Trần Lê
5-1-2025
1. Kiếp nạn của sư Minh Tuệ và thế lực kiểm soát
Ngày xưa, Trần Huyền Trang phải trải qua 81 kiếp nạn, nhưng ngày nay, dường như sư Minh Tuệ chỉ gặp một kiếp nạn duy nhất từ một thế lực bí ẩn và kiếp nạn này sẽ kéo dài mãi cho đến khi sư đắc đạo.
Cuộc hành trình của sư Minh Tuệ với nhiều sự kiện và chi tiết khác lạ đã làm dấy lên câu hỏi: Ai là thế lực đứng sau việc cài đặt nhân vật Đoàn Văn Báu để kiểm soát sư Minh Tuệ? Liệu họ đang muốn bóp nghẹt quyền tự do tôn giáo và che mờ ánh sáng Phật pháp, hay cố ý kích động, đánh lừa người dân vào những sai lầm?
Việc ông Đoàn Văn Báu vẫn hạn chế đoàn hành hương của sư Minh Tuệ với con số 10 người trong khi Thái Lan là một quốc gia Phật giáo, cho thấy sự thiếu thuyết phục và không có cơ sở hợp lý. Công chúng mong chờ được thấy hình ảnh chân thực của tăng đoàn, nhưng thay vào đó họ chỉ nhận lại sự thất vọng khi tất cả thông tin và hình ảnh đều được kiểm soát chặt chẽ bởi Đoàn Văn Báu. Các YouTuber không thể tiếp cận đoàn hành hương, chỉ có thể quay phim từ xa và tuyệt vọng hét lên: “Con chào thầy!”.

2. Đoàn Văn Báu và vai trò kiểm soát chuyến hành hương
Đoàn Văn Báu là một cựu sĩ quan công an cấp tá, được cho là do nhà nước phân công làm trưởng đoàn, tự quyết định số lượng thành viên và kiểm soát mọi thông tin liên quan đến hành trình của sư Minh Tuệ. Báu tự nhận là người phát ngôn của sư Minh Tuệ dù không có sự đồng thuận từ chính nhà sư. Cách Báu phát ngôn giống như lời lẽ của quan chức nhà nước, khiến công chúng nghi ngờ về một kịch bản có sẵn từ chính quyền, nhằm tống khứ sư Minh Tuệ ra khỏi Việt Nam và giảm bớt sự ảnh hưởng của sư đối với tín đồ Phật giáo.
Khi đến Thái Lan, Báu đưa ra các tiêu chuẩn chọn lựa thành viên tăng đoàn, nhưng cuối cùng lại chốt danh sách chỉ có 10 người mà không đưa ra lý do rõ ràng. Báu còn kêu gọi công chúng cung cấp thông tin về các nhà sư khác để loại bỏ những người bị cho là “phạm giới”, một hành động bị cho là vi phạm Luật Tạng. Những hành động của Báu gây ra nhiều tranh cãi và làm dấy lên câu hỏi về động cơ thực sự của ông ta trong chuyến hành hương này.
3. Sự đàn áp và toan tính của chính quyền Việt Nam
Sau đêm 3-6-2024 bị đàn áp, nhiều nhà sư vẫn kiên trì giữ giới và tiếp tục bộ hành hướng về sư Minh Tuệ, dù bị truy đuổi và quản chế. Tuy nhiên, những nhà sư này lại bị loại khỏi danh sách tăng đoàn bởi những lý do không rõ ràng. Báu đưa ra các tiêu chuẩn khắt khe như không được mang dép, phải có sức đi bộ hành dài ngài, và phải tinh tấn giữ giới. Nhưng các tiêu chuẩn này dường như chỉ là cái cớ để giảm số lượng tăng đoàn.
Việc loại bỏ hai sư Tâm Dũng và Như Ngộ, những người được công chúng yêu mến, gây nhiều tranh cãi. Báu lấy lý do hai sư này đã xuất gia tại Ấn Độ và cho rằng họ không đủ tư cách tham gia tăng đoàn. Thực tế, việc xuất gia là chuyện bình thường trong Phật giáo, nhưng hành động của Báu khiến nhiều người nghi ngờ về động cơ chính trị phía sau.
