Sự thích nghi của các thể chế độc tài trong kỷ nguyên số: Từ mô hình Trung Quốc đến thực tiễn Việt Nam (*)

Asia Times

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh

8-5-2026

Vào đầu những năm 2000, nhiều nhà quan sát phương Tây tin rằng Internet sẽ là “liều thuốc độc” cho các chế độ độc tài, vì thông tin tự do sẽ phá vỡ thế độc quyền tuyên truyền. Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh điều ngược lại: Các quốc gia như Trung Quốc và Việt Nam đã không chỉ tồn tại mà còn học cách “vũ khí hóa” không gian mạng để củng cố quyền lực.

Mô hình Trung Quốc: Kẻ độc tài tiên phong trong lĩnh vực “kỹ thuật số”

Trung Quốc không chỉ xây dựng Vạn lý Hỏa thành (Great Firewall) để ngăn chặn, mà còn phát triển một hệ sinh thái kiểm soát chủ động bằng nhiều hình thức.

Theo nghiên cứu của Gary King, thay vì phí sức tranh luận với những người bất đồng chính kiến, chính quyền huy động “Dư luận viên 50 xu” để tạo ra 448 triệu bài đăng mỗi năm nhằm ca ngợi chế độ, khơi dậy tinh thần dân tộc. Đây chính là Chiến lược Đánh lạc hướng (Strategic Distraction).

Ngoài ra, Bắc Kinh cũng Sử dụng các nền tảng như Douyin để biến các cơ quan công an, chính quyền địa phương thành những “nhà sáng tạo nội dung”. Họ dùng âm nhạc, hình ảnh cảm động và các xu hướng (trends) để lồng ghép tư tưởng một cách tự nhiên. Giới quan sát gọi đây là chiến lược tuyên truyền phi tập trung (Decentralized Propaganda).

Mục tiêu Trung Quốc đề ra để kiểm soát không phải để ngăn người dân biết sự thật, mà để ngăn họ biết rằng những người khác cũng biết sự thật đó, từ đó triệt tiêu khả năng tập hợp lực lượng. Và để kiểm duyệt tri thức phổ thông, Bắc Kinh siết chặt quản lý mạng lưới diễn viên, người của công chúng, KOLs bằng nhiều phương thức tập hợp tuyên truyền.

Thực tiễn ở Việt Nam: Tiếp thu và thích nghi với mô hình kiểm duyệt số

Việt Nam thường được xem là đi sau Trung Quốc trong việc áp dụng các phương thức kiểm soát, nhưng có sự điều chỉnh để phù hợp với một môi trường mạng mở hơn. Facebook, YouTube, TikTok vẫn hoạt động ở Việt Nam thay vì bị chặn hoàn toàn.

Hà Nội học tập Bắc Kinh ở việc để các lực lượng chức năng (như Công an, Quân đội) nắm quyền chủ đạo trong việc quản lý không gian mạng. Lực lượng 47 và mạng lưới KOLs chính là phiên bản “nâng cấp” từ mô hình dư luận viên của Trung Quốc. Chúng ta có thể xem đây là hình thức chuyển đổi từ mô hình “Công an trị” truyền thống đến “Công an trị số”:

Để áp dụng trực tiếp mô hình “Đánh lạc hướng chiến lược” từ Bắc Kinh, Hà Nội xây dựng Chiến lược “Lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Bằng cách xây dựng mạng lưới 1.000 KOLs tích cực, chính quyền muốn tạo ra một dòng thác thông tin chính thống để nhấn chìm các tiếng nói phản biện.

Sau khi Trung Quốc ban hành Luật An ninh mạng (2017), Việt Nam cũng nhanh chóng thông qua Luật An ninh mạng (2018) với nhiều điểm tương đồng về yêu cầu lưu trữ dữ liệu và kiểm soát nội dung.

Tại sao mô hình này lại “thành công”?

Sự chuyển dịch từ “ngăn chặn” sang “làm tràn ngập” (Flooding) mang lại lợi ích kép cho cả Bắc Kinh và Hà Nội.

Thứ nhất, nó sẽ giúp giảm chi phí chính trị. Việc bắt bớ quá nhiều sẽ gây phản ứng quốc tế, nhưng việc dùng KOLs hay video TikTok để định hướng, lại tạo ra vẻ ngoài của một sự đồng thuận xã hội.

