọng kia có chương trình cùng không.
Phải biết thật sự coi trọng vai trò của Trí Thức, bái trí vi sư, để cho họ cầm trịch việc nghiên cứu, triển khai. Phải bỏ lối coi trọng lý lịch đỏ lòm, phải đỏ mới vào làm được trưởng phòng, trưởng bộ môn… Chọn hạng cấp thứ để làm lãnh đạo khoa học… là phi khoa học, phi văn hóa. Bộ phận trí thức Việt kiều là một mỏ chất xám rất quý giá. Phải biết khai thác, phải biết trân trọng. Tại sao không mời được họ về đảm nhiệm những viện, những trường, những phòng thí nghiệm.
Xin hãy nghe bà Bích Châu: Cầu lời nói thẳng khiến cho đường ngôn luận và cổng thành cùng rộng mở. Thật kỳ diệu, bà gắn mở cổng thành và tự do tư tưởng. Không coi trọng tự do tư tưởng, không thể chiêu hiền đãi sĩ!
Thật là kỳ diệu, thật là hạnh phúc, khi một dân tộc có Tổ Tiên từng sáu, bảy trăm năm trước đã để lại cho con cháu về sau những minh triết, dẫn dắt mọi hành động để dân tộc vươn mình trong thời đại mới, để sửa lại cho có một Chính quyền thật sự biết nâng dân lên đầu, chứ không chà đạp họ dưới gót vô minh và vô đạo. Những chỉ bảo để “đốt lò”, để có khoa học công nghệ và trí tuệ nhân tạo, để chỉnh đốn Đảng, thành một đảng dân chủ văn minh của dân tộc, để đưa nền kinh tế phát triển cho dân mưu cầu hạnh phúc… Hơn nữa, là một nền quốc phòng vừa có quân đội tinh nhuệ, tướng lĩnh tài ba vùa thao vừa lược, vũ khí sắc bén, trận pháp chỉnh tề, đủ sức giữ gìn cuộc sống hòa bình an lạc của Dân, của Nước.
Tôi xin mượn lời kết trong Kê Minh Thập sách của Bà, để dâng hiến quý độc giả nhân đầu năm Rắn:
“Mấy việc kể trên thật hợp thời này,
Một tấm lòng trung, mạo muội tỏ bày.
Lời quê mộc mạc, xin Vua xét lấy.
Điều dở thì bỏ, thi hành điều hay,
Nước được thịnh trị, Dân được vui vầy,
Tấm lòng thiếp vậy”.
Mùa Xuân, sao ta không về Kỳ Anh, xuống đền Bà thắp nén hương cầu cho nước trị Dân an?
________
Chú thích: Xem Chế Thắng Phu Nhân – Nguyễn Thị Bích Châu và Đền Thiêng Hải Khẩu. NXB Phụ Nữ ngày 26-3-2015.



1. Đặng Tiểu Bình thường được biết đến như một “kiến trúc sư chính của quá trình hiện đại hóa và phát triển kinh tế Trung Quốc”, nhưng ít người biết, những châm ngôn hành động nổi tiếng nhất như thuyết “mèo đen, mèo trắng” hay “mò đá qua sông” lại không hoàn toàn là “phát kiến” của ông. Nó được ông học hỏi từ Lưu Bá Thừa, một người cộng sự chiến trường thân thiết suốt 13 năm của Đặng Tiểu Bình.
Thuyết “mèo đen, mèo trắng” xuất phát từ câu “mèo vàng, mèo đen, chỉ cần bắt được chuột đều là mèo tốt” của Lưu Bá Thừa trong thời gian ông cùng sát cánh với Đặng Tiểu Bình những năm 1930-40 trong cuộc vạn lý trường chinh. “Mò đá qua sông” cũng là câu mà Lưu Bá Thừa đã nói. Thời kỳ lập nước Trung Quốc mới, tướng Lưu Ái Bình nhận lệnh xây dựng trường quân sự, trước khi đi đã đến thỉnh giáo Lưu Bá Thừa. Lưu Bá Thừa nói: “Tôi cho đồng chí sáu chữ và cần phải ghi nhớ. “Hãy mò đá để qua sông””. Đặng Tiểu Bình đã áp dụng chính châm ngôn này trong thời kỳ cải cách mở cửa, khi “mở một con đường máu” là các đặc khu kinh tế.