4. Đằng sau lớp màn kiểm soát: Ý đồ triệt hạ sự ảnh hưởng của sư Minh Tuệ
Thế nhưng, cuối cùng con số chín “sư nhỏ” được bổ sung chỉ là cái bánh vẽ. Ngày 2-1-2024, Báu công bố chốt lại, chỉ bổ sung ba sư mà không cho biết lý do. Báu triết lý về tính thiên mệnh hay duyên nghiệp gì đó của con số 10 thành viên mà anh ta đã chốt hạ trước đó (1).
Trong số sáu sư bị rớt lại, có sư Minh Dược, người đã long trọng đảnh lễ cha mẹ trước khi đi. Theo thông tin từ clip của Nguyễn Thị GL thì công an cửa khẩu giải thích, công an địa phương nơi cư trú có công văn đề nghị không cho sư Minh Dược xuất cảnh. Ngày 3-1, sư Minh Dược đã đến công an xã nơi cư trú thì được trả lời là địa phương không biết gì về việc này (2).
Sự kiện chênh lệch từ chín thành ba này là một minh chứng cho thấy, với việc áp giải sư Minh Tuệ, Thượng tá công an Đoàn Văn Báu chưa phải là người quyết định cuối cùng. Báu không phải là tình nguyện viên, cùng không phải là thiên thần, hộ pháp gì cho sư Minh Tuệ, mà đang thực hiện nhiệm vụ do tổ chức phân công.
Để không kết luận oan, cần xem động cơ nào Báu tình nguyện tham gia cuộc hành trình gian khổ? Trong một clip, Báu tự khai rằng, anh ta đã xin ngừng sinh hoạt Đảng một năm và dừng công việc kinh doanh để tham gia bộ hành.
Sư Minh Tuệ và các sư bị bắt, bị phân tán, quản thúc tại gia, báo chí nhà nước bị cấm đăng tin bài; sách viết về sư Minh Tuệ của nhà xuất bản Đà Nẵng in xong bị cấm xuất bản phát hành (sau khoảng thời gian 14 ngày hợp lệ theo quy định) là do có sự phối hợp ý kiến giữa Cục xất bản, Ban Tôn giáo Chính phủ … Giáo hội Phật giáo quốc doanh không công nhận sư Minh Tuệ là tu sĩ. Ban Tôn giáo còn chỉ đạo các địa phương tuyên truyền cho dân chúng hiểu không đúng về sư Minh Tuệ. Một số “ma tăng” đã dùng những lời lẽ mất dạy trịch thượng để bêu riếu một nhà sư chân đất hiền lành chưa hề vi phạm cả pháp luật đời thường lẫn các quyền về tự do tín ngưỡng.
Vậy một câu hỏi cần đặt ra là: Ai, chi bộ đảng nào dám cho phép đảng viên Báu ngừng sinh hoạt một năm để làm tình nguyện viên hộ vệ cho sư Minh Tuệ đi ra nước ngoài, trong khi ông chỉ cần nhà nước đáp ứng đơn thuần về thủ tục xuất nhập cảnh?
Hỏi như vậy tức đã có sẵn câu trả lời rồi, bởi lẽ còn “ai trồng khoai đất này”?
Như chúng ta đều biết, đường lối chính trị của nhà cầm quyền CSVN đối với Phật giáo lâu nay được tóm gọn trong khẩu hiệu “Tốt đạo, đẹp đời” và “Phật giáo – Tổ quốc – Chủ nghĩa xã hội”, từ đó thi hành chính sách quốc doanh hóa các tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng. Đây cũng là lý do căn bản giải thích sự xuất hiện hàng loạt một số nhà chùa quốc doanh nổi tiếng được các ông lớn bà lớn xúm vô ủng hộ, làm nảy sinh một giới “hồng tăng lữ” với biết bao hiện tượng mê tín dị đoan, lừa mị tín chúng đến mức đồi bại như chưa từng có trong lịch sử nước Việt. Điều này cũng giải thích, tại sao một người tu hành chân chính hiếm có như nhà sư Minh Tuệ nếu (vô tình) gây tiếng vang và ảnh hưởng quá lớn trong dân thì sẽ trở thành một loại “kính chiếu yêu”, trước sau cũng sẽ bị triệt.
