Hai bức chân dung

  •  
  •  
  •  
  •  

Vũ Thư Hiên

17-7-2020

1

Chiến tranh kết thúc, thiếu tá Cường được chuyển ngành sang công an. Khi nhận lệnh ông băn khoăn lắm – nên xử sự thế nào đây? Về nguyên tắc, ông có quyền đề đạt nguyện vọng: Xin phục viên hoặc chuyển sang ngành nào khác thích hợp. Chuyện làm ông buồn là ông phải ra đi, nhưng vẫn có người được giữ lại. Người đi rõ ràng là người bị cấp trên đánh giá thấp.

Ông chiến đấu dũng cảm, không hề phạm kỷ luật, ông gương mẫu trong mọi việc, luôn được biểu dương, khen thưởng, trên biết cả, vậy thì người ta đánh giá thấp ông ở điểm nào? Nghĩ chán rồi ông phủi tay: đi thì đi, trước sau cũng một lần, có ai ở mãi trong quân ngũ?

Trong thời gian chờ đợi giải quyết chính sách, ông như bơi giữa hai làn nước: chẳng biết rồi ra mình sẽ sống như thế nào, nên sống như thế nào? Đã bao năm ông coi đơn vị bộ đội là nhà, đã quen quá rồi, đã thành nếp rồi, ở môi trường mới liệu có ổn không? Công an là thứ quân đội hạng hai, không phải cái ông muốn chọn.

Đồng đội an ủi ông: “Vứt cái mặt chữ nãi đi. Bộ đội có thời, công an muôn thuở. Làm phó tóm bây giờ là nhất đấy. Coi như cậu trúng quả đậm!”.

Không cần đến vài năm sau ông mới thấy họ nói đúng.

Ở ngành công an lên quân hàm tuy có chậm so với bên quân đội, nhưng lên cái khác thì lại nhanh lắm. Cái khác đây là cái quyền. Đi kèm với cái quyền là cái lợi. Khi trên áo ông được gắn quân hàm trung tá thì mấy người bạn ở lại bộ đội đã lên đại tá. Ấy thế nhưng về mặt khác, mặt đời sống, thì đám đại tá kia còn lẽo đẽo lâu mới theo kịp ông.

Nói tóm lại, ông hài lòng với vị trí mới – giám thị một trại giam. Ông không còn luyến tiếc quân đội. Ngành công an được mệnh danh là thanh kiếm và lá chắn của Đảng. Đảng đương nhiên phải ưu tiên ưu đãi cái vật bảo vệ sinh mạng mình. Không ưu tiên ưu đãi mới lạ.

Vào thời gian câu chuyện được nói tới, trung tá Cường đã làm chủ một ngôi nhà một lầu một trệt, bốn phòng, có cả ga-ra, được hóa giá đàng hoàng. Ngôi nhà đẹp, xinh xắn, có gọi là biệt thự cũng không sai, lại nằm trong một mảnh vườn xanh mướt cỏ Đại Hàn và rất nhiều cây cảnh. Tuy nhà không ở trung tâm Sài Gòn, không phải mặt tiền, nhưng cũng không hẳn ở ngoại thành. Người ta gọi nó là vùng ven đô. Nếu như nhà mặt tiền ở khu buôn bán được coi là đất vàng, thì nhà ông cũng phải được coi là đất bạc. Trại giam nằm cách thành phố hai chục cây, ông có thể đi về một tuần vài lần, có xe Jeep đưa đón. Vợ ông có một Honda nữ, đời 68, của hóa giá, tuy cũ nhưng còn ngon lành, chỗ làm lại gần nhà, mọi sự đều thuận tiện.

Sau khi đã an cư, hai ông bà liền quyết định đón hai thân ông từ vùng chiêm khê mùa thối vào thành phố.

Việc chuyển hộ khẩu bình thường đã khó, chuyển hộ khẩu từ nông thôn ra thành phố còn khó hơn rất nhiều. Đành rằng công tác hộ khẩu do công an nắm, nhưng không phải người trong ngành thì xin xỏ dễ hơn người ngoài. Nó đòi hỏi nhiều thứ giấy tờ không phải ngay một lúc có thể kiếm ra.

Trung tá Cường gặp may. Trại do ông đảm trách có 3 K, tức 3 phân trại, số tù cả ngàn. Ông là thượng đế trong cái trại ấy, quyền sinh quyền sát trong tay. Ông coi lũ tù dưới quyền ông cai quản như một đàn bò.

Không biết từ lúc nào ông hiểu ra rằng trong đàn bò ấy có nhiều con có thể vắt sữa. Sự khôn ngoan tự đến cùng với thời gian, nó phong phú thêm cũng cùng với thời gian. Nhiều tên tù có dây mơ rễ má lằng nhằng với đủ mọi nhân vật ở mọi cấp mọi ngành, không họ hàng thì cũng chỗ thân quen, thế là người nọ mách người kia, người nọ dẫn người kia, tìm đến ông, nhờ cậy ông giúp đỡ cho thân nhân có được nhận xét tốt trong những dịp xét tha, xét giảm án, nhân những lễ lớn, hoặc những đợt đặc xá. Ngay cả những việc lặt vặt như cho người tù nặng căn được làm việc công nhẹ trong trại họ cũng phải tìm đến ông.

Xét cho cùng, ông có mất gì khi ghi nguệch ngoạc vài dòng nhận xét cải tạo tốt cho một tên tù? Tha nó hay giảm án cho nó là quyền của cấp cục cấp bộ, không phải của ông. Người ta nghĩ, và nghĩ đúng, rằng những nhận xét của ông phải có tác động không nhiều thì ít vào việc xét tha giảm. Họ đủ thông minh để hiểu rằng đã chạy thì không được bỏ sót cửa nào. Ông hiển nhiên là một cửa, khi việc thành, ông cũng được hậu tạ.

