Tội ác Mậu thân: trách nhiệm của Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân qua tài liệu lịch sử “The Vietcong Massacre at Hue”

  •  
  •  
  •  
  •  

FB Trương Nhân Tuấn

16-2-2018

Trương Nhân Tuấn: Mùng một tết năm Mậu Tuất 2018. Viết cho những oan hồn Huế 1968. Để “thiết lập lại sự thật” nhằm “giải oan cho cuộc bể dâu này”!

Bút ký của Bác Sĩ Alje Vannema, người gốc Hòa Lan, có mặt tại Huế trong dịp Tết Mậu Thân 1968, sau 50 năm đã trở thành “tài liệu lịch sử”, nếu không nói là “bằng chứng lịch sử”. Thông lệ giới hàn lâm học thuật, cũng như qui ước quốc tế về những “hồ sơ mật quốc gia”, thời gian công bố các các hồ sơ xếp vào diện “mật” là 30 năm. 50 năm cho các hồ sơ ”tối mật”. Tức là, trên “nguyên tắc”, các “bí mật” về cuộc “tấn công và nổi dậy” tết Mậu Thân 1968 đã được phải “bạch hóa”.

Bác sĩ Alje Vannema không phải là “sử gia” thông thường, tức là những người chỉ viết lại (và phân tích) những sự kiện đã qua. Bác sĩ Alje Vannema vừa là nhân chứng trực tiếp, vừa là “sử gia” ghi chép lại (một cách tường tận và tỉ mỉ) chi tiết các vụ thảm sát Mậu Thân tại Huế. Tài liệu vì vậy có tầm quan trọng, ngoài giá trị “lịch sử”, nó còn có giá trị của “bằng chứng”.

Tài liệu này được Vintage Press, New York công bố năm 1976, sau đó được báo chí Việt ngữ tại Mỹ trích dịch đăng lại dưới tựa đề : Thảm sát Huế Tết Mậu Thân.

Tài liệu ghi lại, hố chôn tập thể (được phát hiện cho tới thời điểm viết bút ký) gồm có 19 vùng. Căn cước một số nạn nhân, (những người còn nhận diện được), như tên tuổi, xuất xứ… được tác giả ghi chép tỉ mỉ. Đặc biệt tài liệu ghi tên 4 nhân vật có can dự vào cuộc thảm sát, gồm Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh (tài liệu viết là Nguyễn Thị Doan) và Nguyễn Dọc. Riêng hai ông Tường và Xuân, tác giả Alje Vannema khẳng định là mình “biết rõ”.

Hoàng Phủ Ngọc Tường (ngồi) và Nguyễn Đắc Xuân. Ảnh: internet

Theo bác sĩ Alje Vannema, Hoàng Phủ Ngọc Tường phụ trách “tòa án” khu vực Tiểu chủng viện. Nguyễn Đắc Xuân phụ trách các “tòa án” khu Gia Hội:

“Tòa án ở Tiểu chủng viện do Hoàng Phủ Ngọc Tường chủ trì. Anh này tốt nghiệp đại học Huế và là cựu lãnh tụ sinh viên trong Ủy Ban Phật Giáo chống chính quyền trước đây.”

Như vậy Hoàng Phủ Ngọc Tường có trách nhiệm ở hố chôn tập thể thứ tư, như đã viết trong tài liệu:

“Vùng chôn thật sự thứ tư nằm sau Tiểu chủng viện, nơi dựng tòa án nhân dân. Hai hầm chứa xác ba người Việt làm việc cho tòa đại sứ Hoa Kỳ, hai xác người Mỹ: ông Miller và ông Gompertz, nhân viên USOM; và xác một giáo sư trung học người Pháp bị giết vì lầm là người Mỹ. Tất cả đều bị trói tay. Xác tìm thấy và liệm ngày 09.02. Xác hai người Mỹ và người Pháp được đưa về Đà Nẵng”.

Về Nguyễn Đắc Xuân, tài liệu viết: “Cầm đầu ở Gia Hội là Nguyễn Đắc Xuân, trước kia là một liên lạc viên cộng sản nay đột nhiên lại xuất hiện”.

Theo tài liệu của bác sĩ A. Vannema, hố chôn tập thể khu Gia Hội được khám phá đầu tiên: “Mồ tập thể được khám phá đầu tiên ở trường trung học quận Gia Hội, nằm bên cạnh khu dân cư. Sở dĩ cư dân gần đó biết được là vì họ nghe tiếng súng và biết ở đó có mở tòa án nhân dân. Một số người sau khi tham dự phiên tòa đầu tiên đã liều trốn và may mắn thoát. Một số khác nhờ bơi qua sông. Trước ngôi trường có tất cả 14 hố gồm 101 tử thi. Sau ba ngày tìm kiếm, người ta khám phá thêm một số hố rải rác trước, sau và bên hông trường, nâng tổng số tử thi lên 203, gồm xác thanh niên, người già và phụ nữ”.