Thứ hai, cả chính quyền Trung Quốc và Việt Nam đều hiểu rằng thuật toán mạng xã hội ưu tiên tương tác. Bằng cách huy động lực lượng đông đảo tương tác vào các bài viết “tích cực”, họ khiến các nội dung này luôn xuất hiện trên trang đầu của người dùng.

Sự thích nghi của các thể chế độc tài trong kỷ nguyên số cho thấy một tương lai phức tạp hơn cho dân chủ. Việt Nam không chỉ đơn thuần là “copy-paste” từ Trung Quốc, mà đang nỗ lực tinh vi hóa các bài học đó trên các nền tảng quốc tế. Khi tuyên truyền không còn mang dáng vẻ khô khan của các văn bản hành chính mà mang gương mặt của những KOLs trẻ trung, sức mạnh kiểm soát của nhà nước trở nên khó nhận diện nhưng lại hiệu quả hơn bao giờ hết.

_______

Ghi chú: (*) Đây là tiêu đề tôi chọn tiếng Việt và là bản tiếng Việt trước khi được Asia Times đã biên tập thành bài “Trung Quốc và Việt Nam xài chung kịch bản tuyên truyền để kiểm soát không gian mạng.”

Bình Luận từ Facebook

2 BÌNH LUẬN

  1. Flooding, (những) người đầu tiên làm chiện này là trí thức Việt trong nước, vì đủ đk. Flooding bởi những người tạm-gọi-là có tên tuổi sẽ thống trị dư lựn, nói chung . “tài năng” của Bảo Ninh, Bùi Chát, Nguyễn Ngọc Chu … là những ví dụ điển hình . Khi những thứ đó bị soi mói, ngay lập tức 1 đạo quân chích đùi được huy động . Yes, half of it done (even) more damage, nhưng điều này tạo ra được 1 appearance về 1 sự đồng thuận rất tâm thần nào đó về những stable geniuses. Problem (seem 2b) solved

  2. Người Dân VN cảm tháy NHỤC NHÃ vì ĐCSVN ” CÁI GÌ CŨNG BẮT CHƯỚC ĐCSTQ ” nhưng TOÀN BẮT CHƯỚC NHỮNG CHUYỆN XẤU XA TỦI NHỤC.
    Thấy Trung Quốc Thành lập Nhà Nước ĐỘC TÀI do Đảng Cộng Sản TQ toàn quyền cai trị thì ĐCSVN cũng cho lập Nhà Nước ĐỘC TÀI y như Trung Quốc.
    Thấy cái Hiến Pháp của CSTQ có GHI CÁC QUYỀN CĂN BẢN của CON NGƯỜI nhưng CHỈ ĐỂ ” TÔ VẺ CHO CÓ “thì ĐCSVN CŨNG LÀM Y NHƯ VẬY.
    Nay thấy Tập Cận Bình có 2 Chức Vụ, TBT và CTN thì Tô Lâm cũng VỘI LÀM Y NHƯ VẬY ( và đi sang ” chầu ” báo cáo TQ gần đây )
    Thấy CSTQ ĐÀN ÁP CÔMG DÂN ĐÒI TỰ DO DÂN CHỦ thì Nhà Nước CSVN CŨNG ĐÀN ÁP TẠI VfGN.
    Thấy CSTQ CHO THEO DÕI các cơ sở, nhân viên bước ngoài thì CSVN CŨNG RA LỆNH CHO côn an LÀM NHƯ VẬY
    Nhưng tại VN, có lẽ côn an VN NGHÈO nên KHÔNG CÓ ĐỦ TIỀN ĐỂ VÀO NƠI TRÌNH DIỂN CA NHẠC CAO CAP và KHI ĐI DÒ XÉT NHÀ CỬA NHẬN THẤY BỒN CÂU QUÁ XINH ĐẸP nên ĐA NGỒI ĐÓ BÊN BỒN CẦU ma “THƯỞNG THỨC” HÚT THUỐC nên ĐÃ ĐỂ LẠI TÀN THUỐC trong phòng vệ sinh.

BÌNH LUẬN

Xin bình luận ở đây
Xin nhập tên của bạn ở đây