Cuộc đời là nợ đồng lần, ông được người ta chạy đến thì ông cũng phải chạy đi để lo việc của mình. Ông đưa của kia bà chìa của nọ, việc chạy hộ khẩu cho hai cụ tuy có mất thời giờ thật, nhưng ông bà đã chạy là phải xong.

Trong mọi việc ông đều bàn bạc với bà. Với các đối tác, bên ngoài cũng như bên trên, gặp ai, đưa cái gì, nhận cái gì, không có bà không xong. Xem ra đàn bà làm công tác đốì ngoại mát tay hơn hẳn đàn ông. Bà đôn đáo, bà quán xuyến mọi việc, nhất là trong những trường hợp ông không thể chường mặt, cứ có bà là mọi sự êm xuôi. Mà bà đâu có được ai dạy bảo cách giao tiếp, cách đối nhân xử thế! Trong chiến tranh, bà chỉ là cô cấp dưỡng, hòa bình mới được đi học văn hóa bổ túc. Ấy thế mà qua có vài năm, nay đứng chân trưởng phòng tổ chức một công ty cung ứng vật liệu xây dựng bà làm việc ngon ơ, năm nào cũng lao động tiên tiến, chỉ còn thiếu nước được bình bầu chiến sĩ thi đua.

Bố mẹ mất sớm, bà lại vô sinh, không thể làm mẹ hiền thì bà phải được tiếng dâu thảo. Khi bố mẹ chồng vào ở với ông bà thì hai cụ được bà cung phụng hết chê. Bà cấm không cho hai cụ đụng tay đụng chân vào việc gì. Chỉ huy việc nhà là bà, lo sức khỏe cho hai cụ là bà, đưa các cụ vãn cảnh chùa này chùa nọ, thăm nhà này nhà kia cũng bà. Nấu nướng, quét dọn đã có con bé giúp việc. Lương hai vợ chồng ông trung tá không cao, nhưng lại có cái khác bù vào. Riêng khoản thiên hạ biết ơn quà cáp biếu xén không thôi đã bằng cả đống lương người khác. Nhìn hai cụ thân sinh béo tốt xúng xính trong bộ pi-gia-ma tơ tằm tha thẩn trong vườn, bà con trong họ ngoài làng vào thăm ai cũng xuýt xoa khen ngợi cái sự hiếu của ông bà trung tá.

Phú quý sinh lễ nghĩa, trung tá Cường kiếm thợ giỏi cho đóng một ban thờ thật lớn bằng gỗ tứ thiết mua rẻ của thủ trưởng lâm nghiệp có con ở trong trại. Đặt ban thờ vào nhà, nó chiếm hết bức tường hậu của phòng khách, còn to hơn cả ban thờ của lão địa chủ lớn nhất làng ông ngày xưa.

Làng ông là làng truyền thống cách mạng, nhiều cán bộ lớn, tỉnh có, trung ương có, nhưng về khoản nhớ ơn tổ tiên, trả nghĩa cho bố mẹ mà được như ông thì đếm trên đầu ngón tay. Tiếc nỗi, cụ kị ông đều thuộc hạng bạch đinh, chẳng có hình tích để lại, thành thử trên cái ban thờ sơn son thếp vàng to đùng với rồng bay phượng múa kia chỉ lơ thơ mấy cái bài vị lủng củng bên những lư, những đỉnh, những bát hương, chân nến… Ngắm cái công trình mình bỏ rất nhiều tâm lực vào đấy, ông buồn.

Ông nghĩ, ông tính: phải đặt làm hai bức truyền thần thực đẹp họa hai cụ thân sinh ngay từ bây giờ, khi hai cụ còn sống. Ông muốn hai cụ thấy tận mắt mình được thờ phượng thế nào trên cái ban thờ sang trọng hằng ngày khói hương nghi ngút kia.

Việc này phải giao cho thằng thông tin trại, ông nghĩ. Nó có hoa tay.

– Thưa, Ban cho gọi?

Thông tin trại người tầm thước, không béo không gày, mắt sáng, miệng rộng, được ông giám thị chiếu cố, coi như một thứ tay chân. Anh ta đứng trước mặt ông, hai tay chắp trước bụng.

– Phải. Ngồi xuống đi.

Ông chậm rãi rót trà vào hai ly, rồi khoát tay, ra hiệu cho anh uống. Đó là cách ông cho người tù biết anh ta đang được ban ân huệ.

– Thưa, Ban cho gọi, chắc có việc?

– Phải – ông gật – Không có việc tôi gọi anh làm chó gì?

Trước khi đi tù, thông tin trại là họa sĩ kiêm điêu khắc gia. Anh bị bắt quả tang đang vẽ một cô gái cởi truồng, công an khám nhà còn phát hiện mấy chục bức tranh khỏa thân giấu dưới gầm giường. Do trước kia có dính tí ngụy quân, dù đã xuất ngũ từ mấy năm trước khi chiến tranh kết thúc, giờ mắc tội “văn hóa đồi trụy”, anh vẫn bị bắt, vẫn bi xử nặng.

Ớ ngoài nhà tù, anh là một họa sĩ làng nhàng, không nổi tiếng, vẽ nhiều nhưng tranh không bán được. Người buôn tranh nói thời mới tranh của anh không hợp thị hiếu, không đáp ứng nhu cầu thị trường.

Thế mà từ khi vào tù, đơn hàng được gửi đến tơi tới, anh làm không hết việc.

Chả là trong chiến tranh, khắp nơi – trong cơ quan ở rừng, trong nhà dân, chỉ có hình lãnh tụ tối cao được in màu trên giấy Đạo Lâm. Hoà bình rồi mới nổi lên phong trào sắm tranh tượng – tranh thì phải là tranh sơn dầu, khổ lớn, tượng thì phải là tượng đồng hoặc thạch cao giả đồng. Tượng lớn, tượng đài là đặc quyền của các bậc cây đa cây đề trong làng điêu khắc. Nhưng chỉ làm tượng thạch cao thôi anh cũng đã đủ mệt.

