Đài Loan: Dân chủ hóa bằng cách phân biệt nơi chốn xuất xứ

Trương Nhân Tuấn

11-9-2025

Hình như không phải chỉ có mình tôi là bị ám ảnh bởi “quá trình dân chủ hóa Đài Loan”. Những học giả Âu, Mỹ… là những người “tiên phong”, đi trước trong việc khảo cứu quá trình này. Những câu chuyện về “Bốn con rồng Châu Á” (gồm Đài Loan, Nam Hàn, Hồng Kông và Singapore) đều đến từ các học giả Âu, Mỹ.

Cá nhân tôi theo dõi vấn đề Đài Loan chậm hơn nhiều, chỉ vào những năm đầu thập nhiên 90 thế kỷ trước. Tuy nhiên tôi có nhận định khác hẳn, nếu không nói là trái ngược với hầu hết các học giả đương đại. Tôi cho rằng yếu tố “phân biệt vùng miền, phân biệt nguồn gốc” ở Đài Loan là động cơ chính đã thúc đẩy quá trình dân chủ hóa Đài Loan đến thành công. Dĩ nhiên còn những yếu tố quan trọng khác, như việc chuyển giao quyền lực từ Tưởng Kinh Quốc qua Lý Đăng Huy.

Để ý, tôi thấy nhiều người phê bình tôi “phân biệt vùng miền”, thực ra là không phải. Việc đòi hỏi quyền lực nhà nước phải được phân bố công bằng cho đại diện các khối dân chúng khác biệt là một đòi hỏi chính đáng.

Ở Đài Loan, quyền lực nói là tập trung vào Tưởng Giới Thạch và Quốc dân đảng, nhưng thực chất quyền lực này được phân chia cho những người đến từ lục địa sau 1949. Người Đài Loan, gồm nhiều khối dân chúng có “căn cước” khác nhau, tất cả đều “chầu rìa”. Còn ở Việt Nam, khi nói “tổng bí thư phải là người Bắc kỳ biết lý luận”, có khác gì Đài Loan thời Tưởng Giới Thạch “quyền lực phải thuộc về dân gốc lục địa” đâu!

Đài Loan, sau khi nhượng đứt cho Nhật năm 1895, Nhật đã áp dụng chính sách “đồng hóa” mạnh mẽ. Dân Đài buộc phải nói tiếng Nhật. Chương trình giáo dục Đài Loan 100% là chương trình tiếng Nhật. Trong chiến tranh, 200 ngàn quân Đài Loan phục vụ cho quân đội Thiên hoàng. Dân Đài Loan được Nhật nâng lên hàng “thuộc dân”, có quyền lợi chỉ dưới dân Nhật một chút nhưng đứng trên các sắc dân khác như Hàn hay Mãn. Đài Loan được Nhật đầu tư rất nhiều vào công – kỹ nghệ. Sau 50 năm thuộc Nhật, hầu hết dân chúng Đài Loan chỉ nói tiếng Nhật mà không nói (hoặc nói mà ít) tiếng Hoa. Điều này có khác gì Nam kỳ thuộc Pháp 80 năm?

Đến khi Nhật thua trận 1945, trả lại Đài Loan (và Bành Hồ) cho Trung Hoa, Tưởng Giới Thạch gởi quân ra tiếp thu nhưng đạo quân này không được tiếp đón niềm nở. Bởi vì họ “lôi thôi”, nghèo đói và vô cùng tham nhũng. Một chính sách “tẩy trừ tàn dư Nhật bản” được thực hiện trong sắt máu. Tiếng Nhật bị cấm và tiếng Hoa áp đặt cho mọi sinh hoạt.

Đến ngày 28 tháng 2 năm 1947 thì xảy ra một vụ thảm sát. Thành phần chống đối, vốn là trí thức Đài Loan (chỉ nói tiếng Nhật), bị thảm sát cùng nhiều thành phần dân chúng khác. Hàng chục ngàn người bị giết và xác bị quăng xuống biển. Điều này có khác gì chuyện đã xảy ra ở miền Nam sau 1975?