2. Nhưng chuyện các “ý tưởng lớn” này có phải là phát kiến của riêng ông hay không, đối với Đặng Tiểu Bình, dường như không quan trọng. Ông chưa bao giờ muốn làm nổi bật mình trước tập thể. Chưa từng chính thức giữ các chức vụ nguyên thủ của Trung Quốc, ông luôn “thực sự cầu thị”, không cần hư danh, luôn biết cách lùi lại phía sau, miễn làm sao “được việc là được”. Khi chết, ông được hỏa táng và rải tro cốt xuống biển. Ông có thể xem là một người Cộng sản thực dụng điển hình. Tiếp nhận chủ nghĩa Marx từ những năm 1920 ở tuổi 16-17 khi du học nghề ở Pháp, ông cũng từng được gửi đi học ở Liên Xô, nhưng với ông chủ nghĩa Marx-Lenin chưa bao giờ là một tín điều bất biến. Ông nói: “Học Marx-Lenin phải học cái tinh túy, phải biết áp dụng”, là sự liên hệ lý luận với thực tiễn, chính “thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý”. Với châm ngôn này, cùng với thuyết “mèo đen, mèo trắng”, chỉ những gì “có hiệu quả thực tiễn mới là tốt”, luận thuyết nọ, ý tưởng kia dù nghe có vẻ hay ho đến đâu, mà không áp dụng được trong thực tiễn thì phải ngay lập tức vứt bỏ, “không tranh luận” dài dòng. Ở điểm này có lẽ ông khá giống với Lý Quang Diệu của Singapore.
3. Không phải là một người ưa lý luận, giáo điều, nhưng Đặng Tiểu Bình chưa bao giờ xem nhẹ vấn đề tư tưởng. Trong bản nhận xét của tổ chức về Đặng Tiểu Bình khi ông được gửi sang Liên Xô học, cho rằng, ông có hai thế mạnh là khả năng “tuyên huấn và tổ chức”. Đây có vẻ là nhận xét xác đáng, bởi sau đó, ông đã phát huy đầy đủ cả hai thế mạnh này ở thời gian trong quân đội, với vị trí chính ủy. Một điểm được Đặng đặc biệt lưu ý và luôn đề cao trong quân ngũ đó là “tư tưởng phải thông suốt”. Trước khi bước vào mỗi trận đánh, ngoài tất cả mọi sự chuẩn bị thường quy khác, ông đều phải chuẩn bị làm sao để “tư tưởng phải thông suốt” từ trên xuống dưới. Điều này, cũng được ông áp dụng nghiêm ngặt cho công cuộc cải cách, mở cửa kinh tế ở Trung Quốc sau này.
4. Một điểm nữa không thể không nhắc đến ở Đặng Tiểu Bình đó là tầm nhìn “sáng suốt đến mức kinh ngạc” của ông về vai trò của “khoa học kỹ thuật và giáo dục”. Ông từng nói: “…khi ra nhận nhiệm vụ chúng ta có thể có hai thái độ, một là để làm quan, hai là để làm một chút gì đó”. Đến tháng 7/1977, sau khi được chính thức phục hồi lần ba, ở tuổi 73, Đặng Tiểu Bình đã quyết định “phải làm chút gì đó”, đó chính là “nắm khoa học và giáo dục”. Ngay sau khi được phục hồi lần ba, ông đích thân chủ trì quản lý công tác khoa học kỹ thuật của Trung Quốc. Lợi dụng tất cả các phương thức cũng như các học giả, chuyên gia trong và ngoài nước về mọi lĩnh vực để bàn bạc quy hoạch phát triển khoa học kỹ thuật cao của Trung Quốc.
Nửa tháng sau, ngày 4/8/1977 Đặng Tiểu Bình đã tham dự cuộc tọa đàm về công tác khoa học kỹ thuật và giáo dục do Trung ương tổ chức. Tham gia tọa đàm có 33 chuyên gia, giáo sư nổi tiếng. Trong ngày đầu tiên của cuộc tọa đàm, ông chỉ đọc một bài khai mạc ngắn gọn, sau đó ông chỉ lắng nghe. Hàng ngày, 8 giờ sáng bắt đầu buổi họp, buổi trưa nghỉ rất ít rồi tiếp tục cho đến chiều tối. Rất ít lãnh đạo cấp cao có thể kiên trì ngồi nghe hàng giờ liền như vậy, đặc biệt ở thời điểm đó tại Trung Quốc, các chuyên gia, giáo sư vẫn bị xem là “đối tượng của chuyên chính của cải tạo”.
Tháng 3/1986, một số nhà khoa học già nổi tiếng như Dương Đại Hoành, Vương Kiềm Xương, Dương Gia Tê, Trần Phương Doãn… đã đưa ra một “Kiến nghị về việc theo đuổi sự phát triển kỹ thuật cao của thế giới”. Đặng Tiểu Bình lập tức chỉ thị: “Kiến nghị này vô cùng quan trọng, trong việc này cần làm nhanh và quyết đoán, không thể kéo dài”. Sau chỉ thị của ông, Quốc vụ viện Trung Quốc đã xây dựng: “Kế hoạch phát triển nghiên cứu kỹ thuật cao của Trung Quốc” (gọi là “Kế hoạch 863” – nổi tiếng).