Anh tù hoạ sĩ không thể nhớ mình đã vẽ, đã nặn bao nhiêu Bác. Anh được ban giám thị miễn lao động để làm mỗi việc ấy. Vẽ Bác nhiều, nặn Bác nhiều, anh đâm ra thuộc lòng từng nếp nhăn nơi khóe mắt, từng sợi râu, từng đốt ngón tay của Bác.

Anh buồn rầu nghĩ rằng anh không thuộc mặt bố đẻ của mình đến thế.

– Thế nào, sức khỏe anh hồi này ra sao?

Anh lí nhí:

– Thưa Ban, vẫn nhì nhằng…

Anh cúi mặt, không nhìn lên đấng bề trên có bộ mặt hao hao giống anh bếp nhà anh hồi trước giải phóng. Nhưng anh bếp trông trắng trẻo hơn, mặt sáng sủa hơn.

– Sinh hoạt tốt, không thiếu thốn gì chứ?

– Thưa, không ạ. Được Ban chiếu cố thì thiếu thốn sao được.

Ông mỉm cười bề trên:

– Nếu thiếu, cứ đề đạt với ông cán bộ giáo dục, rồi Ban xét.

– Dạ, nhà cháu xin cảm ơn Ban.

Ban đây là ban giám thị. Trong mọi cách xưng hô, chỉ ở trại giam mới có từ này. Nó được cả tù lẫn cán bộ trại giam thừa nhận.

Cách xưng hô trong tù rất đa dạng. Một số tù nhân không chịu xưng “con” xưng “cháu” với cán bộ như đa số tù hình sự ít tuổi, họ liền chọn cách xưng “nhà cháu” kiểu nhà quê. Xưng hô theo cách đó vừa tỏ ra mình thuộc bề dưới, lại như cách họ hàng, vừa đủ lễ phép, lại không hạ mình quá đáng.

Tranh tượng anh làm ra theo đơn hàng, trại thu tiền. Theo nguyên tắc, phạm nhân phải làm lao động không công trong thời gian cải tạo. Cái mà người tù được cách mạng cho hưởng là sự lao động cải tạo để trở thành công dân tốt, chứ không phải hưởng sản phẩm mình làm ra. Thành quả lao động của anh ta sẽ được tính đến trong những đợt xét tha, xét giảm án.

Anh hoạ sĩ tù thỉnh thoảng cũng được Ban giám thị giấm giúi cho ít phiếu lưu ký để mua hàng “căng-tin”, gọi là “bồi dưỡng”. Nhờ vậy, ở trong tù anh có đời sống khá giả, hơn hẳn tù thường.

– Cho anh bao Vinataba này. Mới ra, khá lắm đấy. Chẳng thua gì Ba Số. Hút đi, tự nhiên.

Anh đưa hai tay đỡ món quà.

– Dạ, nhà cháu xin cảm ơn Ban.

Ông nhìn anh tù chăm chú bóc bao thuốc, đoạn đưa cho anh cái bật lửa.

– Làm việc trong phòng thông tin có chật chội lắm không? – giọng ân cần, ông hỏi.

Anh tù ngước nhìn ông. Anh rất muốn biết ông giám thị định dẫn câu chuyện đi đâu.

– Thưa Ban, kể ra có được chỗ rộng hơn thì tốt hơn – anh châm điếu thuốc, từ tốn rít một hơi – Nhưng nước ta còn nghèo…

– Hiểu được như thế là tốt – ông giám thị hài lòng – Có tiến bộ.

– Dạ, nhà cháu hiểu ạ – anh nở nụ cười méo mó – Đã đi cải tạo, nhà cháu đâu dám vòi vĩnh. Chẳng lẽ lại xin Ban một xưởng họa.

Ông quan sát anh tù, ân cần:

– Nếu thấy chật thì cứ mạnh dạn đề nghị nhá. Rồi Ban xét, đừng ngại. Ban bao giờ cũng tạo điều kiện tốt nhất cho anh…

– Dạ! Nhà cháu cảm ơn Ban nhiều lắm.

Người tù biết mình là ai. Anh chẳng vui thú gì được gọi lên văn phòng. Mỗi lần được gọi lên là y như rằng có chuyện. Lại được đãi trà nữa thì không phải chuyện thường. Nếu chỉ là một chân dung Bác như mọi lần thì không phải ông trực tiếp ra lệnh, mà là cán bộ giáo dục.

Ông giám thị không vội cho anh biết ông gọi anh lên có việc gì.

Ông có cách của ông. Là bắt thằng tù phải chờ. Bắt nó nhìn vào mắt ông để đoán già đoán non cái đã. Rồi mới nói vào việc. Thằng tù sẽ thấy việc ông nói là quan trọng. Nó phải căng người ra mà nghe.

Anh thông tin nóng ruột. Anh chỉ muốn cuộc đối thoại chóng kết thúc để anh được trở về cái phòng thông tin bề bộn, tuềnh toàng và chật hẹp của mình. Nó là ước mơ không phải người tù nào cũng có được. Nay nó là giang sơn của anh, nơi anh có thể tự huyễn hoặc rằng anh vẫn còn cái tự do được là mình.

– Dạ, có vậy thôi ạ? – anh làm vẻ nhấp nhổm đứng lên – Nhà cháu đội ơn Ban quan tâm ạ.

Ông giám thị lúc này mới phác một cử chỉ ngăn lại:

– Ngồi đã. Hôm nay tôi gọi anh lên đây là có việc.

– Dạ.

Anh ngồi xuống, hai tay thu vào lòng.

Im lặng một lát, bắt anh phải chờ đợi thêm nữa, ông giám thị mới nghiêm trang hỏi:

– Anh nói tôi nghe: tranh của bọn họa sĩ các anh khác với tranh của bọn truyền thần thế nào?

Anh tù ngớ người. Anh không hiểu mục đích câu hỏi. Chẳng lẽ ông giám thị một trại giam giờ đây phát rồ, muốn tìm hiểu chuyện văn hoá nghệ thuật, là cái xa lạ với công việc của ông?