Việc biến sư Minh Tuệ trở thành du tăng nước ngoài của nhà cầm quyền cũng có vài mặt hợp tình lý, kịch bản dàn dựng là tương đối khéo, vừa thỏa mãn cả chí nguyện tu hành của thầy lẫn ý đồ của nhà cầm quyền cùng Giáo hội Phật giáo quốc doanh, nhưng diễn viên diễn vụng kiểu đồng chí Báu thì bất kỳ ai trên toàn thế giới nếu có chút lương tri và kinh nghiệm về CSVN cũng đều dễ dàng nhận ra sự thật…
Người ta đã không biết coi sự kiện tu hạnh Đầu đà chân chính của sư Minh Tuệ là một hiện tượng độc đáo chưa từng có trong lịch sử từ khi xuất hiện đạo Phật đến giờ, có tác dụng tốt giáo dục đạo đức quần chúng, và thay vì lấy làm danh dự tự hào, tìm mọi cách khích lệ, lại muốn tống khứ thầy đi cho rảnh. Thật đáng tiếc!
_______
Chú thích:
1- https://www.youtube.com/shorts/dV3QZNqWgu4
2- https://www.youtube.com/watch?v=k_RUgtiUNcA



1. Đặng Tiểu Bình thường được biết đến như một “kiến trúc sư chính của quá trình hiện đại hóa và phát triển kinh tế Trung Quốc”, nhưng ít người biết, những châm ngôn hành động nổi tiếng nhất như thuyết “mèo đen, mèo trắng” hay “mò đá qua sông” lại không hoàn toàn là “phát kiến” của ông. Nó được ông học hỏi từ Lưu Bá Thừa, một người cộng sự chiến trường thân thiết suốt 13 năm của Đặng Tiểu Bình.
Thuyết “mèo đen, mèo trắng” xuất phát từ câu “mèo vàng, mèo đen, chỉ cần bắt được chuột đều là mèo tốt” của Lưu Bá Thừa trong thời gian ông cùng sát cánh với Đặng Tiểu Bình những năm 1930-40 trong cuộc vạn lý trường chinh. “Mò đá qua sông” cũng là câu mà Lưu Bá Thừa đã nói. Thời kỳ lập nước Trung Quốc mới, tướng Lưu Ái Bình nhận lệnh xây dựng trường quân sự, trước khi đi đã đến thỉnh giáo Lưu Bá Thừa. Lưu Bá Thừa nói: “Tôi cho đồng chí sáu chữ và cần phải ghi nhớ. “Hãy mò đá để qua sông””. Đặng Tiểu Bình đã áp dụng chính châm ngôn này trong thời kỳ cải cách mở cửa, khi “mở một con đường máu” là các đặc khu kinh tế.
2. Nhưng chuyện các “ý tưởng lớn” này có phải là phát kiến của riêng ông hay không, đối với Đặng Tiểu Bình, dường như không quan trọng. Ông chưa bao giờ muốn làm nổi bật mình trước tập thể. Chưa từng chính thức giữ các chức vụ nguyên thủ của Trung Quốc, ông luôn “thực sự cầu thị”, không cần hư danh, luôn biết cách lùi lại phía sau, miễn làm sao “được việc là được”. Khi chết, ông được hỏa táng và rải tro cốt xuống biển. Ông có thể xem là một người Cộng sản thực dụng điển hình. Tiếp nhận chủ nghĩa Marx từ những năm 1920 ở tuổi 16-17 khi du học nghề ở Pháp, ông cũng từng được gửi đi học ở Liên Xô, nhưng với ông chủ nghĩa Marx-Lenin chưa bao giờ là một tín điều bất biến. Ông nói: “Học Marx-Lenin phải học cái tinh túy, phải biết áp dụng”, là sự liên hệ lý luận với thực tiễn, chính “thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý”. Với châm ngôn này, cùng với thuyết “mèo đen, mèo trắng”, chỉ những gì “có hiệu quả thực tiễn mới là tốt”, luận thuyết nọ, ý tưởng kia dù nghe có vẻ hay ho đến đâu, mà không áp dụng được trong thực tiễn thì phải ngay lập tức vứt bỏ, “không tranh luận” dài dòng. Ở điểm này có lẽ ông khá giống với Lý Quang Diệu của Singapore.
