Làm thế nào để ‘vươn mình’? Phần 2: Tiên phong giữa hào quang và bi kịch

VOA

Thiều Quang Nguyên Phong

6-3-2025

Tiếp theo phần 1

Hình minh họa: Hồ Chí Minh (bìa phải), “người nổi lửa nhưng bất an vì viễn cảnh”; và Lê Duẩn (thứ hai từ phải), “đưa đến thống nhất nhưng tạo khủng hoảng toàn diện”. Ảnh chụp tại Hà Nội, năm 1966. Nguồn: AP

Cuộc cách mạng lệch chuẩn

Lịch sử là sân khấu của những cá nhân dám đi trước, mở đường cho những đổi thay vĩ đại. Nhưng tiên phong không đồng nghĩa với thành công. Một cá nhân dù có tầm nhìn rất xa cũng không thể tự xoay chuyển bánh xe lịch sử nếu thiếu sự đồng hành của dân tộc.

Có thể xem câu thơ ‘Vui gì hơn làm người lính đi đầu / Trong đêm tối tim ta thành ngọn lửa’ (Tố Hữu) như một khái quát về tinh thần dấn thân. Nhưng lịch sử đã chứng minh rằng, không phải ngọn lửa nào cũng đủ sức đốt lên bình minh vĩnh cữu. Đôi khi, nó chỉ giúp đoàn người thoát khỏi xiềng xích thực dân để rồi lại rơi vào một bi kịch khác dưới ách thống trị của ‘giai cấp mới’ cầm quyền. Cuộc cách mạng bị phản bội, những lời thề nguyền bị bỏ rơi, và lý tưởng ban đầu bị bóp méo để phục vụ cho những mục tiêu ngược lại với các giá trị dân chủ – cộng hòa.

Trong lịch sử Việt Nam hiện đại, bốn nhân vật – Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm, Lê Duẩn và Võ Văn Kiệt – đều là những người yêu nước theo cách của họ. Các nhân vật này Đó là những con người có ý chí mãnh liệt, nhưng mỗi cá nhân lại đối diện với một thực tế nghiệt ngã: dân khí chưa đủ mạnh, hệ thống chưa sẵn sàng, và thời đại cũng đặt ra những giới hạn khắc nghiệt của nó.

Hồ Chí Minh – Người nổi lửa nhưng bất an vì viễn cảnh

Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà cách mạng mà còn là một chiến lược gia hiểu sâu sắc về dân khí. Ông xuất hiện vào thời điểm mà dân tộc đang cần ý chí thống nhất để thoát khỏi xiềng xích thực dân, đế quốc. Thay vì đặt nặng truyền bá tư tưởng, Hồ Chí Minh tìm cách huy động và tổ chức quần chúng, xây dựng dân khí từ những phong trào cụ thể như Việt Minh.

Tuy nhiên, chính Hồ Chí Minh cũng không khỏi lo lắng về tương lai của dân tộc. Câu nói nổi tiếng của ông khi trả lời câu hỏi thuộc cấp – “Một bên Tây, một bên Tàu, bên nào đáng sợ hơn?” Câu trả lời của Hồ Chí Minh “Tây không đáng sợ, Tàu cũng không đáng sợ, mà đáng sợ nhất là các chú!” giống như bộc bạch về sự bất an vì hiểu rằng một cuộc cách mạng không kết thúc sau khi giành được chính quyền (2). Điều quan trọng hơn là liệu dân khí có đủ trưởng thành để duy trì và phát triển một quốc gia theo con đường dân chủ và cộng hòa vững bền hay không.

Những gì xảy ra sau năm 1945 và đặc biệt là từ sau 1954 cho thấy một nghịch lý: Cách mạng thành công về mặt giành độc lập, nhưng sự phát triển của dân khí lại không theo kịp những kỳ vọng ban đầu. Chính quyền tập trung quyền lực, tư tưởng tập thể lấn át tự do cá nhân, và thay vì tạo ra một xã hội khai phóng, Việt Nam bước vào giai đoạn chiến tranh triền miên. Hồ Chí Minh, dù là người thắp lửa, nhưng không thể kiểm soát hoàn toàn hướng đi của đám cháy ấy (3).

Ngô Đình Diệm – Ý chí độc lập bị cô lập

Nếu Hồ Chí Minh là người hiểu rõ sức mạnh của dân khí thì Ngô Đình Diệm lại là người đặt cược tất cả vào ý chí cá nhân và gia đình mình. Ngô Đình Diệm có khát vọng lớn lao về độc lập – ông muốn xây dựng một Việt Nam không bị lệ thuộc vào bất kỳ thế lực ngoại bang nào, dù là Mỹ hay Pháp.