– Thưa Ban, khác chứ ạ. Họa sĩ vẽ tranh thì gọi là sáng tác. Tức là anh ta nghĩ ra một đề tài nào đó, rồi đưa nó lên khung vải, cho nó một hình hài. Cái đó là nghệ thuật, là lĩnh vực của nghệ sĩ. Còn người vẽ truyền thần thì chỉ làm công việc sao chép, miễn sao cho giống. Đó là lĩnh vực của người thợ, của sự khéo tay.

– Hừ, vẽ chuyện – còn phân biệt sáng tác với lại sao chép, bày đặt anh này sĩ, anh kia thợ. Cũng là vẽ cả, có khác gì đâu. Như anh đấy, anh có nhìn thấy Bác bao giờ đâu, thế mà anh vẫn họa được chân dung Bác. Thợ truyền thần cũng theo ảnh Bác mà họa, có khi còn khéo hơn cả anh nữa, nói cho anh biết.

Ông có đọc báo. Ông từng xem triển lãm. Ông biết tranh sơn dầu đắt hơn tranh truyền thần rất nhiều. Từ đó suy ra: thằng họa sĩ có giá hơn thằng truyền thần. Nhưng trước mặt ông là một thằng tù, dù nó là hoạ sĩ. Cần phải hạ giá nó trước đã, không cho phép nó làm cao.

Anh tù thì lại chột dạ: “Hay là trong bức chân dung vừa giao cho khách tuần trước có lỗi? Nó còn đẹp hơn những bức trước là đàng khác, màu sắc tươi sáng hơn”. Một lần anh đã bị khách trả lại hàng chỉ vì trong bức chân dung giao cho họ mắt của Bác không có hai đồng tử như trong một bức tranh nào đó, cũng là của anh, mà họ nêu ra như mẫu mực.

Đó là một bài học. Người ta đặt hàng, người ta trả tiền, người ta có quyền đòi anh phải làm hàng phải theo ý họ.

Khốn nạn, là cái máu nghề nghiệp làm khổ anh. Anh không thể nào vẽ bức nào cũng y hệt bức nào. Từ đó anh rút kinh nghiệm: thôi thì mặc, trên mỗi con ngươi của Bác, bất kể gương mặt ở tư thế nào, anh sẽ tương vào đó hai đốm sáng thần thánh cho vừa lòng kẻ sùng bái.

Anh dằn lòng tiếp tục trình bày:

– Dạ, thợ truyền thần thường dùng mực tàu vẽ trên giấy theo ảnh mà khách hàng đưa cho. Họ sao và phóng các bức chân dung ra thành khổ to để treo trên tường hoặc bày trên ban thờ. Đôi khi họ còn phải thêm vào đấy những thứ không có trong ảnh theo yêu cầu của khách, chẳng hạn thay quần áo thường bằng áo the, hoặc giả đặt người trong ảnh ngồi trên ghế bành cổ, đủ mười đầu ngón tay mười đầu ngón chân.

Ông giám thị hờ hững:

– Ờ, thế hoạ Bác thì sao?

– Dạ, họa chân dung Bác trong tranh sơn dầu thì không được thêm bớt. Có chăng chỉ là gia giảm chút đỉnh cách sử dụng màu. Hoặc thay cái phông đàng sau. Hoặc tô thêm hồng đôi má. Bớt đi những tàn nhang…

– Nghĩa là khác thì có khác, nhưng tựu trung vẫn giống nhau. Cả hai, anh hoạ sĩ với anh truyền thần, đều sống bằng nghề vẽ, là đồng nghiệp, sinh hoạt trong cùng một công đoàn. ..

Anh tù nuốt một tiếng thở dài:

– Dạ.

Ông giám thị đột ngột hỏi:

– À, này: anh có bộ quần áo nào không đóng dấu cải tạo không nhỉ?

Chuyện này coi mòi lôi thôi đây, anh tù giật mình. Nhà nước còn nghèo, không đủ tiền cho tù được cấp đồng loạt quần áo tù, người tù được phép dùng quần áo thường dùng của mình, nhưng phải có hai chữ CT, tức Cải Tạo, thật to, đóng ở lưng áo, bằng hắc ín. Anh giật mình: “Làm sao mà có thằng biết mình có bộ quần áo không đóng dấu để báo cáo?”

Chỉ còn chưa đến một năm là anh hết hạn tù. Tội của anh không đáng gọi là tội. Thời đã khác, nghe nói bây giờ họa sĩ đã được phép vẽ tranh khỏa thân. Nếu đúng như thế thì anh không có tội. Anh muốn ra khỏi nhà tù với bộ cánh đàng hoàng. Quả thật anh có mua một bộ quần áo không có hai chữ nhục nhã đã được tẩy sạch ở một tay tổ mua bán đổi chác trong trại. Anh giấu kín nó dưới gầm tủ đồ nghề, lẫn trong đống giẻ lau trong góc phòng. Chỗ ấy dù có tổng kiểm soát toàn trại, cán bộ cũng không thèm sờ đến. Từ nhiều tháng nay anh đã vẽ ra trong trí tưởng tượng một ngày về trong bộ cánh đàng hoàng.

Anh làm bộ sửng sốt:

– Sao lại có đứa báo cáo láo đến thế? Xin Ban chớ tin. Được Ban chiếu cố cho làm việc nhàn hạ như nhà cháu, tất nhiên có nhiều đứa ghen ăn tức ở…

Anh sửng sốt khi ông trung tá đứng lên, nhìn vào mắt anh:

– Thế này nhá, nếu chưa có thì kiếm ngay lấy một bộ. Ngày mai hay ngày kia tôi sẽ gọi anh lên, tôi cho anh đi với tôi ra thành phô.

2

Thành phố ùa vào anh như một cơn lốc. Phố xá đông đúc, người đi lại tấp nập, xe cộ ào ào, còi bóp inh ỏi. Quán xá ghế xếp lấn ra vỉa hè, đầy khách ăn khách uống.

