Nghiện Đảng (Phần 2)

  •  
  •  
  •  
  •  

Tạ Duy Anh

21-5-2021

Tiếp theo Phần 1

Sau những chuyến lên tỉnh, lên trung ương, bố tôi lại thấp thỏm chờ đợi. Bất cứ ai dừng xe trước ngõ nhà tôi đều cho ông niềm hy vọng. Ông hy vọng lời kêu oan của ông cuối cùng cũng đã có người nghe thấy.

Thực ra thì hầu hết những người bố gặp đều chán bố ra mặt, nhưng bố không quan tâm.

Gõ cửa các nơi mãi đều không hiệu quả, trong khi đó thì “giậu đổ, bìm leo” sự trả thù khốc liệt bắt đầu trút xuống gia đình chúng tôi, bố quyết định tung ra đòn “tổng tấn công và nổi dậy” bằng cách kéo chúng tôi vào cuộc ăn vạ bi hài nhất lịch sử!

Chuẩn bị một bó đơn và một cuộn tiền, bố tôi một mình quyết định ngày giờ và thành phần sẽ lên đường chiến đấu! Không ai được bàn lùi. Không ai được tỏ ra nản chí. “Nản chí, mệt mỏi thì sang Mỹ mà ở” – Bố tôi thường bảo chúng tôi thế và tin đó là lời của Phi-den nói với vợ con ông ta!

Đúng ba giờ sáng một ngày đầu hè, chúng tôi-gồm bà nội, bố, tôi và hai đứa em bên dưới-lên đường “tiến về Hà Nội”, nhằm thẳng vào trung tâm đầu não là quảng trường Ba Đình. Từ nhà ra bến xe khách Chúc Sơn gần 10km, chúng tôi phải cuốc bộ. Bố tôi đi bộ rất nhanh nên chúng tôi đều phải chạy gằn theo. Hai đứa em tôi tái hết cả mặt vì mệt. Chân chúng tôi đều phồng rộp, cực kỳ đau đớn nhưng không được bất kỳ có lời kêu ca nào. Bố tôi coi sự yếu đuối như một loại kẻ thù nguy hiểm. Ngay cả bà nội tôi, ngoài bảy mươi tuổi, cũng phải cắn răng im lặng.

Đến Hà Nội, sau khi đánh chén no bụng toàn những thứ mà ngày thường có nằm mơ cũng không thấy, chúng tôi đi tầu điện lên mạn Hồ Tây. Tại đó có rất nhiều cơ quan của đảng, chính phủ, mà bố từng ra vào nhẵn cả đế dép. Ông chia đôi lực lượng. Bà nội, tôi và đứa em bên dưới làm thành một mũi, phía Mai Xuân Thưởng. Còn ông và đứa em út khoảng 10 tuổi thì “phụ trách” khu vực Hùng Vương.

Mỗi người chúng tôi cầm một tập đơn. Hễ thấy chiếc xe con bóng lộn nào, đa phần mầu đen, từ bất cứ chiếc cổng nào chui ra mà trong tầm kiểm soát của chúng tôi, lập tức chúng tôi lao ra đứng chặn ở đầu xe. Phần lớn cửa kính xe đều hạ xuống, tay ai đó thò ra nhận đơn, rồi chiếc xe lại lao đi. Và chỉ thế thôi. Chả ai quan tâm, ngoài những người đi đường hiếu kì. Trong giờ hành chính thì không có vấn đề gì. Thậm chí người phụ trách khu vực là một thiếu tá, còn bày cho chúng tôi cách nhận biết chiếc xe nào chở người quan trọng, chiếc xe nào đừng mất công chặn chỉ tổ mất thì giờ. Lúc thảnh thơi ngồi nghe bố kể sự tình, ông thiếu tá còn khích lệ bố phải chiến đấu tới cùng.