Tuy nhiên, điểm yếu chí mạng của ông nằm ở chỗ ông không thể hòa hợp với những tầng lớp dân chúng đa dạng trong xã hội miền Nam. Trong khi Hồ Chí Minh dùng phương pháp vận động quần chúng thì Ngô Đình Diệm lại dựa vào hệ thống quyền lực mang tính gia đình trị và bảo thủ. Ông tự cô lập trong một vòng tròn quyền lực hẹp, khép kín, khó dung nạp được nhiều luồng tư tưởng khác nhau.

Kết quả là ông không chỉ bị cô lập về mặt chính trị mà còn mất đi sự ủng hộ cần thiết từ dân khí. Khi khủng hoảng nổ ra, chính những người lính từng trung thành với ông đã quay lưng. Ngày 2/11/1963, cái chết của Ngô Đình Diệm không chỉ là cái chết của một cá nhân, mà còn là minh chứng cho bài học lịch sử: Ý chí mạnh mẽ của một nhà lãnh đạo không thể cứu vãn nếu không có sự cộng hưởng từ dân tộc.

Lê Duẩn – Sau thống nhất là khủng hoảng toàn diện

Tổng bí thư Lê Duẩn là nhân vật then chốt trong giai đoạn đấu tranh thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội sau 1975. Ông mang trong mình ý chí mãnh liệt về một Việt Nam thống nhất, độc lập và đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Với Lê Duẩn, giải phóng miền Nam không chỉ là mục tiêu quân sự mà còn là biểu tượng cho sự tất yếu của cách mạng vô sản.

Tuy nhiên, khi chiến tranh kết thúc, Lê Duẩn đối diện với một thực tế đầy thách thức: Đất nước kiệt quệ sau chiến tranh lại phải liên tục đối diện với hai cuộc xung đột; nền kinh tế trì trệ và dân khí chưa đủ mạnh để bước vào giai đoạn phát triển. Mô hình kinh tế tập trung bao cấp mà ông lựa chọn nhanh chóng bộc lộ hạn chế, dẫn đến khủng hoảng kinh tế – xã hội nghiêm trọng trong thập niên 1980.

Lê Duẩn đã nỗ lực giữ vững ý chí cách mạng và đường lối tập trung quyền lực để duy trì sự ổn định chính trị. Nhưng chính sự tập trung quyền lực ấy lại làm giảm khả năng thích ứng và đổi mới cần thiết cho nền kinh tế. Khi ông qua đời năm 1986, đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng toàn diện, buộc những nhà lãnh đạo kế tiếp phải tiến hành công cuộc Đổi Mới. Lê Duẩn là minh chứng cho một người lính tiên phong có ý chí sắt đá, nhưng chưa thể đưa dân tộc vượt qua những giới hạn của hệ thống và bối cảnh thời đại (4).

Võ Văn Kiệt – Muốn thay đổi nhưng không thể vượt ngưỡng

Võ Văn Kiệt không phải là người khai sinh ra một chế độ, mà là người tìm cách điều chỉnh và đổi mới hệ thống hiện có. Nếu Hồ Chí Minh là người mở đường, Ngô Đình Diệm là người nỗ lực xây dựng một con đường riêng, Lê Duẩn là người kiên định đi đến cùng con đường của Hồ Chí Minh, thì Võ Văn Kiệt là người có ý muốn canh cải con đường ấy cả về kinh tế lẫn chính trị, dù vẫn bị ràng buộc bởi những giới hạn của hệ thống.

Võ Văn Kiệt nhìn thấy rõ những bất cập của mô hình kinh tế kế hoạch và là người mạnh dạn thúc đẩy công cuộc Đổi Mới năm 1986. Dưới sự lãnh đạo của ông, Việt Nam chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo ra một sự bùng nổ kinh tế và đưa hàng triệu người thoát nghèo.

Tuy nhiên, dù Võ Văn Kiệt có tư duy cải cách, ông không thể đi xa hơn khi đụng đến vấn đề chính trị. Ông hiểu rằng để Việt Nam phát triển bền vững, không chỉ cần đổi mới kinh tế mà còn phải có một cơ chế chính trị linh hoạt hơn, cho phép nhiều tiếng nói hơn. Nhưng hệ thống chính trị thời đó không cho phép ông thực hiện điều này. Dân khí tuy có thay đổi một phần, nhưng chưa đủ để tạo ra một sự chuyển biến toàn diện. Võ Văn Kiệt là người biết mơ về bình minh những không bao giờ được thấy mặt trời mọc.