Đã vài lần anh viện lý do chọn sơn để xin được ra thành phố có áp giải, nhưng lần nào cũng bị từ chối. Lần này lại được chính ông giám thị tự lái đưa đi.

Ông cho xe chạy qua các phố lớn, rồi rẽ vào một hàng kem, cho anh được ngồi lẫn với những người không phải tù, được nhẩn nha ăn kem, uống cà phê, rồi mới đưa anh về nhà.

Anh cảm thấy khó xử. Anh băn khoăn. Được đi chơi thành phố là một ân huệ cực lớn, nhưng kèm theo ân huệ này, ắt hẳn ông sẽ đòi anh một sự đền đáp.

Anh chỉ hiểu ra khi trong bữa cơm gia đình có mặt hai cụ thân sinh áo quần chỉnh tề.

– Tôi muốn anh hoạ cho hai cụ nhà tôi – ông giám thị cuối cùng nói ra điều ông muốn – Trông hai cụ thế này được chưa?

Thì ra sự đền đáp là như thế.

Anh họa sĩ ngắm hai cụ hồi lâu rồi rụt rè thưa:

– Báo cáo Ban, ý Ban muốn làm hai bức chân dung, phải không ạ?

– Phải.

– Ban định làm tranh khổ lớn để treo ở phòng khách?

– Không. Tôi muốn có hai bức tranh thờ, phòng khi các cụ nằm xuống thì đã có sẵn… Tranh vẽ cách gì cũng được, miễn đẹp.

– Thế thì, theo ý nhà cháu – anh thẽ thọt – Ban nên thuê thợ truyền thần. Họ chuyên nghiệp, họ quen việc. Chỉ thợ truyền thần mới làm đúng được như ý Ban muốn. Nhà cháu, xin thưa thật, không thạo việc này, e rằng…

– E làm sao?

Anh họa sĩ cố tìm lời giải thích:

– Thưa Ban, người làm nghề nào cũng quen tay nghề ấy, cũng có cái thuật của họ, người khác nghề không làm được. Tranh truyền thần, thưa Ban, khác với tranh hội hoạ…

Ông cau mặt:

– Hừ, đã nói rồi, mà anh cố tình không hiểu. Hay là anh cho rằng chỉ có các anh biết vẽ, còn họ thì không?

– Dạ, hoạ sĩ phải lấy ký hoạ, làm phác thảo rồi mới dựng chân dung – anh vội vã nói – Còn thợ truyền thần thì chỉ cần có tấm ảnh trước mặt là xong. Họ quen làm ảnh thờ. Thậm chí chỉ cần có một bộ mặt, phần còn lại như mũ cối, mũ tai bèo, quân hiệu, quân hàm họ sẽ thêm vào sau… Vâng, làm tranh truyền thần các liệt sĩ không có ảnh chụp khi còn trong quân ngũ là như vậy đấy ạ.

– Anh nói lạ. Người ta không còn ảnh nào khác thì đành chịu. Chứ hai cụ nhà tôi đang sống nhăn. Nói để anh biết, người chết rồi còn có ảnh thì chỉ cần chụp lại rồi phóng to, đâu cần đến thợ truyền thần.

Anh họa sĩ thở dài. Với ông này không thể nói lời từ chối.

– Thưa Ban, nếu Ban đã quyết… Nhưng nhà cháu đâu có được ở đây để làm phác thảo.

Ông giám thị gật đầu:

– Phải. Tôi nghĩ trước cả rồi. Đưa anh ra đây sẽ có đứa thối mồm báo cáo tôi ưu đãi anh thái quá. Chiều nay anh ở đây vẽ phác, hay gọi là cái gì nhỉ, ờ… làm ký hoạ, như anh nói. Tôi sẽ đưa hai cụ đi chụp ảnh sau. Hình như ở nhà vẫn còn hai ảnh làm giấy chứng minh đấy…

– Dạ – anh hoạ sĩ nuốt nước bọt.

– Ở trại, anh cứ theo ký hoạ, theo ảnh mà làm, khổ to bằng nào tôi nói sau. Nhưng gì thì gì, nó phải là tranh thờ. Anh hiểu chứ?

– Dạ.

– Nhớ làm kin kín, đóng cửa lại, đừng cho đứa nào biết, ngoài ông giáo dục. Ông ấy thì không sao.

Thấy anh băn khoăn, ông hiền từ bảo:

– Cứ mạnh dạn làm. Tôi sẽ đãi ngộ thích đáng.

Anh tù họa sĩ hiểu rằng lệnh đã ra. Việc của anh là chấp hành.

Yêu cầu của ông giám thị không cao, nhưng lại khó thực hiện. Bởi vì hai cụ, tiếc thay, không được đẹp lão cho lắm. Cụ ông chẳng may bị hư một mắt do mảnh bom thời kháng chiến chống Pháp, phải đeo kính đen suốt ngày như thầy bói. Cụ bà thì không hiểu sao bị rụng hết tóc đến nỗi đầu trọc lốc, tứ thời sùm sụp chiếc khăn len, chỉ để hở bộ mặt đen sạm, nhăn nhúm. Nếu vẽ cho thật giống thì không đẹp. Mà nếu vẽ cho thật đẹp thì không giống.

Ông trung tá cho anh đem về hai bức ảnh khổ 3×4. Từ hai nhân vật trong ảnh, xấu như ma lem, anh hì hục vẽ hai bức truyền thần bằng chì màu. Với anh đó là một công việc khổ sai. Ở trường Mỹ thuật anh không được học cách vẽ truyền thần.

Tuy nhiên, anh cũng tìm được cho mình một chút an ủi. Vẽ ảnh thờ cũng không quá khó. Đại khái nó cũng như khi anh phải nhận đặt hàng vẽ các lãnh tụ cấp thành phố chờ được ngày lên tối cao – một anh cựu hương sư, một anh cựu ký ga, cả hai đều không đẹp giai, cũng chẳng đẹp lão. Anh chặc lưỡi, vẽ thì vẽ, ít nhất thì cũng là sự thay đổi không khí, được nghỉ vẽ Bác.