3. Không phải là một người ưa lý luận, giáo điều, nhưng Đặng Tiểu Bình chưa bao giờ xem nhẹ vấn đề tư tưởng. Trong bản nhận xét của tổ chức về Đặng Tiểu Bình khi ông được gửi sang Liên Xô học, cho rằng, ông có hai thế mạnh là khả năng “tuyên huấn và tổ chức”. Đây có vẻ là nhận xét xác đáng, bởi sau đó, ông đã phát huy đầy đủ cả hai thế mạnh này ở thời gian trong quân đội, với vị trí chính ủy. Một điểm được Đặng đặc biệt lưu ý và luôn đề cao trong quân ngũ đó là “tư tưởng phải thông suốt”. Trước khi bước vào mỗi trận đánh, ngoài tất cả mọi sự chuẩn bị thường quy khác, ông đều phải chuẩn bị làm sao để “tư tưởng phải thông suốt” từ trên xuống dưới. Điều này, cũng được ông áp dụng nghiêm ngặt cho công cuộc cải cách, mở cửa kinh tế ở Trung Quốc sau này.
4. Một điểm nữa không thể không nhắc đến ở Đặng Tiểu Bình đó là tầm nhìn “sáng suốt đến mức kinh ngạc” của ông về vai trò của “khoa học kỹ thuật và giáo dục”. Ông từng nói: “…khi ra nhận nhiệm vụ chúng ta có thể có hai thái độ, một là để làm quan, hai là để làm một chút gì đó”. Đến tháng 7/1977, sau khi được chính thức phục hồi lần ba, ở tuổi 73, Đặng Tiểu Bình đã quyết định “phải làm chút gì đó”, đó chính là “nắm khoa học và giáo dục”. Ngay sau khi được phục hồi lần ba, ông đích thân chủ trì quản lý công tác khoa học kỹ thuật của Trung Quốc. Lợi dụng tất cả các phương thức cũng như các học giả, chuyên gia trong và ngoài nước về mọi lĩnh vực để bàn bạc quy hoạch phát triển khoa học kỹ thuật cao của Trung Quốc.
Nửa tháng sau, ngày 4/8/1977 Đặng Tiểu Bình đã tham dự cuộc tọa đàm về công tác khoa học kỹ thuật và giáo dục do Trung ương tổ chức. Tham gia tọa đàm có 33 chuyên gia, giáo sư nổi tiếng. Trong ngày đầu tiên của cuộc tọa đàm, ông chỉ đọc một bài khai mạc ngắn gọn, sau đó ông chỉ lắng nghe. Hàng ngày, 8 giờ sáng bắt đầu buổi họp, buổi trưa nghỉ rất ít rồi tiếp tục cho đến chiều tối. Rất ít lãnh đạo cấp cao có thể kiên trì ngồi nghe hàng giờ liền như vậy, đặc biệt ở thời điểm đó tại Trung Quốc, các chuyên gia, giáo sư vẫn bị xem là “đối tượng của chuyên chính của cải tạo”.