Nếu chỉ ngừng ở các chi tiết này, Nguyễn Đắc Xuân chịu trách nhiệm giết 203 người Việt, gồm “thanh niên, người già và phụ nữ”, trong đó có 18 sinh viên.

Tài liệu cũng ghi các Tòa án trong thành do hai sinh viên Nguyễn Đọc và Nguyễn Thị Đoan điều khiển. Nhưng theo tài liệu của các học giả người Việt, như các ông Liên Thành hay Lữ Giang, tất cả các phiên tòa trong nội thành đều do hai ông Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân đảm trách.

Tài liệu của ông Liên Thành đặc biệt có giá trị. Vì ông cũng là một “nhân chứng quan trọng”. Ông nguyên là Thiếu tá, giám đốc ty cảnh sát Huế thời đó. Tức là ông Liên Thành là một người không chỉ “biết”, mà còn là người “trong cuộc”.

Theo tác giả A Vannema, “Các phiên tòa vang lên những lời đe dọa với khẩu hiệu tuyên truyền, kết tội, qui chụp. Hầu hết những người bị lôi ra tòa chẳng biết lý do mình bị bắt. Nhưng tất cả đều bị kết tội, một số bị tử hình tức khắc.”

Theo tài liệu của nhân chứng, bác sĩ A. Vannema, Hoàng Phủ Ngọc Tường chịu trách nhiệm, ngoài cái chết những người VN, còn có (ít nhứt) cái chết của hai người Mỹ và một người Pháp, tại “tòa án” khu vực Tiểu chủng viện.

Hoàng Phủ Ngọc Tường vừa rồi có công bố lá thơ “sám hối”, có tên “lời cuối cho câu chuyện quá buồn”, qua trang facebook nhà văn Nguyễn Quang Lập.

Theo lá thơ, HPN Tường khẳng định “Mậu Thân 1968 tôi không về Huế”.

Điều ghi nhận đầu tiên, 50 năm sau, HPN Tường nhìn nhận thảm sát Huế “là có thật”. Dẫn: “với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng”. Hết dẫn.

Việc này hết sức cần thiết, và là “điểm son” cho ông Tường.

Ông Tường “lên án” vụ thảm sát “là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng”.

Ông Tường nhìn nhận các “hành động giết oan” tại Huế, Tết năm Mậu thân 1968, là do “quân nổi dậy trên mặt trận Huế”.

Lời thú tội đã xóa bỏ tất cả những gì mà các thế hệ VN lớn lên sau này học ở nền giáo dục tuyên truyền láo khoét. Tội ác Mậu Thân 1968 là do “quân nổi dậy” gây ra, chớ không phải do Mỹ, Ngụy, như trường học thầy giáo lâu nay giảng dạy.

“Quân nổi dậy” ở đây là những ai? Ai chỉ huy đạo quân “nổi dậy” này?

Và ông HPN Tường có “nói hết sự thật” trong lá thơ “Lời cuối cho câu chuyện quá buồn” hay không?

Về vụ “thảm sát Huế”, các tài liệu chính thức đã công bố, hay những nhân chứng thuộc “phe thắng cuộc”, không ngoại lệ đều cho rằng vụ thảm sát Huế 1968 là có thật. Tất cả đều biểu lộ sự hối tiếc đồng thời qui trách nhiệm cho chính sách của “trung ương”.

Tức là ông Tường chỉ nói “sự thật” ở cái mà mọi người đều biết: thảm sát Mậu Thân là do phe “cách mạng” gây ra (chớ không phải do Mỹ Ngụy gây ra).

Điều này không ăn nhập gì tới việc ông Tường “không có mặt tại Huế”.

Trong thơ ông có nhắc lại vụ máy bay Mỹ bỏ bom ”thảm sát bịnh viện nhỏ ở Đông Ba”.

Dẫn: “Đặc biệt, khi kể chuyện máy bay Mỹ đã thảm sát bệnh viên nhỏ ở Đông Ba chết 200 người, tôi đã nói: ‘Tôi đã đi trên những đường hẻm mà ban đêm tưởng là bùn, tôi mở ra bấm đèn lên thì toàn là máu …Nhất là những ngày cuối cùng khi chúng tôi rút ra …’. Chi tiết đó không sai, sai ở chỗ người chứng kiến chi tiết đó không phải là tôi, mà là tôi nghe những người bạn kể lại. Ở đây tôi là kẻ mạo nhận, một việc rất đáng xấu hổ, từ bé đến giờ chưa bao giờ xảy ra đối với tôi”. Hết dẫn.

