Nói lời phải chăng (Phần 5)

Chu Sơn

21-4-2025

Tiếp theo phần 1phần 2phần 3phần 4

Lãnh tụ đảng CSVN, ông Hồ lúc khoảng 70 tuổi (1960). Nguồn: AP

Chu Sơn: Dường như ông Tòng đã đẩy đi hơi xa câu chuyện mà chúng ta đã giới hạn từ đầu: Đề nghị ông Tòng trở lại với lực lượng thứ hai và Hồ Chí Minh đến thời điểm 1975.

Huỳnh Văn Tòng: Ông Chu Sơn đừng vội, không thể có một hiểu biết sơ lược về lực lượng thư hai đến thời điểm 1975 và trả lời chính xác câu hỏi thòng nhiều người đặt ra: “Liệu Hồ Chí Minh nếu còn sống đến thời điểm 1975 có tác động gì đến tình hình Việt Nam thời kỳ sau chiến tranh hay không?” Để trả lời câu hỏi này, chúng ta đưa sự quan sát của mình về nhân vật Hồ Chí Minh và sự cấu thành trên mặt nổi lực lượng thứ hai vào thời điểm hình thành mặt trận Việt Minh. Ông Chu Sơn nên kiên nhẫn một chút.

Sau khi chính thức về lại Việt Nam vào năm 1941, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh phục hồi lại vai trò lãnh tụ Đảng mà ông đã bị Trần Phú lật đổ chính thức vào tháng 10. 1930. Vào thời điểm này (1941),tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ bị Tây bắt và hy sinh tại miền Nam, trung tâm lãnh đạo đảng dời ra miền Bắc, Trường Chinh được bầu làm Tổng bí thư (1942), Võ Nguyên Giáp được giao nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang, Phạm Văn Đồng được giao nhiệm vụ gì tôi không biết, nhưng sự xuất hiện của ông sau cách mạng tháng 8. 1945 trong vai trò là người cầm đầu phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đi đàm phán tại Fontainebleau (1946), và là trưởng phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại hội nghị Genève (1954), chứng tỏ ông là một trong bộ tứ quyền lực thời kháng chiến chống Pháp: Hồ Chí Minh chủ tịch đảng kiêm chủ tịch nước, Trường Chinh tổng bí thư, Phạm Văn Đồng thủ tướng kiêm ngoại giao, Võ Nguyên Giáp bộ trưởng bộ quốc phòng, tổng tư lệnh quân đội. Tất cả những chức danh đó đều chính đáng, có thực quyền và do Hồ Chí Minh sắp xếp, điều động.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tại hội nghị Genève và trên các phương tiện truyền thông quốc tế, tên tuổi Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và cả Phạm Văn Đồng nổi lên như sóng cồn.

Lúc bây giờ Lê Duẩn còn là một lãnh tụ kháng chiến tại miền Nam, chưa có tiếng tăm gì trên miền Bắc và dư luận quốc tế. Lê Đức Thọ hoạt động cách mạng tại miền Bắc nhưng chưa phải là lãnh tụ hàng đầu, vẫn còn vô danh.

Năm 1957, vì vấn đề miền Nam và thống nhất, Lê Duẩn được gọi ra Hà Nội. Quyết định này chắc chắn phát xuất từ Hồ Chí Minh và ba nhân vật còn lại trong bộ tứ: Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp.

Từ 1957 – 1959 chúng ta không biết những vận động ngầm trong Đảng như thế nào, nhưng đến đại hội đảng lần thứ III (1960), mặc dù trên danh nghĩa Hồ Chí Minh vẫn là chủ tich đảng, nhưng thực tế quyền lực rơi vào tay hai người là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, một là tổng bí thư, một là trưởng ban tổ chức trung ương.

Mở đầu đại hội, Hồ Chí Minh đọc diễn văn khai mạc, Lê Duẩn đọc báo cáo chính trị (nghị quyết 15), Lê Đức Thọ đọc báo cáo điều lệ đảng sửa đổi.

Với nguyên lý trở thành giáo điều: Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, “nhân dân làm chủ”, Lê Duẩn là nhân vật có quyền lực tối cao, tuyệt đối và toàn diện. Sau Lê Duẩn là Lê Đức Thọ. Cuộc chiến tranh chống Mỹ diễn ra ngày một khốc liệt, chúng ta thấy hai nhân vật nữa lần hồi xuất hiện họp thành Bộ tứ quyền lực cao nhất trong đảng: Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng. Phạm Hùng là cánh tay nối dài của Lê Duẩn nắm Trung ương cục miền Nam sau khi Nguyễn Chí Thanh bị loại. Văn Tiến Dũng nép dưới quyền lực của Lê Duẩn tước thực quyền bộ trưởng quốc phòng của Võ Nguyên Giáp. Với quyền lực tối cao tuyệt đối và toàn diện, Lê Duẩn từng bước khống chế các nhân vật còn lại thuộc bộ chính trị, các ủy viên Ban chấp hành trung ương và cả chính phủ. Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp lần lược bị tước quyền, đều trở thành người thừa hành của tổng bí thư. Hồ Chí Minh tuy là chủ tịch nước, chủ tịch đảng, ở trên, nhưng ở ngoài trung tâm quyền lực do Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đứng đầu.