Hai bức tranh thờ mất hơn một tuần thì xong. Con mắt hỏng trong bức ảnh cụ ông đã được thay bằng con mắt thật, với ánh lấp lánh không hề có. Mái tóc cụ bà được tạo lại óng mượt như mái tóc thiếu nữ.

Ông giám thị gật gù ngắm hai bức tranh một lát.

Anh thông tin trại lo lắng theo dõi nét mặt ông. Ông giám thị suy nghĩ rồi phán:

– Ờ, thế này là cái gì nhỉ…, hừm, là tranh chân dung, chứ không phải truyền thần. Trông cũng tạm được. Nhưng anh không hiểu ý tôi rồi, chán quá. Ảnh thờ là phải đủ cả tay cả chân mới được…

Anh họa sĩ chống chế:

– Thưa Ban, bây giờ người ta lấy chân dung bán thân làm ảnh thờ nhiều lắm ạ.

– Hừ, anh nói lạ – ông giám thị lắc đầu – Đấy là vì người ta không còn ảnh nào khác, thì chịu vậy.

– Dạ, để nhà cháu làm lại – anh thở dài kín đáo.

– Tốt – ông giám thị độ lượng gật – Hai bức này cũng không bỏ đi. Để đấy cho tôi. Vẽ hai bức khác. Lần này làm sơn dầu.

– Dạ. Xin Ban cho mua thêm màu sơn.

– Cái đó không khó. Anh sẽ đi với tôi để mua. Tha hồ chọn. Mà thôi, cứ kê ra, chỉ chỗ nào có, sẽ có người đi mua cho anh. Kẻo cho anh đi nhiều lần, thiên hạ nói ra nói vào.

Anh thông tin nghĩ tới những khó khăn anh sẽ gặp. Trong trại không có lấy một cái ghế bành nào, đừng nói tới ghế bành cổ, có chạm trổ. Trong mình đời anh đã được ngồi trên chiếc ghế cổ một lần, hồi anh còn rất nhỏ. Anh nhớ cảm giác mát rượi của gỗ, màu đen bóng của nó, nhưng những chi tiết thì anh quên. Anh lớn lên giữa những xa lông cẩm lai, xô-pha bọc vải, bàn ghế véc-ni bóng loáng. Trí tưởng tượng của anh không sao tái hiện hoặc tạo ra được một chiếc ghế bành cổ. Đành phải nhờ mấy người bạn tù chụp lại cho anh một bức truyền thần của gia đình họ. Làm được chuyện này không dễ, bởi nó phụ thuộc vào những lần thăm nuôi, những mối liên hệ có thể nhờ vả, và cả sự cho phép của cán bộ giáo dục khi xét đồ thăm nuôi.

Rồi anh cũng hoàn thành hai bức truyền thần, lần thứ hai. Trong hai bức này cả cụ ông lẫn cụ bà mặc áo the, ngồi chễm chệ trên hai chiếc ghế bành cổ, tay vịn bóng loáng, với hai đầu rồng. Bức truyền thần tổ phụ của một người bạn tù đã giúp anh vượt khó.

Ông trung tá hài lòng ra mặt:

– Được, được đấy! Anh này có hoa tay. Khéo!

Ông thưởng cho anh một bao Ba Số. Và hai gói trà Thăng Long hảo hạng, ướp sen:

– Hút thuốc ta không nóng họng. Nhưng Ba Số thơm hơn. Chiêu bằng trà này quên chết! Tôi sẽ cho anh mấy phiếu lưu ký nữa. Sướng nhá!

Anh họa sĩ sướng thật. Anh cảm thấy thoát được một gánh nặng khi nhìn ông giám thị cuộn hai bức tranh mang đi.

Vài ngày sau anh lại bị ông giám thị gọi lên.

– Tôi nghĩ lại rồi. Tôi thích hai bức truyền thần anh vừa họa. Nhà tôi cũng thích. Hai cụ thì khen sao khéo thế, trông ảnh rồi vẽ ra, mà như tạc – ông cười toác, chẳng còn chút gì của vẻ nghiêm nghị ngày thường – Nhưng xem kỹ lại thì thấy hai bức này vẫn có chỗ chưa được, anh ạ.

– Dạ! Chưa được chỗ nào ạ? Xin Ban cứ nói để bổ khuyết.

Không, không có gì lớn. Không phải tại anh. Mà tại tôi. Cụ ông nhà tôi có cái Huy chương kháng chiến mà tôi quên khuấy, không bảo anh vẽ vào. Quan huyện ngày xưa có bài ngà, bây giờ mình có huân chương huy chương, không vẽ cũng hoài. Anh thấy thế nào?

– Dạ! – anh họa sĩ mệt rũ – Xin Ban cứ chỉ thị.

Ông giám thị suy nghĩ lung. Ông chưa quyết ngay.

– Thế này: anh vẽ thêm cái huân chương vào được chứ? Có chút xíu ấy mà.

Anh họa sĩ muốn mếu:

– Thưa Ban, khó đấy. Cái giống sơn dầu nó vậy, thưa Ban. Thôi thì để cháu làm bộ khác…

Suy nghĩ một lát, ông nói:

– Hay là thế này, anh vẽ thêm hai bức nữa. Lần này có cả huân chương cho hai cụ…

– Cả hai ạ?

– Phải. Cụ bà lẽ ra cũng đã có huân chương rồi đấy, dưng còn vướng cái xác nhận. Trên đòi thêm giấy tờ, đòi thẩm tra bổ sung. Quan liêu bỏ mẹ. Cụ hồi trước hoạt động du kích, cụ dữ lắm đấy. Cái bận bọn Tây đổ bộ lên vùng duyên hải quê tôi, cụ bắn tỉa được khối. Một thằng Tây bị thương, thế nào mà nó lại rúc ngay vào bể chượp, đến khi bán hết nước mắm mới biết có nó ở trong. Kinh! Nhưng rồi chẳng thấy ai bị làm sao. Những chuyện ấy có ông nhà văn ghi lại cả, in thành sách hẳn hoi. Trừ cái chuyện thằng Tây chui vào bể chượp rồi chết trong ấy.