Khi thú nhận mình “tôi là kẻ mạo nhận”, “một sự việc đáng xấu hổ”, ông Tường đã nhìn nhận mình “nói láo” với dư luận từ 1981 đến nay. Đây là cái “nói láo” thứ nhứt.

Năm 1981 ông khẳng định qua bài phỏng vấn truyền hình của đạo diễn Burchett rằng “chúng tôi”, tức gồm có ông Tường, có mặt ở Huế.

Lá thơ gọi là “lời cuối” của ông Tường thú thận rằng “chúng tôi” đó chỉ là “mạo nhận”.

Dẫn: “Ở đây tôi là kẻ mạo nhận, một việc rất đáng xấu hổ, từ bé đến giờ chưa bao giờ xảy ra đối với tôi.”

Mục đích việc thú nhận nhằm chứng minh ông ta không có mặt tại Huế.

Nhưng trong lá thơ ông Tường lại tiếp tục “nói láo”.

Bởi vì nhân chứng nhiều người đã lên tiếng. Những người ở Huế, qua các bài viết, hay tư cách nhân chứng. Tất cả đều cho rằng không hề hiện hữu cái “bịnh viện nhỏ” nào ở Đông Ba hết cả.

Bịnh viện nhỏ ở Đông Ba không hề hiện hữu. Vậy thì làm gì có việc “máy bay Mỹ đã thảm sát bệnh viên nhỏ ở Đông Ba chết 200 người”?

Vụ Mỹ thảm sát 200 người ở một bịnh viện Đông Ba, vụ này không khác vụ Mỹ Lai, lớn lao ở tầm “tội ác diệt chủng”, tại sao không có tài liệu, báo chí nào nước ngoài đề cập tới?

Thời đó báo chí nước ngoài (đói tin), chỉ đặc biệt chú ý tới tấm hình tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn chết tên đặc công Bảy Lớp. Không bài báo nào nói về “thảm sát 200 người ở bịnh viện Đông Ba”.

Ông Tường tiếp tục nói láo, bịa đặt, như đã liên tục từ 50 năm qua.

Qua lá thơ, ông Tường tiếp tục “khẳng định” lại một sự việc láo khoét, vụ “thảm sát bịnh viện Đông Ba”, trong vụ phỏng vấn của ông Burchett.

Ta có thể lý giải việc này ra sao?

Nếu ta có xem video phỏng vấn HPN Tường 1981, ta không thể quên cái “liếm mép” huyền thoại của ông Tường, cũng như thái độ ngạo mạn, xấc xược trong những câu trả lời của ông đối với phóng viên.

Theo các nhà khoa học về “criminologie – phân tích tội ác”, cử chỉ “liếm mép” trước khi trả lời thường là dấu hiệu báo trước một lời “trả đũa”. Phần nhiều không nói sự thật.

Thật vậy, ta thấy ông Tường tỏ vẻ vừa cay cú, vừa bất an, khi phóng viên hỏi về “thảm sát Mậu Thân”. Bởi vì phóng viên biết rõ ông Tường là thủ phạm giết (ít nhứt) hai người Mỹ và một người Pháp tại “tòa” Tiểu chủng viện.

Cái “liếm mép” của ông Tường, sau đó với thái độ xấc xược mà mọi người đã thấy trong Video, ông Tường “đốp chát” với phóng viên, trả lời “một tội ác” bằng một tội ác (dội bom bịnh viện Đông Ba của Mỹ).

Vụ dội bom bịnh viện Đông Ba là chuyện bịa đặt của ông Tường trong lúc nhứt thời. Vì địa danh “bịnh viện Đông Ba” làm gì có?

Ông Tường đã tạo dựng một chuyện tội ác của Mỹ để (gián tiếp) bào chữa cho tội ác (của mình) và quân cách mạng.

Điểm này không khác vụ ông Nhứt Hạnh tố cáo Mỹ bỏ bom giết chết 300.000 người dân ở Bến Tre! (Dân Bến tre thời đó chưa tới 100.000, lấy đâu ra con số người chết 300.000?)

Ông Tường là một “chuyên gia” nói láo.

Nói láo liên tục từ 1981 đến nay. Bây giờ thú nhận mình nói láo thì đã trễ tràng. Điều này chỉ khẳng định mình đã nói láo.

Bây giờ qua lá thơ “lời cuối”, ông Tường tiếp tục nói láo.

Khẳng định một sự kiện không có thật (vụ Mỹ bỏ bom chết 200 người ở bịnh viện nhỏ ở Đông Ba) là nói láo trên cả nói láo.

Ông Tường làm sao có thể phản biện được chứng cứ của Bác sĩ A. Vannema. Bởi vì BS Vannema là “nhân chứng”, người “biết rõ ông Tường và ông Xuân”.

Danh sách “đồ tể” ở Huế chắc phải dài lắm. Tại sao Bác sĩ A. Vannema chỉ ghi có 4 tên, trong đó có ông Tường và ông Xuân mà không ghi những tên khác?

