Yêu thương nòi giống

Tạ Duy Anh

20-3-2025

Theo thông tin chính thức từ VTV1, với 5 triệu hộ kinh doanh và khoảng 1 triệu doanh nghiệp, khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện tạo ra 41 triệu việc làm, đóng góp cho ngân sách 30% và chiếm hơn 51% GDP.

Nhưng nếu xét về khả năng tiếp cận cũng như tỉ lệ phân bổ nguồn lực, kinh tế tư nhân mới chỉ như vị thế của đứa con ngoài giá thú, thậm chí là con bị bỏ rơi.

Trong khi đó, từ cách đây hơn 10 năm, ông Nguyễn Trần Bạt đã dày công nghiên cứu để đi đến khẳng định, VIỆC LÀM chứ không phải TĂNG TRƯỞNG quyết định sự bình yên của xã hội. Mà kinh tế tư nhân là khu vực tạo ra nhiều việc làm nhất, hiện chiếm tới 82% tổng số việc làm của cả nước. (Giả sử số doanh nghiệp lên tới 2 triệu, thì con số trên còn hấp dẫn đến đâu).

Ý kiến của ông Bạt được ghi nhận ở mức “bổ sung” vấn đề cần tranh luận cho một số thành viên trong “tổ tư vấn” chính sách, thuộc Học viện Chính trị Quốc gia.

Cũng thời đó, ông Nguyễn Tấn Dũng là người quan tâm nhiều nhất đến kinh tế tư nhân, sau khi dự án “những quả đấm thép” có nguy cơ làm khánh kiệt nội lực quốc gia, trái với mục tiêu đề ra ban đầu. Ông Dũng cho thấy ông là người khá phức tạp, khi vừa muốn tập trung xây dựng các Tập đoàn Kinh tế Nhà nước, vừa muốn tạo cơ hội biến kinh tế tư nhân thành “động lực” của phát triển. Nhưng không hiểu vì lý do gì, mong muốn sau của ông Dũng chỉ ở mức độ của những tuyên bố.

Giờ là lúc cả ông Bạt và ông cựu thủ tướng, đều ít nhiều được “mát mặt” khi cuối cùng ý kiến và mong muốn của họ đã có người biến thành hiện thực: Kinh tế tư nhân lần đầu tiên chính thức được đặt ở vị trí tiên phong! Dù quá chậm và đáng để tiếc nuối, nhưng muộn còn hơn không.

Quan điểm của ông Tô Lâm về kinh tế tư nhân, như những gì đọc được công khai, thực sự là một cuộc “vượt qua”. Trước hết nó bỏ lại phía sau một đống những thứ không dùng được vào việc gì, nhưng luôn được đặt ở những vị trí trang trọng nhất, chiếm mất khoảng không gian quan trọng nhất cho việc hít thở tự do chỉ để sinh tồn. Nếu dùng hình ảnh dễ hiểu và sát nghĩa hơn, thì nó giống như tấm biển chỉ hướng PHẢI ĐI, cứ đi kể cả biết rằng cuối cùng sẽ lao xuống vực!

Nếu những gì ông Tô Lâm nói ra mà thành hiện thực, thì người Việt chỉ cần biết yêu thương nòi giống nữa thôi, là đủ để con em không cần lang bạt kì hồ kiếm sống, trong muôn vàn cay đắng!

Ông Tô Lâm nói nhiều câu đáng để trích dẫn. Nhưng có một câu đáng trích dẫn nhất, thì lại ít người để ý. Trong một hội nghị có đưa tin trên truyền hình, ông Tô Lâm nói không nhìn vào giấy, đại ý: “Nếu tạo đủ công ăn việc làm trong nước, đảm bảo thu nhập, thì cần gì phải xuất khẩu lao động. Những người lao động ở nước ngoài cũng khổ cực lắm chứ chả sung sướng gì đâu“. (Tôi để ý thấy lãnh đạo Bộ LĐTB&XH, người luôn hãnh diện về thành tích xuất khẩu lao động cúi nhìn xuống bàn).

Đây thực sự là một thay đổi lớn về tư duy phát triển. Dù mới chỉ là các tuyên bố, tôi cảm nhận thấy có nhiều điều mới mẻ ở phía trước.

Tôi thiển nghĩ, mọi chính sách thúc đẩy sự phát triển đều phải thẫm đẫm lòng yêu thương, tôn vinh nòi giống! Bởi xét cho cùng người Việt mà không thương được người Việt, thì-qua những gì đang diễn ra trên thế giới- đừng mong có ai khác ở đâu đó thương mình. Thì chỉ còn lại nỗi tuyệt vọng và bất hạnh mênh mông.