Tháng 3/1986, một số nhà khoa học già nổi tiếng như Dương Đại Hoành, Vương Kiềm Xương, Dương Gia Tê, Trần Phương Doãn… đã đưa ra một “Kiến nghị về việc theo đuổi sự phát triển kỹ thuật cao của thế giới”. Đặng Tiểu Bình lập tức chỉ thị: “Kiến nghị này vô cùng quan trọng, trong việc này cần làm nhanh và quyết đoán, không thể kéo dài”. Sau chỉ thị của ông, Quốc vụ viện Trung Quốc đã xây dựng: “Kế hoạch phát triển nghiên cứu kỹ thuật cao của Trung Quốc” (gọi là “Kế hoạch 863” – nổi tiếng).
Thực tế, ông đã theo đuổi mối quan tâm thúc đẩy phát triển khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc đến tận những năm cuối đời. Năm 1992, khi đi thăm miền Nam, ông nói: “Tôi nói khoa học kỹ thuật là sức sản xuất số một. Gần hai chục năm nay, khoa học kỹ thuật thế giới phát triển nhanh biết bao? Một đột phá trong lĩnh vực kỹ thuật cao sẽ kéo theo sự phát triển của một loạt ngành nghề khác. Mấy năm gần đây, liệu xa rời khoa học kỹ thuật có thể làm nước ta tăng trưởng được nhanh như vậy không? Phải đề xướng khoa học, dựa vào khoa học mới có hy vọng được”.
Đặng Tiểu Bình rất ít khi nói mình thấy vui về vấn đề gì, thế nhưng, cũng trong chuyến đi thăm miền Nam năm 1992 ông đã bốn lần liên tục dùng từ “vui mừng” khi nói về khoa học kỹ thuật: “Làm khoa học kỹ thuật, càng cao càng tốt, càng mới càng tốt, càng cao càng mới, chúng tôi càng vui mừng. Không chỉ chúng tôi vui mừng mà nhân dân cũng vui mừng, nhà nước cũng vui mừng.”
(Mọi thông tin, trích dẫn trong bài, nếu không ghi chú gì thêm thì đều được lấy từ cuốn: “Đặng Tiểu Bình – Một trí tuệ siêu việt” của Lưu Cường Luân và Uông Đại Lý, NXB Lao Động, 2006.)
NĐK
AI chắc cũng còn nhớ : sau ngày f..ỏng gi..ái 30/04/1975 giải f..óng MẶT BẰNG Sài Gòn sinh hoạt tại “hội trí thức iêu nước” đường Nguyễn Thông có bác Huỳnh Kim BÁU (giữ chức CHỦ TỊt
“hội trí thức iêu nước” … đã theo về hầu bác HÙ vài năm rồi … về sau cũng theo nhóm Lê Hiếu Đằng (cựu học sinh Phan Châu Trinh Đà Nẵng …) và Lê Viết Mỹ (sau này lấy 1 mụ xẩm thật sinh tại Chợ Lớn… chắc bây giờ còn sống bác ấy phải làm lớn và lấy BÍ DANH khác ?? nhưng chắc không phải như LÊ (Lã) thanh hải HEO NỌC bí thư thành quỷ SƯ HUYNH của tiểu muội TRƯƠNG MUỘI vạn thịnh phát với cú lừa TỀ-VỆ Sử : 43.000.000.000 đô n..a)
THEO DÕI tập thể TRÍ THỨC SÀI GÒN ….
Bác Huỳnh Kim BÁU là ANH EM SINH ĐÔI HÔM NAY
chính n..à cựu thượng tá Đoàn Văn BÁU đang săn sóc kỹ lưỡng Nhà Sư MINH TUỆ …
cẩn thận không khéo như Đức HUỲNH PHÚ SỔ Đạo Cao Đài …. cho SỚM VỀ Niết Bàn và Thiên Đường như Ngài HUỲNH PHÚ SỔ !!!
Gần đến ĐẤT PHẬT Ấn Độ lại sa chân rơi xuống vực thẳm HY MÃ LẠP SƠN như các phụ tá lớn VẠN THỊNH PHÁT của mụ xẩm Muội muội có bàn tay lông lá Tình báo Hoa Nam tại Chợ Lớn Sài Gòn …toàn NGÃ LẦU và vỡ sọ dừa !!!