Đơn giản vì bác sĩ A. Vannema “biết rõ” hai ông này!

Một lần bất tín vạn sự chẳng tin. Ông Tường, qua lá thơ “lời cuối”, lại tiếp tục nói dối.

Làm gì có chuyện “đường hẻm lầy lội toàn là máu”. Làm gì có bịnh viện nhỏ ở Đông Ba. Làm gì có vụ Mỹ bỏ bom giết 200 người ở bịnh viện Đông Ba?

Nhưng nhiều người, như các ông Nguyễn Công Khế, Nguyễn Quang Lập, Hồ Trung Tú, Nguyễn Trung Dân… chỉ “tin” vào lời nói của ông Tường mà không tin ở các nhân chứng, các bằng chứng lịch sử.

Ông Tường bắt buộc phải nói láo, cho đến hết cuộc đời. Bởi vì ông này trách nhiệm đến những cái chết của người Mỹ, người Pháp.

Ông Tường nói ra sự thật, không chỉ cá nhân ông Tường sẽ bị truy tố trước các tòa án ở Mỹ, Pháp. Quan hệ VN với Mỹ, Pháp… vấn đề “tù nhân mất tích”… đều có thể bị Mỹ đặt lại.

Thái độ của các ông Nguyễn Quang Lập, Hồ Trung Tú, Nguyễn Công Khế, Nguyễn Trung Dân vì vậy ta có thể hiểu: ăn cơm chúa phải múa tối ngày.

Như đã nói, thông lệ quốc tế, những hồ sơ mật sau 50 năm thì được công bố. Nhưng hồ sơ Mậu Thân 1968 CSVN không thể công bố. Những bí mật của nó cũng là bằng chứng tố cáo đảng CSVN phạm “tội ác chiến tranh”.

Ông Nguyễn Trung Dân, nhân có một số “comments” về một bài viết của tôi “tội ác Mậu Thân” trên trang facebook của tôi, có viết rằng “Trương Nhân Tuấn là dư luận viên cao cấp” vì đã “hướng dẫn dư luận” vụ thảm sát Mậu Thân.

Các loại phê bình kiểu này tôi đã quen thuộc.

Đảng CSVN đã rầm rộ tổ chức ăn mừng chiến thắng “tổng tấn công và nổi dậy” Mậu thân 1968. Cá nhân tôi, với tư cách “học giả phản động”, biệt hiệu của công an đặt cho, dĩ nhiên tôi “hướng dẫn dư luận” đến “sự thật”, mục đích “thiết lập lại công lý”.

Nếu tôi là “dư luận viên cao cấp”, chắc chắn tôi là “dư luận viên” hướng dẫn dư luận về phía “chân, thiện, mỹ”. Chớ không phải lấp liếm đổi trắng thay đen, biến nạn nhân thành thủ phạm, như những tên “nói láo như vẹm” rẻ tiền.

Riêng ông Hồ Trung Tú, mới đây viết những lời chúc tết đọc qua “té ghế”. Dẫn: “Đừng để tâm mình trụ vào bất cứ định kiến, chuẩn mực, chân lý, đúng sai hay sự thật nào thì tâm không phải chỉ tự do hơn mà còn gần với sự giác ngộ hơn”.

Không hiểu từ vượn lên người mất bao nhiêu triệu năm ? Ở VN, người xuống vượn chỉ có 50 năm!

Chỉ trong xã hội loài thú mới không “trụ” vào cái gì.

Xã hội bầy đàn thì không có “chuẩn mực” chi hết. Cũng không có khái niệm về “chân lý”, không biết việc “đúng sai”, không biết cái nào là gian dối, không biết đâu là “sự thật”. Xã hội như vậy lãnh đạo mới “ăn của dân không từ một thứ gì”. Xã hội như vậy ăn cắp không biết xấu hổ. Xã hội như vậy bằng giả là chuyện thường tình. Xã hội như vậy “bản năng” là “chuẩn mực” của cách hành sử giữa người và người.

Ông Hồ Trung Tú binh vực ông Tường qua những comments trên facebook của tôi chưa đủ. Ông tiếp tục bóng gió binh vực ông Tường, đả phá những người khác, bằng “lời giác ngộ” của loài vượn.

Một số comments khi đọc tài liệu của bác sĩ A. Vannema đều than rằng tội ác “không khác chi Khmer đỏ”.

Đúng vậy. 19 hố chôn tập thể được viết lại tỉ mỉ. Người chết bị trói tay sau lưng, bị bịt mắt, bị xỏ xâu, bị chôn sống, bị vật cứng đập vô đầu… Người chết có đàn bà, con nít, là sinh viên học sinh, là tài xế xe ôm…

Dã man nào bằng.