Bình Luận từ Facebook

6 BÌNH LUẬN

  1. 1. Đặng Tiểu Bình thường được biết đến như một “kiến trúc sư chính của quá trình hiện đại hóa và phát triển kinh tế Trung Quốc”, nhưng ít người biết, những châm ngôn hành động nổi tiếng nhất như thuyết “mèo đen, mèo trắng” hay “mò đá qua sông” lại không hoàn toàn là “phát kiến” của ông. Nó được ông học hỏi từ Lưu Bá Thừa, một người cộng sự chiến trường thân thiết suốt 13 năm của Đặng Tiểu Bình.
    Thuyết “mèo đen, mèo trắng” xuất phát từ câu “mèo vàng, mèo đen, chỉ cần bắt được chuột đều là mèo tốt” của Lưu Bá Thừa trong thời gian ông cùng sát cánh với Đặng Tiểu Bình những năm 1930-40 trong cuộc vạn lý trường chinh. “Mò đá qua sông” cũng là câu mà Lưu Bá Thừa đã nói. Thời kỳ lập nước Trung Quốc mới, tướng Lưu Ái Bình nhận lệnh xây dựng trường quân sự, trước khi đi đã đến thỉnh giáo Lưu Bá Thừa. Lưu Bá Thừa nói: “Tôi cho đồng chí sáu chữ và cần phải ghi nhớ. “Hãy mò đá để qua sông””. Đặng Tiểu Bình đã áp dụng chính châm ngôn này trong thời kỳ cải cách mở cửa, khi “mở một con đường máu” là các đặc khu kinh tế.
    2. Nhưng chuyện các “ý tưởng lớn” này có phải là phát kiến của riêng ông hay không, đối với Đặng Tiểu Bình, dường như không quan trọng. Ông chưa bao giờ muốn làm nổi bật mình trước tập thể. Chưa từng chính thức giữ các chức vụ nguyên thủ của Trung Quốc, ông luôn “thực sự cầu thị”, không cần hư danh, luôn biết cách lùi lại phía sau, miễn làm sao “được việc là được”. Khi chết, ông được hỏa táng và rải tro cốt xuống biển. Ông có thể xem là một người Cộng sản thực dụng điển hình. Tiếp nhận chủ nghĩa Marx từ những năm 1920 ở tuổi 16-17 khi du học nghề ở Pháp, ông cũng từng được gửi đi học ở Liên Xô, nhưng với ông chủ nghĩa Marx-Lenin chưa bao giờ là một tín điều bất biến. Ông nói: “Học Marx-Lenin phải học cái tinh túy, phải biết áp dụng”, là sự liên hệ lý luận với thực tiễn, chính “thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý”. Với châm ngôn này, cùng với thuyết “mèo đen, mèo trắng”, chỉ những gì “có hiệu quả thực tiễn mới là tốt”, luận thuyết nọ, ý tưởng kia dù nghe có vẻ hay ho đến đâu, mà không áp dụng được trong thực tiễn thì phải ngay lập tức vứt bỏ, “không tranh luận” dài dòng. Ở điểm này có lẽ ông khá giống với Lý Quang Diệu của Singapore.
    3. Không phải là một người ưa lý luận, giáo điều, nhưng Đặng Tiểu Bình chưa bao giờ xem nhẹ vấn đề tư tưởng. Trong bản nhận xét của tổ chức về Đặng Tiểu Bình khi ông được gửi sang Liên Xô học, cho rằng, ông có hai thế mạnh là khả năng “tuyên huấn và tổ chức”. Đây có vẻ là nhận xét xác đáng, bởi sau đó, ông đã phát huy đầy đủ cả hai thế mạnh này ở thời gian trong quân đội, với vị trí chính ủy. Một điểm được Đặng đặc biệt lưu ý và luôn đề cao trong quân ngũ đó là “tư tưởng phải thông suốt”. Trước khi bước vào mỗi trận đánh, ngoài tất cả mọi sự chuẩn bị thường quy khác, ông đều phải chuẩn bị làm sao để “tư tưởng phải thông suốt” từ trên xuống dưới. Điều này, cũng được ông áp dụng nghiêm ngặt cho công cuộc cải cách, mở cửa kinh tế ở Trung Quốc sau này.