Phát ngôn nổi tiếng của Võ Văn Kiệt về hiện tượng “có hàng triệu người vui nhưng cũng có hàng triệu người buồn” khi bàn về ngày 30/4/1975 cho thấy ông có một cái nhìn xa hơn về dân tộc – một cái nhìn bao dung và thực tế hơn sau khi ông rời chính trường. Nhưng tiếc thay, tầm nhìn ấy cho đến ngày nay vẫn chưa thể trở thành hiện thực, dù số con dân nước Việt hưởng ứng ý tưởng ấy cả trong lẫn ngoài Việt Nam ngày càng đông (5).

Đi đầu làm sao tránh độc hành?

Tất cả những nhân vật kể trên – Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm, Lê Duẩn và Võ Văn Kiệt – đều là những người lính tiên phong trên mặt trận lịch sử. Nhưng lịch sử không chỉ được tạo ra bởi những người đi đầu, mà còn bởi đoàn quân theo sau.

Hồ Chí Minh đã thắp lên ngọn lửa cách mạng, nhưng ông không thể kiểm soát được tất cả những gì xảy ra sau đó. Ngô Đình Diệm có ý chí mạnh mẽ nhưng bị cô lập vì không có sự cộng hưởng từ dân khí. Lê Duẩn kiên định theo đuổi lý tưởng thống nhất nhưng lại đối mặt với giới hạn phát triển sau chiến thắng. Võ Văn Kiệt nhìn thấy con đường đổi mới nhưng không thể thay đổi hoàn toàn hệ thống chính trị xơ cứng và bảo thủ.

Bài học ở đây là gì? Một người lãnh đạo quốc gia, dù xuất sắc đến đâu, cũng không thể thay đổi lịch sử nếu dân tộc không sẵn sàng đồng hành với họ. Nếu không có đoàn quân phía sau, người lính tiên phong có thể mãi chỉ là kẻ lầm lũi bước tới hư vô. Bộ máy tuyên truyền của Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng thường xuyên “tụng niệm” phép mầu này. Đáng tiếc là giữa lý luận của Đảng và thực tiễn của xã hội cách nhau một trời một vực (6).

Trong thời đại “số hóa” ngày nay, điều này càng trở nên rõ ràng hơn. Ý chí cá nhân không còn là yếu tố duy nhất có tính quyết định – mà chính dân khí, tư duy cộng đồng mới là những yếu tố làm nên sự bền vững của một quốc gia. Người lãnh đạo ở thế kỷ 21 không chỉ cần có tầm nhìn, mà còn phải biết cách tạo ra một môi trường nơi dân khí, dân trí và dân sinh cộng hưởng đủ mạnh để có thể phát triển và tự khẳng định vị thế quốc gia trong một môi trường địa – chính trị còn bất ổn dài dài.

(Kỳ cuối: Tô Lâm sẽ khởi được ‘Quẻ Càn’? – Tầm Nhìn Triết Lý ‘Thời Đại Số’)

Tham khảo:

(1) https://vanviet.info/thu-ban-doc/giai-cap-moi-cua-milovan-djilas/

(2) https://baophuyen.vn/76/9954/-dang-so-nhat-la-cac-chu-.html

(3) https://www.voatiengviet.com/a/phong-van-giao-su-nguyen-lien-hang-tac-gia-cua-hanois-war/1582198.html

(4) https://usvietnam.uoregon.edu/viet-nam-hau-chien-va-bai-hoc-ve-tu-do-tu-tuong-chu-nghia-tu-ban-mien-nam-va-chu-nghia-xa-hoi-mien-bac-trong-mat-tong-bi-thu-le-duan-sau-ngay-30-4-1975/

(5) https://nguoidothi.net.vn/tran-tro-nho-mot-tam-nhin-13984.html

(6) https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/vai-tro-trung-tam-cua-nhan-dan-trong-su-nghiep-cach-mang-cua-dang-va-dan-toc-nhung-bai-hoc-lich-su-va-cac-gia-tri-can-tiep-tuc-van-dung-sang-tao-trong