So sánh ta thấy tất cả, từ Khmer đỏ, vụ Mậu Thân 1968 hay diệt chủng người Rohingya ở Miến Điện, ta đều thấy phía sau là “phật tử”, nếu không là nhà tu.

Phật giáo từ bi xuất phát từ Tích Lan, Ấn Độ, loan truyền vào VN, qua ngả nào không cần bàn. Nhưng tuyệt đại dân chúng miền Nam, Phật hay Chúa, đều có tâm “từ bi hỉ xả”. Vấn đề Mậu Thân là “Phật giáo đã bị chính trị hóa”.

Thử tưởng tượng, vụ Mậu Thân, các tỉnh khác cũng có “phật tử mài dao” đông đảo, kiểu ông Tường, ông Xuân… ở Huế, chắc chắn sẽ phải có (rất nhiều) thảm sát – như ở Huế.

Thử tưởng tượng, nếu không có chiến dịch “tổng tấn công và nổi dậy”, thì sau 75 các “phật tử mài dao” kiểu ông Tường, ông Xuân… đã biến miền Nam thành “biển máu”.

So sánh vụ thảm sát Mậu Thân với Khmer đỏ là hoàn toàn đúng đắn. Xui cho bọn “phật tử mài dao” là họ không có “thiên thời và địa lợi” để phạm tội ác như Khmer đỏ.

Có comments thì chê trí thức “đỏ”, ông Tường, ông Xuân… là “hèn”, thua cả bọn khủng bố IS. Bởi vì bọn IS ít ra họ dám làm dám chịu.

Cũng thật là đúng quá!

Mà thử nhìn lại, ở VN lớp trí thức từ lò XHCN xuất thân, người “can đảm” hiếm hoi như “lá mùa thu”.

Đầu năm, mùng một tết Mậu Tuất 2018, viết lại những điều tưởng rằng đã bị chôn vùi từ 50 năm.

Tôi sẽ tiếp tục viết để “giải mã” đâu là sự thật của “chiến thắng” Mậu Thân 1968, “tổng tấn công và nổi dậy”. Bọn “lợn ỉ trung ương” tổ chức ăn mừng “chiến thắng” rầm rộ. Đám dư luận viên rẻ tiền chụp mũ tôi là “dư luận viên hướng dẫn dư luận”. Nhưng không ai trong đám ngu xuẩn này dám đặt vấn đề vì đâu bọn tuyên giáo lại chủ trương bốc c. lên “ăn mừng”?

Bình Luận từ Facebook

1 BÌNH LUẬN

  1. Bài viết của ông Nguyễn Văn Lục trên đàn DCVOnline:

    HỎI HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG: “AI LÀ QUÂN NỔI DẬY?”

    Nguyễn Văn Lục

    Cái này để dân Huế hỏi tội ông. Ai và những ai là quân nổi dậy ở Huế? Thưa ông Hoàng Phủ Ngọc Tường?
    Cách đây gần 3 năm, ngày 16/9/2015, cũng trên DCVOnline.net này, tôi đã viết một bài với nhan đề “Trường hợp Hoàng Phủ Ngọc Tường” để cho thấy rằng: một mặt ông khẳng định ông không có mặt ở Huế trong dịp tết Mậu Thân qua bài phỏng vấn của Thụy Khuê nhân dịp ông đến Paris (“Nói chuyện với Hoảng Phủ Ngọc Tường về biến cố Mậu thân Huế”, RFI, 12 tháng 7, 1997). Nhưng năm 1982, trên đài truyền hình WGBH– TV ở Boston của Mỹ trong chương trình “Vietnam: A Television History” đoạn “Tet, 1968; Interview with Hoang Phu Ngoc Tuong” ông đã xác nhận ông có mặt ở Huế và nói như với tư cách một người đại diện chính quyền cộng sản.

    Để chứng tỏ rằng, người ta không vu khống cho Hoảng Phủ Ngọc Tường, mời bạn đọc theo dõi nguyên đoạn phim 15 phút của WGBH-TV Boston phỏng vấn HPNT ngày 29 tháng 2, 1982, “Interview with Hoang Phu Ngoc Tuong, 1982” sau đây để thấy rõ ai là nạn nhân của ai?

    Trích đoạn:
    “Tôi đã đi trên những, những đường, đường hẻm mà ban đêm. Tôi tưởng là bùn, thì tôi mở ra, bấm đèn lên thì toàn là máu, lầy lội như vậy…Nhất là những ngày cuối cùng khi chúng tôi rút ra…” 5’57”- 6’14”
    Cái lỗi lầm của ông là đã mạo danh hay ông nghĩ rằng muốn làm vừa lòng đảng, ông phải nói như thế ở ngôi thứ nhất, xưng tôi, như người trong cuộc để lên án Mỹ và Việt Nam Cộng hòa.