    4. Một điểm nữa không thể không nhắc đến ở Đặng Tiểu Bình đó là tầm nhìn “sáng suốt đến mức kinh ngạc” của ông về vai trò của “khoa học kỹ thuật và giáo dục”. Ông từng nói: “…khi ra nhận nhiệm vụ chúng ta có thể có hai thái độ, một là để làm quan, hai là để làm một chút gì đó”. Đến tháng 7/1977, sau khi được chính thức phục hồi lần ba, ở tuổi 73, Đặng Tiểu Bình đã quyết định “phải làm chút gì đó”, đó chính là “nắm khoa học và giáo dục”. Ngay sau khi được phục hồi lần ba, ông đích thân chủ trì quản lý công tác khoa học kỹ thuật của Trung Quốc. Lợi dụng tất cả các phương thức cũng như các học giả, chuyên gia trong và ngoài nước về mọi lĩnh vực để bàn bạc quy hoạch phát triển khoa học kỹ thuật cao của Trung Quốc.
    Nửa tháng sau, ngày 4/8/1977 Đặng Tiểu Bình đã tham dự cuộc tọa đàm về công tác khoa học kỹ thuật và giáo dục do Trung ương tổ chức. Tham gia tọa đàm có 33 chuyên gia, giáo sư nổi tiếng. Trong ngày đầu tiên của cuộc tọa đàm, ông chỉ đọc một bài khai mạc ngắn gọn, sau đó ông chỉ lắng nghe. Hàng ngày, 8 giờ sáng bắt đầu buổi họp, buổi trưa nghỉ rất ít rồi tiếp tục cho đến chiều tối. Rất ít lãnh đạo cấp cao có thể kiên trì ngồi nghe hàng giờ liền như vậy, đặc biệt ở thời điểm đó tại Trung Quốc, các chuyên gia, giáo sư vẫn bị xem là “đối tượng của chuyên chính của cải tạo”.
    Tháng 3/1986, một số nhà khoa học già nổi tiếng như Dương Đại Hoành, Vương Kiềm Xương, Dương Gia Tê, Trần Phương Doãn… đã đưa ra một “Kiến nghị về việc theo đuổi sự phát triển kỹ thuật cao của thế giới”. Đặng Tiểu Bình lập tức chỉ thị: “Kiến nghị này vô cùng quan trọng, trong việc này cần làm nhanh và quyết đoán, không thể kéo dài”. Sau chỉ thị của ông, Quốc vụ viện Trung Quốc đã xây dựng: “Kế hoạch phát triển nghiên cứu kỹ thuật cao của Trung Quốc” (gọi là “Kế hoạch 863” – nổi tiếng).
    Thực tế, ông đã theo đuổi mối quan tâm thúc đẩy phát triển khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc đến tận những năm cuối đời. Năm 1992, khi đi thăm miền Nam, ông nói: “Tôi nói khoa học kỹ thuật là sức sản xuất số một. Gần hai chục năm nay, khoa học kỹ thuật thế giới phát triển nhanh biết bao? Một đột phá trong lĩnh vực kỹ thuật cao sẽ kéo theo sự phát triển của một loạt ngành nghề khác. Mấy năm gần đây, liệu xa rời khoa học kỹ thuật có thể làm nước ta tăng trưởng được nhanh như vậy không? Phải đề xướng khoa học, dựa vào khoa học mới có hy vọng được”.
    Đặng Tiểu Bình rất ít khi nói mình thấy vui về vấn đề gì, thế nhưng, cũng trong chuyến đi thăm miền Nam năm 1992 ông đã bốn lần liên tục dùng từ “vui mừng” khi nói về khoa học kỹ thuật: “Làm khoa học kỹ thuật, càng cao càng tốt, càng mới càng tốt, càng cao càng mới, chúng tôi càng vui mừng. Không chỉ chúng tôi vui mừng mà nhân dân cũng vui mừng, nhà nước cũng vui mừng.”
    (Mọi thông tin, trích dẫn trong bài, nếu không ghi chú gì thêm thì đều được lấy từ cuốn: “Đặng Tiểu Bình – Một trí tuệ siêu việt” của Lưu Cường Luân và Uông Đại Lý, NXB Lao Động, 2006.)
    NĐK