Làm sao xương sọ của SƯ Minh Tuệ dù có CỨNG như CÁI VỎ NỒI CƠM ĐIỆN trống không TRỐNG RỖNG chịu sao nổi THẢM CẢNH rơi tự do XUỐNG vực thẳm HY MÃ LẠP SƠN !!
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT !!! Có chi mô mô chi HỐT HẾT HỐT HẾT hết hốt (xuống vực thẳm HY MÃ LẠP SƠN thì chỉ may có bác vịt kìu iêu nước ao ở MỸ cao bồi cao bẹt quần bò cỡi ngựa MAY RA hoàng duy hùng MỚI LẤY thể phách của SƯ Minh Tuệ
https://www.youtube.com/watch?v=0Kvx4h41LTk&t=180s
3313 VIDEOs !!!! 05/01/2025:
Giải mã tại sao BBC tiếng Việt phỏng vấn thoải mái sư Minh Tuệ mà RFA lại không.
HÀNG CHỤC TRIỆU LƯƠNG DÂN VIỆT
Video Đoàn Văn Báu nói với Minh Tuệ về một youtuber, có vẻ như là nói về Trương Quốc Huy, có đoạn.
“….
-Vâng! Cái tâm nguyện ẩn cư Hy Mã Lạp Sơn, thì con cũng ẩn cư ở đó, nhưng mà quan trọng là thời gian bao lâu.
-Dạ!
-Nhưng mà cái người đó yêu mình, chẳng hạn như yêu mến con với các sư thì cứ để họ yêu mến.
-Dạ!
-Hay là họ ghét bỏ thì cứ để họ ghét bỏ.
-Dạ!
-Hay là họ chống cộng thì cứ để cho họ chống cộng nhưng mà mình không chống.
-Mình không liên quan, dạ!
-Mình không liên quan, thế nhưng mà cái đấy, ờ hữu duyên, chẳng hạn như họ giúp đỡ cho mình thì mình cũng tốt đẹp.
-Dạ!
-Họ không giúp đỡ cho mình thì mình cũng tốt đẹp, mình cũng không, nói chung là bình đẳng.
-Dạ!
-Ghét bỏ mình, mình cũng không liên hệ gì, liên can gì. Nói chung là tât cả mọi cái người đó, như thế nào cũng như cha mẹ người thân của mình.
-Dạ!
– Như ở trên đường thì giờ, bây giờ thì con với các sư phụ ở đây nhờ anh Báu tìm những cái chỗ.
-Dạ!
-Nghỉ ngơi, hay trên đường làm cái giấy tờ thì mình biết như thế. Còn anh Báu mà Vứt ở đâu thì con cũng vui vẻ.
-Dạ!
-Không có oán thán oán thiếc gì cả.
-Dạ! ….”
Nguyện tu hành theo phép nhà Bụt thời “mũ ni che tai, việc ai chẳng biết, mặc ông có gà, mặc bà có thóc”. Thần thông diệu dụng như Huyền Quang cũng chọn đường “tiểu ẩn” chứ chưa thể “đại ẩn”, vì bụi trần phảng phất đâu đây.
Thắp hương thề nguyền với Trời Đất là nói vậy, chưa thấy cái video ghi lại việc này. Câu nói “Còn anh Báu mà Vứt ở đâu thì con cũng vui vẻ.” rất đáng để suy ngẫm.
Lê Khả Giáp cung Giải Ách không được tốt, cần suy nghĩ, cái gì bỏ được thì bỏ, họa đôi khi không phải vô cớ sinh ra.
Lời Minh Tuệ nghe loáng thoáng như lời Huyền Quang:
“Vạn duyên bất nhiễu thành già tục,
Bán điểm vô ưu nhãn phóng khoan.
Tham thấu thị phi bình đẳng tướng,
Ma cung Phật quốc hiếu sinh quan.”
Tận nhân lực mới tri Thiên mệnh.
Chờ xem diễn biến.