Nên mở cửa xuất khẩu gạo trở lại, đồng thời đánh thuế xuất khẩu

Nguyễn Đức Thành

2-4-2020

Những ngày này, Việt Nam đóng cửa xuất khẩu gạo nhìn Thái Lan tung hoành giữa thị trường thế giới như Triệu Tử Long cưỡi ngựa trắng trong trận Trường Bản.

Theo tôi Việt Nam không nên áp dụng chính sách cấm xuất khẩu gạo hoặc chế độ quota lúc này. Tất cả chỉ làm lợi cho các nhóm lợi ích núp bóng nhà nước như Hải quan, VFA, VinaFood, v.v… đồng thời gây thiệt hại và phân hoá các doanh nghiệp xuất khẩu gạo, khiến thị trường bị đẩy lùi hàng chục năm. Người nông dân miền Tây thì khổ nhất rồi vì đang hý hửng được mùa kèm với giá cao, giờ méo mặt oằn lưng làm cái khiên che con ngáo ộp “an ninh lương thực” cho đồng bào cả nước được yên tâm mua gạo rẻ.

Theo tôi, chính sách lúc này nên là đánh THUẾ XUẤT KHẨU gạo. Mức thuế này sẽ tạo ra sự chênh lệch giá giữa gạo trong nước (phục vụ nhân dân và kho dự trữ quốc gia) và giá gạo thế giới (phục vụ doanh nghiệp và nhà nước có nguồn thu).

Ví dụ, nếu đánh thuế xuất khẩu gạo là 30% giá bán. Thì khi giá thế giới là 800 USD một tấn thì giá trong nước sẽ chỉ là 560 USD. Như vậy người dân vẫn được hưởng giá gạo tương đối thấp so với giá thế giới. Trong khi đó, DN cũng không có động lực xuất khẩu ồ ạt vì họ xuất khẩu được thì cũng chỉ thu được 560 USD một tấn, không khác gì bán trong nước. Đồng thời, nhà nước thu được thuế là 240 USD một tấn, vào thẳng ngân sách.

Lợi ích lớn nhất của chính sách đánh thuế xuất khẩu gạo là doanh nghiệp xuất khẩu có thể tính toán được bài toán của họ một cách chủ động (khi đã biết thuế suất). Họ biết rõ khi giá gạo thế giới tăng, ví dụ từ 700 lên 800 rồi lên 1000 hay thậm chí 1500 USD, thì họ đều có quyền xuất BẤT CỨ LÚC NÀO, với khối lượng tùy ý, đồng thời, họ biết rõ giá bán họ thu được là bao nhiêu (bằng 70% giá thế giới – vẫn ví dụ thuế suất cố định là 30%). Họ sẽ tính toán, tích trữ chờ đợi hay bán ngay, v.v… và không bị lỡ nhịp các cơ hội trên thế giới, không quá thua thiệt với các đối thủ như Thái Lan. Tất nhiên, họ thu được ít tiền hơn các DN Thái Lan (nếu bên đó không bị đánh thuế xuất khẩu), nên họ không có động lực điên cuồng bán gạo đi. Như thế, vẫn có thể làm yên lòng nhà chức trách Việt Nam đang lo giá gạo trong nước tăng và nguồn cung bị thiếu. (Riêng với tôi, giá gạo tăng thì có, nhưng nguồn cung thì không lo thiếu, nhưng giá gạo tăng thì đã bị hãm lại nhờ có thuế xuất khẩu rồi).

Như vậy, thị trường lúa gạo VN vẫn vận hành dưới sự hoạt động của doanh nghiệp và nông dân. Chứ lý do cho rằng Chính phủ cấm xuất khẩu gạo để đợi gạo lên mới cho DN xuất khẩu để kiếm lời, thì là một lý do hết sức vô lý vì đó không phải là trách nhiệm cũng như chức năng của Chính phủ. Và không ai có thể đảm bảo Chính phủ làm việc đó đủ khôn ngoan. Thêm nữa, điều đó khiến doanh nghiệp và nông dân hoàn toàn bị động, không phát huy được trí tuệ và tính chủ động của họ. Tức là kéo lùi sự phát triển của thị trường.

Với cách điều hành thị trường bằng THUẾ XUẤT KHẨU nhu vậy, sẽ không bao giờ lo thiếu gạo trong nước vì khi người dân có nhu cầu gạo tăng lên một chút, giá trong nước sẽ tăng và DN sẽ có động lực bán trong nước thay vì xuất khẩu. Tất nhiên, chính sách này chỉ áp dụng như một tình huống đặc biệt, khi Chính phủ không tự tin với an ninh lương thực trong nước, mà cầu gạo thế giới thì tăng ầm ầm.

Tôi không hiểu sao các cơ quan điều hành không theo phương án này. Khả năng chính, theo tôi, là nếu làm thế này tiền thuế sẽ chạy hết vào ngân sách. Còn nếu dùng chế độ quota, thì họ được hưởng tiền rent do DN phải chạy vạy họ.

Tái bút: Có ý kiến cho rằng THUẾ thì phải do Quốc hội thông qua, Chính phủ không có thẩm quyền áp dụng tùy ý. Chúng ta cần coi đây là một tính huống đặc biệt. Và nếu không có khả năng pháp lý để thực hiện, thì Chính phủ có thể áp dụng tạm thời một loại PHÍ, nhưng có chức năng giống hệt như THUẾ. Như thế vẫn bảo đảm đạt mục tiêu chính sách.

Bình Luận từ Facebook

1 BÌNH LUẬN

  1. Bài viết chẳng có tí gì hiểu biết về thương mại, thế mà cũng cố mà rặn.

Comments are closed.