Ông trầm ngâm:

– Đó là những trang sử vô cùng hào hùng của dân tộc ta. Anh ở phía bên kia, anh thấy thế nào? Tự hào quá đi chứ, phải không? Bây giờ đất nước liền một dải, tự hào là tự hào chung, anh cũng có phần. Anh cải tạo tốt, đến khi Đảng, chính phủ xét cho anh về, anh làm việc có thành tích, rồi cũng có huân chương huy chương như thường…

– Thưa Ban, hai cụ nhà thành tích như vậy, phải có huân chương cao mới đáng. Ta có vẽ trước cũng được. Coi như ta đi trước một bước ạ – anh họa sĩ xuýt xoa nhắc lại lời nói quen thuộc của các cán bộ mà anh từng nghe: “Phải đi trước một bước”

– Thưa, Ban lệnh cho bao giờ phải xong ạ?

– Cứ nhẩn nha làm. Không vội – ông mỉm cười độ lượng – Quý hồ tinh bất quý hồ nhanh. Quý là ởchỗ chất lượng cao. Trên bao giờ cũng trọng chất lượng, cho nên mới nói sản xuất phải nhanh, nhiều, tốt, rẻ. Có nghĩa là phải nhanh, phải nhiều, nhưng cũng phải tốt, phải rẻ…

3

– Hai bức sơn dầu sau thế nào? Ông ta hài lòng chứ? – tôi hỏi.

Hai đứa chúng tôi nằm ườn trên cát, mặc cho những con sóng tha hồ la liếm thân mình.

Trên cao, mặt trời chói lọi. Những đám mây bông xốp lững lờ. Biển trải dài tít tắp nơi đường ranh giới không rõ nét trong nắng chiều giữa lồng lộng trời cao và bao la biển rộng.

– Còn phải nói. Hài lòng lắm lắm! – bạn tôi nói, môi bĩu ra – Tấm tắc khen.

– Cậu cũng hài lòng?

– Hài lòng cái con khỉ?

– Tức là không đẹp?

– Làm gì có cái đẹp ở nơi con người bị bó buộc làm ra những cái mà tâm hồn nó chống lại?!

– Nhưng rồi cậu cũng được thưởng hậu hĩ chứ?

– Ờ… Nếu ông ta kịp thưởng.

Tôi lật mình lại, nhưng không thấy mặt anh dưới tờ báo.

– Sao? Ông ta đột tử?

– Không phải.

– Vậy thì vì cái gì?

– Bị kỷ luật, đuổi khỏi ngành. Bà vợ cũng vậy. Mất chức, mất cả biên chế. Mà cậu có biết không: chung quy chỉ tại hai bức tranh sơn dầu tớ vẽ.

???

Anh lột tờ báo ra. Mắt anh nheo lại vì nắng. Tôi đưa chai xá xị cho anh. Anh cạn một hơi.

– Hai bức tranh tội vạ gì?

Anh cười:

– Cái xảy nảy cái ung. Từ hai bức tranh thờ ấy cả một cuộc chiến bùng nổ. Nhiều cuộc đời ra nước. Nhiều cuộc đời lên hương…

– Cậu kể đi!

– Câu chuyện bắt đầu bằng một bữa tiệc – anh nhẩn nha dẫn tích – Ông giám thị hài lòng với hai bức tranh đến nỗi không thể không đem chúng ra khoe với thiên hạ. Ông ta làm một bữa giỗ rất to, rất linh đình. Giỗ ai, không biết! Có thể ông ta bịa nó ra cũng nên. Ngoài các bạn đồng sự ngang cấp của hai vợ chồng, còn có nhiều vị tai to mặt lớn khác cũng đến dự. Tác giả của hai bức chân dung tất nhiên không được mời – hắn còn ở trong tù. Sở dĩ tớ được biết về bữa giỗ và đầu đuôi câu chuyện là do tay cán bộ chấp pháp của Bộ nói ra khi hắn ta hỏi cung tớ.

– Cậu hết hạn tù rồi mà. Còn cung kẹo gì?

– Tớ là tác giả hai bức tranh ấy mà. Nhưng người ta hỏi tớ không phải như tội phạm, mà với tư cách nhân chứng. Thì có sao tớ nói vậy. Xét cho cùng tớ cũng có lỗi. Nhưng người ta không bắt lỗi ấy. Khi nhận lệnh của tay giám thị, tớ có biết mặt ngang mũi dọc các thứ huân chương huy chương của phía bên kia bao giờ đâu. Nhưng đã hứa thì phải làm – hai cụ phải có huân chương trên ngực. Cho nó oách.

– Cậu làm thế nào để vẽ nếu không biết mặt các huân chương?

– Tớ tìm được trong một số báo ảnh một bà già nào đó có đeo huân chương trên ngực, đâu như là một Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng thì phải. Cũng chẳng hiểu bà ta là ai: một bà mẹ anh hùng của nước Việt Nam, hay là một bà mẹ sinh ra nước Việt Nam anh hùng? Nói tóm lại, tớ gắn luôn cái huân chương của bà ta vào ngực áo cụ bà. Cụ ông thì một cái khác, quân công thì phải. Từ một ảnh khác, thấy trong tờ Quân đội Nhân dân. Hạng mấy tớ không nhớ.

– Thế thì cậu giết người ta rồi!