Thực tế, ông đã theo đuổi mối quan tâm thúc đẩy phát triển khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc đến tận những năm cuối đời. Năm 1992, khi đi thăm miền Nam, ông nói: “Tôi nói khoa học kỹ thuật là sức sản xuất số một. Gần hai chục năm nay, khoa học kỹ thuật thế giới phát triển nhanh biết bao? Một đột phá trong lĩnh vực kỹ thuật cao sẽ kéo theo sự phát triển của một loạt ngành nghề khác. Mấy năm gần đây, liệu xa rời khoa học kỹ thuật có thể làm nước ta tăng trưởng được nhanh như vậy không? Phải đề xướng khoa học, dựa vào khoa học mới có hy vọng được”.
Đặng Tiểu Bình rất ít khi nói mình thấy vui về vấn đề gì, thế nhưng, cũng trong chuyến đi thăm miền Nam năm 1992 ông đã bốn lần liên tục dùng từ “vui mừng” khi nói về khoa học kỹ thuật: “Làm khoa học kỹ thuật, càng cao càng tốt, càng mới càng tốt, càng cao càng mới, chúng tôi càng vui mừng. Không chỉ chúng tôi vui mừng mà nhân dân cũng vui mừng, nhà nước cũng vui mừng.”
(Mọi thông tin, trích dẫn trong bài, nếu không ghi chú gì thêm thì đều được lấy từ cuốn: “Đặng Tiểu Bình – Một trí tuệ siêu việt” của Lưu Cường Luân và Uông Đại Lý, NXB Lao Động, 2006.)
NĐK
Công nghệ là trước hết, công nghệ đem lại tất cả kể cả vật chất lẫn con người,để làm được ,nhất thiết phải làm giáo dục đúng cách. Tiếc thay nền giáo dục Vn hoàn toàn sai cách bởi những kinh nghiệm về học tập của cha ông không đủ để giúp người ta tiếp thu hết những sâu thẳm trong khoa học kĩ thuật. Trung Quốc trình độ của họ rất cao, nhưng sinh viên vẫn ra nước ngoài học tập ở những lĩnh vực khó nhất, khó đến mức sinh viên Vn không dám bén mảng đến. Người Vn hầu như chỉ chọn những lĩnh vực đơn giản, không phải do lười biếng, mà do cách tư duy,phương pháp học tập…. không đủ để giúp người ta trong những lĩnh vực khó. Thời gian trôi nhanh, thay đổi hoặc cải cách phải chuẩn mực, nếu sai càng nhanh tụt hậu..
Hề… hề…, cái thứ Long Đỗ (Tô Lịch) sinh ra ấn nhà Trần giả và sông Tô Lịch hiện trở thành CỐNG RÃNH. Không còn là nơi LẮNG HỒN NÚI SÔNG nữa mà đã trở thành là nơi TỤ BÙN BẨN CỦA NÚI SÔNG, thì, Nguyễn Khắc Mai tính sao!!!?
Đọc xong tâm sự đầu năm của cụ Mai, bản thân tôi càng thấy mình nhỏ bé trước những suy tư của cụ. Chúc cụ mạnh khỏe.
So với những gì cha ông chúng ta dạy thì những gì bầy tôi của ông Tô Lâm đâng thực hành thì phần nhiều là tàn ác, hống hách và phi nhân đối với nhân dân. Họ coi dân không hơn cỏ rác. Không cần nhìn đâu xa, hay xem bọn Công an tại các xã gần quê ông tại HY thì biết chúng hống hach, lộng hành thế nào.
Nhiều người vui khi thấy ông Lâm không còn vùi đầu vào cõi u mê của phường tuyên giáo Mác Lê vừa Ngu dốt vừa độc ác, Tham lam của ông Trọng. Nhưng mong ông hãy chỉ bảo bọn tôi tớ bớt ác với dân đi thì tốt hơn cho ông nhiều.
Chúc ông thành công.
“Tôi đoán rằng … “!!!
Nói về Nho hay nhe, thì Nguyễn Khắc Mai không thể bằng Băng Thanh. Nói về tin rằng có cõi u minh thì nhà lý luận Maxit cũng không như Băng Thanh. Nói về đóng góp cho học thuật nước nhà thì Nguyễn Khắc Mai có gì để so với Băng Thanh. Nhưng nói loanh quanh, tên tuổi nổi lềnh phềnh trên cõi mạng, thì quả là Nguyễn Khắc Mai chiếm ưu thế tuyệt đối. Câu “sấm” do Nguyễn Khắc Mai bịa ra:
“Bỉnh chúc vô minh, quang tự diệt,
Trọng ngân bạc phúc, sản tất vong”.
sẽ là dấu ấn nổi bật trong “di sản” của Nguyễn Khắc Mai.
Việc nhà rất dở, cũng đành phải niềm nở.
Dân tộc nào vươn mình những năm 1945, 1975 và 1986 ?
Đọc đến đó thì đ*o muốn đọc nữa vì thấy nó dở hơi quá.
Đúng như vậy, vẫn còn SỢ nên phải nịnh bợ CS vài câu.
NKM cũng phải nhắc đến Hồ và Lenin để chống lưng cho bài viết. Trí thức thứ thiệt thì lưng phải thẳng không khòm, lưỡi phải nói thẳng không quanh co lấp liếm.