    Bài viết của tôi khi ấy chỉ nhằm chứng tỏ ông nói mâu thuẫn “tiền hậu bất nhất” nếu không nói thẳng ra là ông đã nói dối. Tôi không đặt vấn đề ông giữ vai trò gì ở Huế hoặc ông đã làm gì ở Huế và không có một lời kết án ông một cách vô bằng cớ.
    Thái độ của tôi đối với ông cũng như của đa số dân miền Nam, trong đó có dân Huế coi ông là người thuộc phía bên kia. Chúng tôi chống cộng sản cũng như ông chống phá miền Nam – những người Quốc gia – mà trước đó ông là một thành phần. Và đó là sự chọn lựa của ông.

    Những thành phần đi theo cộng sản như ông đã dẫn đường, chứa chấp, cung cấp và nhất là làm chi điểm cho quân “giải phóng” để giết hại quân dân cán chính miền Nam. Phải gọi ông là gì cho xứng đáng đây khi các ông miệt thị gọi chúng tôi là bọn Mỹ– Ngụy? Cùng lắm có những người có sự xung động tình cảm gọi ông là thành phần “phản bội” hay “ăn cơm Quốc Gia thờ ma cộng sản”. Điều đó cũng không sai lắm đâu.
    Điều đó làm tôi thắc mắc mãi. Trong đợt tổng công kích đợt hai, tháng 5, tại khu Ngã Tư Bảy Hiền. Một anh Việt cộng bị tiểu đoàn 7 nhảy dù bắt làm tù binh. Tay anh bị trói ra đằng sau. Không ai ra lệnh, môt anh lính nhảy dù đã đút cho người linh Việt cộng ăn hết một cái bánh chưng! Chuyện giết chóc tạm gác lại và trước mắt chỉ là một người lính bị thương và đang đói.
    Ông Hoàng Phủ Ngọc Tường nghĩ gì, các bạn đọc nghĩ gì về hai cách ứng xử của đôi bên. Cảnh ấy còn gặp nhiều lần ở những nơi khác

    Cứ theo lẽ thường, như một người bạn tôi tâm sự cho biết, nếu anh ấy biết được các ông làm chỉ điểm để giết hại bố của anh ấy thì chắc hẳn, anh sẽ tìm đủ cách để giết lại kẻ đã giết hại cha mình. Chuyện ấy xem ra cũng là chuyện bình thường, có vay có trả.
    Nhưng xem ra dân Huế, nhất là những người có bố mẹ anh em bị cộng sản giết hại trong dịp tết Mậu Thân mà nay để cho bọn nằm vùng ấy sống phởn phơ ở Huế thì tỏ ra người dân Huế “hiền” quá.
    Đáng lẽ phải có chuyện trả thù và nếu phải có đổ máu thì giờ này ông Hoàng Phủ Ngọc Tường đang ở đâu?
    Tuy nhiên, những người bênh vực ông, cũng như ông, dù biết có gian trá, không một người nào có can đảm nói thẳng, nhìn nhận ông đã nói dối. Vì thế, lập luận của họ cứ quanh co, úp mở, không thuyết phục được ai. Đã mấy chục năm có lẻ, ông vẫn cố tình che dấu sự thật để cho người đời nguyền rủa, chửi bới, lăng mạ, bôi nhọ đủ kiểu.
    Cho nên, ông đã khổ sở bị bạn bè nghi ngờ, bị người đời nguyền rủa, sống trong sự nhục nhã, hiểu lầm. Và nếu có một cái được gọi là bi kịch thì bi kịch ấy do chính ông dựng lên.
    Nay thì ông đã nhìn nhận mình đã nói dối. Sao ông hèn và thiếu can đảm như vậy? Nếu ngay từ đầu ông dám nói thật thì đâu đến nỗi bị người đời nguyền rủa. Ông cũng sẽ giống như Lê Văn Hảo, Thích Đôn Hậu, bà Tuần Chi, Trần Vàng Sao, chẳng ai thèm đá động tới.
    Vì thế, tất cả những ai bênh vực ông đặt vấn đề như “Bi kịch đao phủ Mậu Thân”, “Bi kịch Hoàng Phủ Ngọc Tường” như của Ngô Minh. Hay như “Hội chứng chính nghĩa” hay “Bi kịch của Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là bi kịch của chúng ta” trong Tiếng chim báo bão của Tiêu Dao Bảo Cự, hay Nguyễn Quang Lập, viết sau “Lời cuối cho câu chuyện quá buồn” đều rơi vào tình trạng đồng lõa gián tiếp, toa rập với Hoàng Phủ Ngọc Tường.