Tuy ở một mức độ “nhẹ” hơn, vì không có “thảm sát”, nhưng hành vi đưa hàng triệu quân nhân, công chức VNCH cũ đi cải tạo, một cách sát nhân êm ái về tinh thần, thì có khác gì đâu? Tài sản dân miền Nam bị kiểm soát. Một số bị tước đoạt qua các cuộc “cải tạo công thương nghiệp, cải tạo tư sản…” Số còn lại bị lột sạch qua các cuộc đổi tiền.

Dân Đài Loan vốn gồm nhiều lớp dân có căn cước khác nhau. Người bản địa, thuộc giống dân Nam đảo, chỉ còn không tới 2%. Lớp di cư từ lục địa vào thế ký 15, 16… lớp người này đến từ Phúc Kiến, có sắc dân Khách gia. Lớp người này tự nhận là “dân bản địa”, hiện nay chiếm khoảng 16% dân số. Lớp người Hán từ lục địa, đi cư vào thế kỷ 18, 19 chiếm khoảng 45%. Lớp dân này tự nhận là dân “bản xứ”. Còn lại khoảng 35% là dân “lục địa”, đến sau 1945. Có khác gì dân “đàng trong”, pha lẫn Việt, Thượng, Miên, Chàm, Minh hương (người Hoa thờ nhà Minh)… đâu?

Quá trình dân chủ hóa Đài Loan thành công là do khuynh hướng “Đài Loan hóa” trỗi dậy mạnh mẽ trong dân chúng. Khi Tưởng Kinh Quốc qua đời 1988, phó tổng thống Lý Đăng Huy lên thay thế. Lý Đăng Huy là một người gốc “bản địa”, được đào tại bài bản ở Nhật, nói tiếng Nhật rành hơn tiếng Hoa.

Từ thời điểm này chính sách “Đài Loan hóa” bắt đầu. Những Đại biểu quốc hội từ lục địa, tức những người đắc cử trong cuộc tổng tuyển cứ năm 1946, có nhiệm kỳ “vĩnh viễn”, nhớ không lầm là chiếm tới 2/3 Quốc hội Đài Loan. Những người này bị buộc phải từ bỏ chức vụ và quyền hạn. Thế vào đó là các cuộc tổng tuyển cử tự do, cho phép các đảng “bản địa Đài Loan” như Dân chủ Tiến bộ (thành lập năm 1986), được phép ứng cử.

Quá trình dân chủ hóa Việt Nam không thành công là vì nguyên tắc “tứ trụ” được chế độ củng cố. Mỗi miền được chia mỗi “trụ”, ai cũng có phần. Vấn đề là, quyền lực thực chất thì tập trung vào tổng bí thư. Quyền lực của tam trụ còn lại thực tế chỉ là bù nhìn.

Tôi không hề phiền vì nhiều người chỉ trích tôi phân biệt vùng miền. Nhưng nếu có chút hiểu biết về lịch sử dân chủ hóa các nước gọi là “bốn con rồng”, ta thấy Việt Nam gần gũi nhiều với Đài Loan. Miền Bắc là lục địa. Miền Nam là Đài Loan. Có bao giờ dân Đài loan chịu đồng hóa họ với dân lục địa đâu? Có khác gì “Bắc kỳ 54” với “Bắc kỳ 75” đâu?

Nếu chuyện phân biệt vùng miền đem lại dân chủ hóa thì tôi vẫn tiếp tục chuyện này.

Bình Luận từ Facebook

1 BÌNH LUẬN

  1. Dân bk 75 bây giờ cũng ngán ngẩm đám bk sau này, sau mấy chục năm quen hơi quen chỗ và bk 75 nghiễm nhiên tự xem họ là “dân nam bộ” và họ cùng với bk 54 tẩy chay lũ mọi mới vào Nam sau này, hãy về Đồng Nai mà xem lũ mọi sống thế nào, đi ngang 1 lần éo thèm quay lại, móa nó, vào nơi văn minh mà éo học được gì, tởm lợm ớn chè đậu.

BÌNH LUẬN

Xin bình luận ở đây
Xin nhập tên của bạn ở đây