Nhưng hễ hết giờ làm việc, lập tức lực lượng bảo vệ, do chính ông thiếu tá chỉ huy, lùa chúng tôi lên xe, chở thẳng về đồn công an Bờ Hồ. Chúng tôi không cần phải trình báo thì những người trực đồn công an cũng biết chúng tôi là ai. Thậm chí tôi có cảm giác họ chẳng cần biết chúng tôi là ai. Chúng tôi có thể nằm trên những cái ghế dài kê trong mấy gian nhà, hoặc tìm chỗ nào đó trên vỉa hè, miễn là đừng gây rắc rối. Nhưng hình như trong trường hợp của chúng tôi thì có sự thông báo trước nào đó. Vì thế không một ai gây khó dễ hoặc doạ nạt gì.

Với bố, đánh động được khu đầu não thế cũng là một thắng lợi bước đầu. Ông vui ra mặt và mặc dù rất tằn tiện, nhưng những lúc như vậy thì ông sẵn sàng hào phóng. “Chén đã, để lấy sức” – ông thường bảo chúng tôi. Ông cho chúng tôi ăn uống tươm tất rồi đi dạo loanh quanh khu vực đường Lê Thái Tổ bây giờ. Cách đồn công an không xa là nhà hàng Thuỷ Tạ, nơi buổi tối thường bán kem, thứ còn khá hiếm hồi đó nên muốn mua được phải xếp hàng.

Có hôm bố chen vào và may mắn mua được cho mỗi người một que kem trộn cốm vẫn còn “non”, tức là chưa kịp rắn hẳn. Bờ Hồ luôn có gió nên kem chảy rất mau. Tôi cầm hai que kem chạy đi tìm bà nội, nhưng gào khản cổ vẫn không thấy bà đâu. Hai chiếc kem cứ bé lại rất nhanh trong tay tôi khiến bố phải hét lên bảo tôi ăn nhanh đi.

Tôi nhét cả hai que kem đã chảy quá nửa vào miệng, má phồng lên, lập tức thấy như răng sắp rụng hết. Nhưng tôi kiên quyết không nhè ra vì tiếc của và chủ yếu vì sợ bố mắng. Tôi gần như mất hoàn toàn cảm giác là mình đang ăn kem, chỉ thấy buốt nhói đến tận óc. Suốt gần cả tháng trời sau đó tôi ăn uống rất khó khăn và cứ nghĩ đến kem là lại rùng mình kinh hãi. Sau này thỉnh thoảng tôi cũng vẫn ăn kem nhưng chỉ rón rén cắn tí một, vừa cắn vừa nghe ngóng và không bao giờ dám ăn hai hai que liền một lúc.

Quanh bờ hồ Hoàn Kiếm hồi đó vẫn còn có cả những ụ đất, dấu tích của hầm trú bom. Chiến tranh bắn phá đã chấm dứt nên mọi người ung dung đi dạo hóng gió khá nhộn nhịp. Từng cặp trai gái ngồi sát Bờ Hồ nói chuyện cho tới tận khuya, trước khi những người giữ trật tự lảng vảng sau lưng khiến họ đứng dậy đưa nhau về nhà.

Đêm hoang vắng rất nhanh. Những ngọn đèn điện vàng ệch là niềm an ủi cho chúng tôi. Tiếng tầu điện vào ga kéo còi leng keng là âm thanh khó quên nhất đối với tôi. Hình ảnh những người buôn bán về khuya giờ đây vẫn mồn một trong tôi. Họ vội vã, mệt mỏi nhưng mặt ai nấy đầy phấn khích. Sớm tinh mơ hôm sau họ đã lại chờ đến giờ tầu xuất bến chuyến đầu tiên để mang hàng lên mạn Bưởi hoặc xuống Mơ, vào Hà Đông. Mỗi khi chuyến tầu cuối vào bến, chỉ còn lại vài bóng người quét đường.

Và cách đó một đoạn là bố con tôi (bà nội nằm canh cho hai đứa em tôi đã ngủ say trong đồn công an, mặc cho muỗi tha hồ bu vào hút máu).