    Cộng đồng người Việt hải ngoại đã lên tiếng về trường hợp Hoàng Phủ Ngọc Tường và tùy theo mức độ hiểu biết, mức độ hận oán đôi khi quá cực đoan, kết án nhiều khi vô bằng. Điển hình là ông Liên Thành, một cựu thiếu tá cảnh sát ở Huế. Phần lớn những lời kết án của ông Liên Thành đều thiếu bằng cớ, đặt những người như Hoàng Phủ Ngọc Tường ở một vai trò quá quan trọng mà thực sự nếu họ có vai trò gì thì chỉ là vai trò “bù nhìn”, vai trò tay sai, vai trò chỉ điểm, vai trò dẫn đường.
    Trong lá thư của ông, ông tỏ vẻ khinh miệt ông Liên Thành. Điều đó, tốt hơn hết, ông nên nhìn lại tự bản thân mình đã làm được điều gì? Cái mà ông đã làm, dưới mắt tôi, ông chỉ là một tên phá hoại.
    Vì Hoàng Phủ Ngọc Tường nay đã nhận lỗi, nghĩa là có tội nên những chữ dùng như Bi Kịch Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là bi kịch của chúng ta, Hội chứng chính nghĩa, Một câu chuyện quá buồn đều trở thành vô nghĩa.
    Nếu có bi kịch là bi kịch của mấy người, của những kẻ đã trót theo cộng sản rồi bị lừa. Nào phải bi kịch của chúng tôi? Và làm thế nào bi kịch của Hoàng Phủ Ngọc Tường lại chuyển sang bi kịch của chúng ta được? Buồn cười thật!
    Những tâm trạng của Đặng Tiến, Ngô Minh, Tiêu Dao Bảo Cự thì không thể bắt người khác chia xẻ một cách ngây ngô và lố bịch như vậy.
    Các ông cứ việc buồn, nhưng chúng tôi không thể chia xẻ cái buồn ấy được. Đó là việc của các ông và đừng chủ quan tưởng rằng chúng tôi cũng chia xẻ cùng tâm trạng ấy.
    Nay thì ván bài đã lật ngửa! Vào lúc cuối đời – tuổi đã 81, biết mình không qua khỏi – ông Hoàng Phủ Ngọc Tường, bí danh là Thuyết, đã nhận lỗi trong một lá thư đề ngày 1– 2– 2018. Nhận lỗi vì ông đã hăng hái “bảo vệ cách mạng”! Nhận lỗi vì “hành động giết oan” của quân nổi dậy.

    Đối với tôi thì ông “không đủ tư cách” gì để đứng ra xin lỗi thay cho quân “nổi dậy” “giết oan”. Cái bi kịch của đời ông là do chính ông với cá tính hoang tưởng và cao ngạo, tưởng mình “ngon” khi được Hà Nội phong tước Tổng thư ký trong Liên Minh các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ và Hòa Bình bên cạnh Lê Văn Hảo và bà Tuần Chi cũng như những người khác như Thích Đôn Hậu, Nguyễn Đóa và Tôn Thất Dương Tiềm.
    Có người bênh vực ông với bài viết “Cái họa của người nổi tiếng”. Thiếu gì người nổi tiếng. Cái nổi tiếng của Hoàng Phủ Ngọc Tường tuyền là tiếng xấu chứ nào có tiếng tốt.
    Vì thế, tôi không nghĩ như vậy. Cái họa nổi tiếng của ông nếu có của ông là cái họa vạ miệng.

    Nói cho cùng, cái tổ chức của Hoàng Phủ Ngọc Tường do cộng sản dựng lên tồn tại được bao lâu? Hai tháng? Nó cũng chỉ là một sản phẩm được Hà Nội ngụy tạo như trước đây với MTGPMN.
    Cho nên, sự có mặt hay không có mặt của ông ở Huế không làm thay đổi số phận của những người dân Huế vô tội.
    Trong một dịp sang Montréal, tôi không nhớ năm nào, nhưng chỉ biết là nhân dịp lần đầu tiên ông Thích Nhất Hạnh về Việt Nam – một cán bộ cộng sản đã từng tập kết ra Bắc rồi trở lại Huế nằm vùng từ năm 1965, cũng là bạn đồng chí của Hoàng Phủ Ngọc Tường – nhà văn Tô Nhuận Vỹ với tư cách một người cầm bút phía bên kia đã nói với tôi tại nhà:
    “Các anh ở ngoài này đã đánh giá sai vai trò của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Khi họ nhảy núi, chính tôi là người tiếp đón họ.”
    Tôi nghĩ, ông Tô Nhuận Vỹ có cái lý của ông vì ông hiểu rõ tổ chức, cơ cấu của Đảng cộng sản.
    Những tước vị được phong chỉ là truyện “phong thần”, chuyện bánh vẽ. Chỉ những kẻ ngu muội mới tin là thật. Hoàng Phủ Ngọc Tường lại ngây thơ tin là thật. Nguyễn Đắc Xuân cũng tin là thật vênh váo với hai chữ Ủy viên của Mặt trận.
    Ngày hôm nay, cần khẳng định việc xin lỗi của ông chỉ là lời tự bào chữa, xin lỗi cho cá nhân ông. Ngay cả ý kiến của ông Lê Minh, người trực tiếp có mặt trong trận đánh Mậu Thân ở Huế cho rằng cần giải oan cho những nạn nhân ở Huế cuối cùng cũng chẳng có tác dụng gì.