Bình Luận từ Facebook

3 BÌNH LUẬN

  1. 1. Đặng Tiểu Bình thường được biết đến như một “kiến trúc sư chính của quá trình hiện đại hóa và phát triển kinh tế Trung Quốc”, nhưng ít người biết, những châm ngôn hành động nổi tiếng nhất như thuyết “mèo đen, mèo trắng” hay “mò đá qua sông” lại không hoàn toàn là “phát kiến” của ông. Nó được ông học hỏi từ Lưu Bá Thừa, một người cộng sự chiến trường thân thiết suốt 13 năm của Đặng Tiểu Bình.
    Thuyết “mèo đen, mèo trắng” xuất phát từ câu “mèo vàng, mèo đen, chỉ cần bắt được chuột đều là mèo tốt” của Lưu Bá Thừa trong thời gian ông cùng sát cánh với Đặng Tiểu Bình những năm 1930-40 trong cuộc vạn lý trường chinh. “Mò đá qua sông” cũng là câu mà Lưu Bá Thừa đã nói. Thời kỳ lập nước Trung Quốc mới, tướng Lưu Ái Bình nhận lệnh xây dựng trường quân sự, trước khi đi đã đến thỉnh giáo Lưu Bá Thừa. Lưu Bá Thừa nói: “Tôi cho đồng chí sáu chữ và cần phải ghi nhớ. “Hãy mò đá để qua sông””. Đặng Tiểu Bình đã áp dụng chính châm ngôn này trong thời kỳ cải cách mở cửa, khi “mở một con đường máu” là các đặc khu kinh tế.
    2. Nhưng chuyện các “ý tưởng lớn” này có phải là phát kiến của riêng ông hay không, đối với Đặng Tiểu Bình, dường như không quan trọng. Ông chưa bao giờ muốn làm nổi bật mình trước tập thể. Chưa từng chính thức giữ các chức vụ nguyên thủ của Trung Quốc, ông luôn “thực sự cầu thị”, không cần hư danh, luôn biết cách lùi lại phía sau, miễn làm sao “được việc là được”. Khi chết, ông được hỏa táng và rải tro cốt xuống biển. Ông có thể xem là một người Cộng sản thực dụng điển hình. Tiếp nhận chủ nghĩa Marx từ những năm 1920 ở tuổi 16-17 khi du học nghề ở Pháp, ông cũng từng được gửi đi học ở Liên Xô, nhưng với ông chủ nghĩa Marx-Lenin chưa bao giờ là một tín điều bất biến. Ông nói: “Học Marx-Lenin phải học cái tinh túy, phải biết áp dụng”, là sự liên hệ lý luận với thực tiễn, chính “thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý”. Với châm ngôn này, cùng với thuyết “mèo đen, mèo trắng”, chỉ những gì “có hiệu quả thực tiễn mới là tốt”, luận thuyết nọ, ý tưởng kia dù nghe có vẻ hay ho đến đâu, mà không áp dụng được trong thực tiễn thì phải ngay lập tức vứt bỏ, “không tranh luận” dài dòng. Ở điểm này có lẽ ông khá giống với Lý Quang Diệu của Singapore.
    3. Không phải là một người ưa lý luận, giáo điều, nhưng Đặng Tiểu Bình chưa bao giờ xem nhẹ vấn đề tư tưởng. Trong bản nhận xét của tổ chức về Đặng Tiểu Bình khi ông được gửi sang Liên Xô học, cho rằng, ông có hai thế mạnh là khả năng “tuyên huấn và tổ chức”. Đây có vẻ là nhận xét xác đáng, bởi sau đó, ông đã phát huy đầy đủ cả hai thế mạnh này ở thời gian trong quân đội, với vị trí chính ủy. Một điểm được Đặng đặc biệt lưu ý và luôn đề cao trong quân ngũ đó là “tư tưởng phải thông suốt”. Trước khi bước vào mỗi trận đánh, ngoài tất cả mọi sự chuẩn bị thường quy khác, ông đều phải chuẩn bị làm sao để “tư tưởng phải thông suốt” từ trên xuống dưới. Điều này, cũng được ông áp dụng nghiêm ngặt cho công cuộc cải cách, mở cửa kinh tế ở Trung Quốc sau này.