Trên tấm ni lông trải lên nền xi măng ngay dưới chân cột đèn, tôi nằm bò ra, hai khuỷu tay tì xuống để viết đơn thư cho bố. Chúng luôn là những lá thư bố viết cho người nào đó. Hôm nay là kính gửi anh Ba, ngày mai là khẩn cầu anh Tô, ngày mai nữa đến lượt những cái tên khác mà bố nhắc đến bằng vẻ kính trọng đặc biệt. Nhờ bố mà tôi biết anh Ba là bác Lê Duẩn, anh Tô là bác Phạm Văn Đồng, đại tướng Võ Nguyên Giáp là anh Văn…

Tôi hỏi bố tại sao không gọi tên quen thuộc của các bác ấy, thì bố giải thích bằng thứ giọng vô cùng bí ẩn và giầu cảm xúc: – Con không biết những người cách mạng khi đã gọi nhau bằng tên thân mật là họ bày tỏ niềm kính trọng nhau thiêng liêng như thế nào đâu. Tình đồng chí là thứ tình cảm cao quý nhất trên đời. Nó vượt xa tình yêu. Tình yêu chả đáng bén gót, vì dù sao vẫn là thứ tình cảm ích kỷ. Tình yêu quá lắm chỉ tạo ra sự sung sướng cho hai cá nhân. Không có tình yêu vẫn có thể đẻ một đống con. Nhưng không có tình đồng chí, thì chả có thứ gì cả. Tình đồng chí tạo ra thay đổi cho hàng tỉ, hàng tỉ tỉ nhân loại, tạo ra thế giới đại đồng, tạo ra thiên đường ngay dưới mặt đất.

Tôi nghe và tin như vậy, cảm thấy cũng bị lây niềm kính trọng của bố với các bác mà bố gọi bằng anh một cách tha thiết, cái lối xưng hô của những người cùng chí hướng, cùng mục tiêu hành động.

Tôi nhớ là một trong những lá thư bố gửi “Anh Tô” với dòng đầu tiên: “Anh Tô kính mến!”, do bố đọc bằng thứ giọng lên bổng xuống trầm vô cùng tha thiết. Giọng bố lúc thủ thỉ tin tưởng, lúc buồn đau, lại có lúc như giận hờn…

Cứ thế bố kể về đời bố, về những việc bố làm, những điều bố mơ… đều trên tinh thần cộng sản! Tôi chép xuyên đêm tới tận khi sáng bạch bố mới dừng lại ở câu kết thúc: “Kính gửi anh lời chào cộng sản!”

Tôi lật cho bố xem để biết lá đơn dài ngót chục trang giấy phê-đuyp. Bố tỏ ra hài lòng lắm. Khi bố bảo tôi đứng dậy thì toàn thân tôi cứng đơ. Tôi bèn bò bằng hai khuỷu tay một đoạn để khởi động. Những học sinh Hà Nội trên đường tới trường, khi ngang qua tôi, thấy lá đơn tôi viết bằng thứ chữ nghiêng sang phải thì đều dừng lại tỏ vẻ trầm trồ. Họ gọi nhau “Lại đây mà xem thằng bé này viết chữ vừa đẹp vừa kỳ lạ”.

Chả là hồi đó chẳng hiểu sao học sinh Hà Nội viết riêng một thứ chữ nghiêng sang trái. Những học sinh Hà Nội sơ tán về làng tôi luôn bị chúng tôi chế nhạo đến phát khóc vì kiểu viết đó. Ngược lại chúng tôi bị mắng là viết kiểu chữ nhà quê. Giờ đây mọi người đang xúm lại xem thứ chữ nhà quê và cứ nhìn soi mói vào mặt tôi. Tôi vẫn nằm sấp trên tấm ni lông, do hai tay chưa kịp hết tê dại, mặc cho mọi người bàn tán. Chỉ khi bố tôi gập lá đơn lại, đỡ cho tôi đứng dậy mọi người mới tản đi. Toàn thân tôi tiếp tục đau ê ẩm, mắt nổ hoa cà hoa cải.