Do đâu có sự chuyển giao quyền lực từ bộ tứ anh hùng, vang danh thời chống Pháp qua bộ tứ ẩn danh thời chống Mỹ?

Hoàn toàn có khả năng Hồ Chí Minh và các ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp bị khuất phục bởi nội dung nghị quyết 15 do Lê Duẩn chủ trì soạn thảo, nên đã hoàn toàn tự nguyện giao quyền Tổng bí thư cho Lê Duẩn qua đại hội Đảng lần thứ III. Tại đại hội này Lê Duẩn chính thức nhận chức tổng bí thư qua việc đọc báo cáo chính trị tiếp theo diễn văn khai mạc của Hồ Chí Minh. Cũng có thể nói diễn văn khai mạc của Hồ Chí Minh thể hiện sự nhất trí trong đảng về vai trò lãnh đạo của Lê Duẩn. Tiếp liền theo báo cáo chính trị của Lê Duẩn là báo cáo điều lệ đảng sửa của Lê Đức Thọ.

Điều lệ đảng là luật pháp Đảng. Không nghiên cứu điều lệ đảng sửa đổi là không hiểu hết quá trình diễn ra đại hội đảng Cộng sản lần thứ III và sẽ khó trả lời câu hỏi vì sao có sự chuyển giao quyền lực vừa nêu. Theo tôi, có rất nhiều khả năng bộ tứ quyền lực thời chống Pháp: Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và những người cùng phe bị trói bởi điều lệ đảng sửa đổi do Lê đức Thọ đọc. Thực tế này về sau họ mới biết thì đã muộn.

Trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh lãnh đạo đảng bằng tài năng, đức độ, uy tín của người cha, người thầy (thể hiện qua việc ông tự xưng hô là Bác, và nhiều người gọi ông bằng Bác).

Trong kháng chiến chống Mỹ, Lê Duẩn và cả Lê Đức Thọ thâu tóm quyền lực cũng bằng tài năng, bản lĩnh, thêm vào đó là luật pháp đảng và cả bằng mưu mô thủ đoạn thể hiện qua Thư Vào Nam và việc khai thác đời tư (thât hay bịa đặt) do những thông tin mà người chủ trì cơ quan tình báo trung ương (Lê Dức Thọ và các đồng nghiệp kế tiếp) thu lượm, xử lí và tạo tác.

Tại đại hội VI, phe Võ Nguyên Giáp thua phe Lê Đức Anh chủ yếu cũng vì những thủ đoạn này. Để tranh giành quyền lực, người Cộng sản chẳng từ nan bất cứ hành vi, thủ đoạn tàn ác, xấu xa, đê tiện nào, không những đối với kẻ thù mà còn đối vớ đồng chí, đồng đội và nhân dân. Họ biện minh bởi một thứ triết lí hạ lưu: Cứu cánh biện minh cho phương tiến.

Bây giờ chúng ta tạm thời có cơ sở để trả lời câu hỏi nhảm nhí (xin lỗi ông Chu Sơn): Liệu Hồ Chí Minh còn sống đến 1975…?

Như chúng ta đã biết: Hồ Chí Minh từ trần ngày 2 hay 3 tháng 9 năm 1969 (2 hay 3 gì đó thì cũng “dĩ bất biến ứng vạn biến”). Sự ứng biến này Lê Duẩn học được từ Hồ Chí Minh. Khả năng Hồ Chí Minh “đi gặp ông Mác, ông Lê Nin” trước đó hai ba năm (từ khi ông bắt đầu viết di chúc), bộ tứ quyền lực thời chống Mỹ thấy ông và phe của ông (bộ tứ quyền lực thời chống Pháp) có chút trở ngại mà đảng muốn vất bỏ đi nhưng đã không làm . Như thế, về tất cả mọi phương diện, nếu Hồ Chí Minh còn sống đến năm 1975 (85 tuổi) sẽ không có tác động gì đến “Xu thế thời đại” do bộ tứ làm nên lịch sử – “Mùa Xuân đại thắng”và định hướng: Cả nước tiến lên chủ nghĩa Xã hội không kinh qua phát triển Tư bản chủ nghĩa. Con đường này Trần Phú với sự đưa đường chỉ lối của Đảng Cộng sản Liên Xô (do Stalin đứng đầu) qua Đệ tam quốc tế đã vạch ra trong luận cương của ông từ 1930.