    4. Một điểm nữa không thể không nhắc đến ở Đặng Tiểu Bình đó là tầm nhìn “sáng suốt đến mức kinh ngạc” của ông về vai trò của “khoa học kỹ thuật và giáo dục”. Ông từng nói: “…khi ra nhận nhiệm vụ chúng ta có thể có hai thái độ, một là để làm quan, hai là để làm một chút gì đó”. Đến tháng 7/1977, sau khi được chính thức phục hồi lần ba, ở tuổi 73, Đặng Tiểu Bình đã quyết định “phải làm chút gì đó”, đó chính là “nắm khoa học và giáo dục”. Ngay sau khi được phục hồi lần ba, ông đích thân chủ trì quản lý công tác khoa học kỹ thuật của Trung Quốc. Lợi dụng tất cả các phương thức cũng như các học giả, chuyên gia trong và ngoài nước về mọi lĩnh vực để bàn bạc quy hoạch phát triển khoa học kỹ thuật cao của Trung Quốc.
    Nửa tháng sau, ngày 4/8/1977 Đặng Tiểu Bình đã tham dự cuộc tọa đàm về công tác khoa học kỹ thuật và giáo dục do Trung ương tổ chức. Tham gia tọa đàm có 33 chuyên gia, giáo sư nổi tiếng. Trong ngày đầu tiên của cuộc tọa đàm, ông chỉ đọc một bài khai mạc ngắn gọn, sau đó ông chỉ lắng nghe. Hàng ngày, 8 giờ sáng bắt đầu buổi họp, buổi trưa nghỉ rất ít rồi tiếp tục cho đến chiều tối. Rất ít lãnh đạo cấp cao có thể kiên trì ngồi nghe hàng giờ liền như vậy, đặc biệt ở thời điểm đó tại Trung Quốc, các chuyên gia, giáo sư vẫn bị xem là “đối tượng của chuyên chính của cải tạo”.
    Tháng 3/1986, một số nhà khoa học già nổi tiếng như Dương Đại Hoành, Vương Kiềm Xương, Dương Gia Tê, Trần Phương Doãn… đã đưa ra một “Kiến nghị về việc theo đuổi sự phát triển kỹ thuật cao của thế giới”. Đặng Tiểu Bình lập tức chỉ thị: “Kiến nghị này vô cùng quan trọng, trong việc này cần làm nhanh và quyết đoán, không thể kéo dài”. Sau chỉ thị của ông, Quốc vụ viện Trung Quốc đã xây dựng: “Kế hoạch phát triển nghiên cứu kỹ thuật cao của Trung Quốc” (gọi là “Kế hoạch 863” – nổi tiếng).
    Thực tế, ông đã theo đuổi mối quan tâm thúc đẩy phát triển khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc đến tận những năm cuối đời. Năm 1992, khi đi thăm miền Nam, ông nói: “Tôi nói khoa học kỹ thuật là sức sản xuất số một. Gần hai chục năm nay, khoa học kỹ thuật thế giới phát triển nhanh biết bao? Một đột phá trong lĩnh vực kỹ thuật cao sẽ kéo theo sự phát triển của một loạt ngành nghề khác. Mấy năm gần đây, liệu xa rời khoa học kỹ thuật có thể làm nước ta tăng trưởng được nhanh như vậy không? Phải đề xướng khoa học, dựa vào khoa học mới có hy vọng được”.
    Đặng Tiểu Bình rất ít khi nói mình thấy vui về vấn đề gì, thế nhưng, cũng trong chuyến đi thăm miền Nam năm 1992 ông đã bốn lần liên tục dùng từ “vui mừng” khi nói về khoa học kỹ thuật: “Làm khoa học kỹ thuật, càng cao càng tốt, càng mới càng tốt, càng cao càng mới, chúng tôi càng vui mừng. Không chỉ chúng tôi vui mừng mà nhân dân cũng vui mừng, nhà nước cũng vui mừng.”
    (Mọi thông tin, trích dẫn trong bài, nếu không ghi chú gì thêm thì đều được lấy từ cuốn: “Đặng Tiểu Bình – Một trí tuệ siêu việt” của Lưu Cường Luân và Uông Đại Lý, NXB Lao Động, 2006.)
    NĐK

  2. Chỉ mong Việt Nam chỉ vươn mình, ưỡn ẹo xà nẹo, ngừa ngựa 1 chút thôi, chớ đừng có bay lên . Ở đâu ở yên chỗ đó hổng có nhúc nhích cục cựa gì cả . Trí thức nhà mềnh sợ Việt Nam bay mất thì chỉ còn họ ở lại cô đơn

  3. Theo mấy cha nội nầy thì cái chết của ông Ngô Đình Diệm là do chính ông gây nên.
    Ráo hoảnh chạy tội cho bọn việt cộng và đám ác tăng cũng như bọn ngưởi mỹ, đám tướng tá hám tiền phản chủ. Không trung thực thì mấy bài báo này đáng vất vào sọt rác. Lê Duẩn là người yêu nước thì bố mẹ ơi xin lạy mấy cụ biết mà lách như lươn chạch. Phần 1 còn coi được, từ phần 2 đã thấy có hơi hướm bọn giao điếm.

Comments are closed.