    Mọi quyết định giết ai, tha ai đều đến từ Hà Nội. Nên muốn giải oan hay không cũng đến từ Hà Nội và chỉ Hà Nội mới có quyết định. Nguyễn Đắc Xuân đòi giải oan thì đó là việc của cá nhân ông. Hà |Nội vẫn quyết định ăn mừng chiến thắng Mậu Thân kể chi đến cuộc thảm sát ngoài Huế. Đó là trách nhiệm tinh thần mà người Huế phải làm cho bằng được.

    Cho nên, tất cả những bi kịch của Mậu Thân ở Huế không nên đổ lên đầu Hoàng Phủ Ngọc Tường vì một lẽ giản dị ông không có một chút quyền hành gì ở mặt trận Huế và không thể nào một mình Hoàng Phủ Ngọc Tường gánh cho nổi.

    Nó là cả một chiến dịch chuẩn bị từ 3 năm trước. Mà người quyết định chính là Lê Duẩn, nằm ở Hà Nội. Trên chiến trường, quyết định đánh hay không đánh, giết hay không giết là từ những người như tướng Trần văn Quang, Lê Chương và Lê Minh.

    Và cái người đáng nguyền rủa, đáng kết tội là những người chỉ huy ở trên. Cho nên, Hoàng Phủ Ngọc Tường có mặt ở Huế hay không ở Huế thì điều đó chẳng thay đổi được gì.

    Nếu kết án Hoàng Phủ Ngọc Tường thì phải kết án luôn cả một tập đoàn đông đảo trí thức Huế cộng với các thầy tại Từ Đàm. Họ là những Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đính, Trần Thị Ngọc Dư, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Lê Văn Tài, Lê Văn Hảo, Đào Thị Yến, tức bà Tuần Chi, Nguyễn Thiết, Thich Đôn Hậu, Phạm Thị Xuân Quế, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm.

    Rồi chẳng bao lâu nữa sau khi ông nằm xuống người ta có thể tha thứ cho ông, nhưng quên thì không thể nào quên được

    Vài lời cuối

    Đối với đa số dân chúng miền Nam cũng như dân chúng Huế, họ coi những thành phần đi theo cộng sản như ông, những người đã dẫn đường, đã chứa chấp, đã cung cấp và nhất là làm chi điểm cho quân “giải phóng” để giết hại quân dân cán chính miền Nam tại Huế năm 1968, như kẻ thù mới phải. May là họ đã không coi các ông là kẻ thù. Điều đó mới là lạ.
    Đáng lẽ, phải có một cuộc “tắm máu” những bọn nằm vùng.

    Phải lấy làm lạ, hay là may mắn người dân Huế vô tội đã không hành xử như vậy. Phải nghĩ, đó là cái may mắn cho các ông. Như trường hợp của người bạn tôi, nếu biết được các ông đã chỉ điểm để giết hại bố của anh ấy thì chắc hẳn anh sẽ tìm đủ cách để giết lại kẻ đã giết cha mình.
    Xem ra dân Huế, nhất là những người có bố mẹ anh em bị cộng sản giết hại trong dịp tết Mậu Thân mà nay để cho bọn “nằm vùng” ấy sống phởn phơ ở Huế cho thấy dân Huế “hiền” quá.
    Ông còn được thong thả ngồi xe lăn là một điều may mắn cho ông rồi.

    Nhưng chứng nào vẫn tật ấy. Gần đất xa trời rồi mà ông vẫn chưa biết thực sự hối cải. Ông vẫn cúi đầu, bợ đỡ đảng, thờ lạy một thần tượng đã mục rữa ở hang Pắc Pó khi ông cho rằng những người dân Huế bị giết oan do quân nổi dậy, chứ không phải do quân “giải phóng”.
    Ngoài bọn nằm vùng như ông, làm gì có quân nổi đậy. Thêm một lần nữa, đây là một thái độ hèn nhát, bỉ ổi chạy tội cho đảng.

    Cái này để dân Huế hỏi tội ông. Ai và những ai là quân nổi dậy ở Huế? Thưa ông Hoàng Phủ Ngọc Tường?
    © 2018 DCVOnline
    http://www.dcvonline.net/2018/02/14/…-quan-noi-day/

BÌNH LUẬN

Xin bình luận ở đây
Xin nhập tên của bạn ở đây