  2. Câu hỏi của tác giả “Nhưng không hiểu vì lý do gì, mong muốn sau của ông
    Dũng chỉ ỏ mức độ của những lời tuyên bố” thì thật ra, cũng rất dễ hiểu khi
    tác giả đang là “thần dân” nước Việt Cs. Lâu nay, giới lãnh đạo này chuyên
    nghề hô khẩu hiệu, cực kỳ khôn khéo trong việc xử dụng miệng lưỡi để lên
    “giây cót” tinh thần cho dân chúng “thấp cổ bé họng” ở dưới !

  3. Hề… hề…, thưa ông Tô Lâm:
    1. Trước hết, ông hãy đấm thẳng vào mặt mấy thằng chó lợn (không có dấu “phảy” hoặc “và” giữa hai từ “chó”, “lợn”) mỗi khi các đời tổng bí thư có ý định gì đó thì chúng đều tru lên rằng thì mà là: “tổng bí thư vì nước thương dân”, nào là từ Nguyễn Văn Linh bật tín hiệu ngả hẳn sang Tầu, nào là từ Nguyễn Phú Trọng ngả hẳn vào mệnh đề “cùng chung vận mệnh, cùng chung tương lai” do bọn Tầu đề xướng và điên cuồng tới mức tàn nhẫn để trấn áp các tiếng nói phản biện. Từ Nguyễn Văn Linh cho đến Nguyễn Phú Trọng đều dựng nên các bọn NÂNG BI cho cá nhân mình: Nào là HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TW, nào là các hội cử tri địa phương…
    2. Vì thế, muốn yêu nước thương dân thực sự thì ông hãy bỏ qua bọn NÂNG BI và hãy cố hiểu các tiếng nói phản biện trong dân chúng (chứ đừng có điên cuồng chống phá họ, bất chấp trắng đen như Tổng Trọng) nhé!!!

  4. “Nếu tạo đủ công ăn việc làm trong nước, đảm bảo thu nhập, thì cần gì phải xuất khẩu lao động. Những người lao động ở nước ngoài cũng khổ cực lắm chứ chả sung sướng gì đâu“. Câu nói đó của TBT Tô Lâm đã nói lên sự thật mà nhiều người trí thức , doanh nghiệp và người dân đã thấy nhiều năm qua . Tư duy thực tiễn của ông Tô Lâm đã gạt bỏ bức màn tư duy kinh tế XHCN sách vở, quan liêu . Đã đổi mới đường lối kinh tế thị trường thị thành phần kinh tế tư bản tư nhân là trụ cột quan trọng. Bên cạnh đó cần có sự kiến tạo của nhà nước, thông qua hệ thống pháp luật tuân thủ quy luật kinh tế thị trường. Hy vọng VN sẽ khởi sắc trong nhiệm kỳ của TBT Tô Lâm .

  5. Tôi vẫn nhớ đến một thực tế đau lòng được kéo dài khá lâu, không biết bây giờ có còn vì không còn để ý nữa :
    1. Tại phi trường TSN, tong công đoạn về thủ tập nhập cảnh từ ngước ngoài vào, đối tượng bị vòi vĩnh chỉ là những người gốc Việt, người nước ngoài thì không bị, vậy ông Tạ Duy Anh thấy thực tế này có dính dáng gì đến tấm lòng “Yêu Thương Nòi Giống” không.
    2. Trước đây, cũng lâu lắm, những binh sĩ (một số), sĩ quan (hầu hết) của chế độ “Bên Thua Cuộc”, sau khi được đưa đi học tập cải tạo từ đôi ba ngày đến hàng chục năm, mặc dầu, trong số họ không ít người buộc phải phục vụ như những con chim trong lồng, con cá trong chậu thôi, sau khi được cải tạo trở về thì được quản thúc, chưa được nhập hộ Khẩu (hộ khẩu thời ấy quan trọng vô cùng trong mọi sinh hoạt đời sống ngoài việc nó mang một dấu chỉ “thành viên gia đình”), sống trong sự quản thúc, chưa được phục hồi quyền công dân, giống như một cuộc đời bên rìa xã hội, thì bỗng dưng một thằng thù địch, thằng giặc đế quốc lại mở cửa mời vô nhà nó (chương trình H.O) cho sống một đời sống với đầy đủ mọi tiêu chuẩn sống như “một con người”. vậy ông Tạ Duy Anh thấy chuyện đã qua này có dính dáng gì đến tấm lòng “Yêu Thương Nòi Giống” không. Hay theo tâm thức nhà văn của ông thì đó chỉ là hệ quả, có thể đau lòng, của sự khác biệt ý thức hệ mà thôi…

  6. Anh chị nào mà hãnh diện việc đưa dân đi làm lao nô thì anh chị ấy xứng hàng súc vật, cúi gằm mặt nuốt cái nhục những khi nghĩ đến núi tiền lợi nhuận thì cái nhục tan biến nhay thôi.

BÌNH LUẬN

Xin bình luận ở đây
Xin nhập tên của bạn ở đây