Anh tiếp tục bằng giọng vui vẻ:

– Tớ chỉ biết làm sao cho đẹp, cho vừa lòng tay giám thị. Thoạt trông thấy hai bức tranh vừa hoàn thành, phơi phới gam màu tươi sáng, được lên khung sẵn sàng, ông ta không nói gì, nhưng nhìn mặt ông ta tớ biết, sướng rơn. Chuyện về sau thế nào, tớ không rõ. Tay chấp pháp hỏi tớ về hai bức tranh, tớ nhận liền. Vẽ tranh theo lệnh giám thị chứ có phải tớ tự làm ra đâu. Thiên Lôi chỉ đâu đánh đấy, thằng tù nào dám cưỡng lệnh giám thị? Tay chấp pháp cũng hiểu, chẳng vặn vẹo. Chỉ hỏi thêm chuyện từ ngày nhập trại tớ đã vẽ bao nhiêu chân dung, nặn bao nhiêu tượng lãnh tụ, được bồi dưỡng như thế nào, cụ thể là bao nhiêu? Tớ đoán họ muốn biết cái gì. Thì ra tiền thu được ban giám thị cho vào quỹ đen, chẳng có sổ sách nào hết.

– Tay ấy có hỏi cậu về vụ huân chương không?

– Có chứ. Cái ấy mới là chính. Hắn ta hỏi: “Có phải ông giám thị bảo anh vẽ huân chương trên ngực hai cụ già không?” Tớ bảo phải. Nhưng tớ biết tỏng vì sao hắn ta quan tâm tới hai cái huân chương đó. Hắn cần tớ xác nhận sự việc, thật vắn tắt, có hoặc không, không lằng nhằng.

– Cậu gật?

Anh nhún vai:

– Tất nhiên.Tớ làm theo đơn đặt hàng mà.

– Vì hai cái huân chương trên tranh mà họ kỷ luật tay giám thị?

– Họa vô đơn chí – từ hai bức tranh họ khui ra một lô một lốc những vụ khác. Tuốt tuột. Chẳng hạn, ngôi nhà là kết quả việc tham gia chạy tha cho con trai một ông to dính vào vụ giết người. Vụ này tay giám thị ở khâu yếu nhất, những tay ở cấp cao hơn cũng nhúng chàm. Nó là vụ to nhất so với nhiều vụ khác. Giậu đổ thì bìm leo, chính những đồng chí đồng liêu của tay giám thị tố cáo nhiều nhất. Rồi người ta phát hiện chân trưởng phòng tổ chức của bà vợ cũng do đổi chác mà có. Hai tấm bằng bổ túc văn hóa cũng là của giả nốt. Vân vân và vân vân… Bà này ăn hối lộ như ranh. Thiên hạ đưa ra chứng cớ rành rành. Mà chẳng phải chỉ hai vợ chồng nhà này biết kiếm chác. Tất cả đều kiếm chác. Nó là một bệnh dịch. Bây giờ có đốt đuốc đi tìm cũng không moi ra được một ông quan thanh liêm. Nếu có, phải là một tên dở hơi. Một thằng khùng. Chỉ có thể tìm thấy những người thanh liêm trong dân chúng. Bởi vì chỉ có họ là không ăn của đút. Của đút là thức ăn của nhà quan.

Tôi chặn lại:

– Thôi, đừng triết lý nữa. Kể tiếp đi: tay giám thị và bà vợ bị đưa ra tòa?

Anh bĩu môi:

– Cậu ngây thơ hay giả vờ ngây thơ? Những vụ như thế mà cũng đưa ra tòa thì lấy đâu ra tòa mà xử? Cả trăm tòa cho một tỉnh cũng chẳng đủ. Với lại, người ta cũng chiếu cố công lao xây dựng chế độ của cả hai vợ chồng, cả hai đều có thâm niên chiến đấu, có tuổi Đảng cao. Người ta phải bảo vệ bộ mặt chế độ, bảo vệ những kẻ bảo vệ chế độ chứ. Họ chỉ ra lệnh bắt đương sự phải kiểm điểm sâu sắc, cho chịu kỷ luật nội bộ.

– Kỷ luật thế nào?

– Bị lột hết chức vụ, đuổi khỏi biên chế….

– Trở về quê làm ruộng?

Anh cười ha hả:

– Làm gì có chuyện ấy. Họ vẫn ở nguyên chỗ, là nói về sự cư trú. Cái nhà có thể lấy lại, bị tịch thu, nhưng muốn làm điều đó thì phải có quyết định của toà án, bằng văn bản. Mà người ta đã không muốn công khai chuyện này thì làm gì có toà. Hộ khẩu của họ thì không thể tước bỏ rồi, cho dù họ bị kỷ luật. Cái chuyện giấy tờ bao giờ cũng lằng nhằng lắm.

– Khó hiểu.

– Có gì mà khó hiểu. Mọi sự không thể tưởng tượng nổi vẫn có thể diễn ra dưới bầu trời đỏ. Mọi sự, cậu hiểu không? Mình có đến thăm ông cựu giám thị một lần. Dù sao thì mình cũng có chút ân tình với lão. Lão vui vẻ tiếp mình, mặt tỉnh khô, đầy tự tin. Còn nói: các anh ấy đang tính bố trí cho mình một công tác mới. Các anh ấy là các anh nào, thật hay hư, cao hay thấp, mình làm sao biết. Nhưng nếu nay mai mình lại gặp lão trong một cương vị khác, có thể còn to hơn trước, mình cũng chẳng ngạc nhiên.

Họa sĩ đứng lên, chạy ào về phía một con sóng lớn, cao và rộng, đang chạy vào bờ. Trong tiếng sóng ào ào, anh hét lên bảo tôi:

– Giá mà tất cả chúng nó phải trở về đúng cái chỗ đích thực mà cuộc đời bình thường đặt chúng vào.

– Hả? – tôi khum bàn tay lên vành tai, hét lại – Thì sao?

Anh cười sằng sặc, còn hét to hơn:

– Thì sao? Thì trái đất này sạch hơn nhiều.

2000

Bình Luận từ Facebook

BÌNH LUẬN

Xin bình luận ở đây
Xin nhập tên của bạn ở đây