Trong vòng một tuần theo bố đi kiện, tôi đã chép cho bố khoảng ba bốn lá thư, lá nào cũng ngót chục trang, thống thiết tình cảm cách mạng, tình đồng chí cùng mục tiêu chiến đấu nhưng đều vì duy nhất việc kêu oan vấn đề đảng. Tôi không bao giờ biết số phận của những lá thư ấy. Chúng được gửi đi là cũng mất tích luôn. Có thể chỉ rời khỏi tay bố, là nó nằm yên vị trong đáy một cái thùng rác hôi thối nào đó! Nhưng với bố, sau mỗi lá thư được viết ra, được nâng niu ve vuốt trước khi gửi đi, lại cho ông niềm hy vọng vô bờ bến và giúp ông trong chốc lát hạ hỏa bớt phần nào cơn “vật đảng”.

Bố tôi chỉ ra lệnh rút quân khi hình như có ai đó hứa với ông, nhưng chủ yếu là do cạn kiệt nguồn lực.

Sau đòn trời giáng cuối cùng của số phận xảy ra vào năm 1987 (cú huých để tôi hoàn thành tiểu thuyết Lão Khổ), đẩy bố tôi đối mặt với cả một bầy mafia từ tỉnh đến xã, cộng thêm đòn đánh dưới thắt lưng của báo Hà Sơn Bình, bố tôi rơi vào cảnh kiệt quệ cả tiền bạc, sức lực và niềm tin. Dù cuối cùng chúng tôi thắng nhưng ông vẫn quyết định chấp nhận lời khẩn cầu của chị gái tôi: rời bỏ quê hương, về sinh sống tại thị trấn Rế, huyện An Dương, Hải Phòng. Trong những thứ “của nả” ông đem theo, có tờ quyết định kỷ luật đảng đã chuyển mầu, với bốn cái gạch đầu dòng ghi tội mà ông mắc phải (theo thứ tự từ nặng đến nhẹ):

1- Lợi dụng chức quyền tự ý thịt một con lợn (thực chất là con lợn nái bị ốm), đổi lấy 5kg tem phiếu để dùng riêng.

2- Lợi dụng chức quyền mua rẻ hai mươi viên ngói Proximăng dùng vào việc cá nhân.

3- Có tư tưởng gia đình trị, gây mất đoàn kết nội bộ.

Riêng tội thứ tư, do tờ giấy bị rách, nên tôi không biết.

Một lần, trong bữa rượu chỉ có hai bố con, ông nằn nì gạ tôi cho ông đọc tiểu thuyết Lão Khổ. Khi thấy tôi ậm ừ, bố tôi bỗng ngồi thẫn thờ như người mất hồn rồi bảo tôi: – Mẹ nó chứ, tao mà không bị oan thì giờ này cũng sắp có huy hiệu 50 năm tuổi đảng.

Tôi cười váng, bảo lại ông: – Ước gì chả nói, lại đi ước cái thứ thua xa nắp chai ấy. Tặng bố huy hiệu “Ba mươi năm ra khỏi đảng”, danh giá gấp vạn!

Bố tôi ngồi lặng đi như vừa bị một cú xuyên thẳng vào tim. Tôi hiểu là cơn “vật đảng” của ông chưa tiệt hẳn. Nhưng, trong một khoảnh khắc mặt bố rất kì lạ và ông bỗng cười phá lên. Rồi bất ngờ ông dốc ngược chén rượu: – Thôi, đấm B. vào nữa…!

Chưa đầy nửa năm sau thì bố tôi qua đời.

Bình Luận từ Facebook

2 BÌNH LUẬN


  1. Chúng nghiện máu Nhân Dân
    ********************

    Chúng nghiện máu Nhân Dân
    Nghiện huyết lệ Dân oan
    Nghiện ‘lò tôn’ chắt trẻ
    Nghiện bưng bô Đại Hán
    Nghiện đất ruộng vườn Dân
    Nghiện gởi băng Thụy Sĩ
    Nghiện hưu qua Hoa Kỳ
    Nghiện tậu biệt phủ Mỹ
    Chúng nghiện máu Lương Dân …

    http://universite-digitale1.com/wp-content/uploads/2018/05/MeVietNam.jpg
    TRIỆU LƯƠNG DÂN VIỆT

BÌNH LUẬN

Xin bình luận ở đây
Xin nhập tên của bạn ở đây