Ông Chu Sơn thấy đó, ngay từ khi mới thành lập, lực lượng thứ hai – Đảng Cộng sản – đã tự phân rẽ làm hai. Sự phân rẽ này kéo dài cho đến tận ngày nay như tôi đã mô tả ở trên.

Không những thế, trong quá trình hình thành và phát triển, lực lượng thứ hai đã bắn ra khỏi mình những đồng chí thiếu kiên định lập trường quốc tế và đấu tranh giai cấp giáo điều, đã đẩy một bộ phận người yêu nước ra khỏi cuộc kháng chiến, đã gây thù kết oán với tất cả các đảng cách mạng và các giai tầng xã hội không Cộng sản khi xem họ là kẻ thù giai cấp cần bị tiêu diệt: Cải cách ruộng đất, rèn cán chỉnh quân, cải tạo công thương nghiệp, cải tạo văn hóa tư tưởng, cải tạo Ngụy quân, Ngụy quyền, đổi tiền, quốc hữu hóa ruộng dất, và đặc biệt là “chấm dứt vai trò lịch sử” của Mặt trận Giải phóng, của Phong trào đô thị (một trong hai mũi tiến công theo nghi quyết 15) và phong trào người Việt yêu nước ở hải ngoại. Đối tượng cuối cùng mà lực lượng thứ hai – Đảng Cộng sản, đã âm thầm thanh toán là những người chiến đấu trong hàng ngũ địch – những tình báo viên, và đặc biệt là giai cấp công nhân – lực lượng cách mạng nòng cốt trong cuộc cách mạng Tư sản dân quyền. Đây là thực tế quái gỡ, không ai ngờ – kể cả ông Chu Sơn, có phải không?

Chu Sơn: Đề nghị anh giải thích rõ hơn điều quái gở đó.

Huỳnh Văn Tòng: Cuộc cách mạng Tư sản dân quyền theo quan điểm của Quốc tế III và đảng Cộng sản Đông Dương qua luận cương tháng 10 năm 1930 của Trần Phú lồng trong cuộc kháng chiến vì độc lập dân tộc. Khi quân miền Bắc tiến chiếm dinh Độc Lập vào trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, đã khẳng định cuộc cách mạng ấy, cuộc kháng chiến ấy đã chấm dứt thắng lợi. Giai cấp công nhân trong thực tế của lịch sử Việt Nam chỉ xuất hiện trong lòng địch. Đảng Cộng sản Việt Nam quan niệm: “Những người chiến đấu trong lòng địch là nửa địch”. Lê Duẩn, Lê Đức Thọ chống Trung Quốc triệt để nhưng bê nguyên tư tưởng Mao Trạch Đông vào công cuộc thanh lý môn hộ trước khi bắt đầu cuộc cách mạng Xã hội Chủ nghĩa (bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa) long trời lở đất.

Ông Chu Sơn thấy đó, ngoài Nguyễn Văn Trổi đã chết, có người công nhân nào chiến đấu tại Sài Gòn và các thành thị miền Nam trở thành cán bộ lãnh đạo hay cán bộ “dự nguồn” của đảng Cộng sản đâu? Tất cả các cán bộ chủ chốt từ Trung ương xuống địa phương đều xuất thân từ nông thôn hết. Trong trường hợp cụ thể tại Việt Nam ngày nay: Cách mạng Xã hội chủ nghĩa thực chất là nông thôn hóa thành thị. Nông dân hóa đảng. Như thế là mấy triệu đảng viên gốc gác nông dân và nông thôn ấy đương đầu với cả dân tộc: Lực lượng thứ hai, đảng Cộng sản (hay đảng Nông dân) với mấy triệu đảng viên chưa quá 5% ấy đương đầu với 95% người Việt Nam còn lại.

Mỹ cút, Ngụy nhào – lực lượng thứ nhất đã thua.

Lực lượng thứ ba trá hình không còn lý do tồn tại.

Lực lượng thứ hai hiện nguyên hình là đảng Cộng sản đối đấu với cả dân tộc, lùa đẩy nhân dân đi vào con đường mà họ gọi là cuộc cách mạng Xã hội Chủ nghĩa long trời lở đất. Thực chất đây là cuộc xung đột ý thức hệ, cuộc chiến tranh kỳ quái giữa một bên là đảng Cộng sản nắm trong tay quá nhiều vũ khí (sản xuất từ ba nguồn: Nga – Tàu – Mỹ), không ít chiến lợi phẩm do Mỹ – Ngụy để lại, và toàn bộ của cải, tài nguyên của nhân dân và quốc gia (đường xá, phố chợ, công đường, nhà máy, hãng buôn, cơm áo gạo tiền, đất đai, núi rừng, sông biển, và một bên là đại đa số nhân dân (đã từng hậu thuẩn cho cả hai phe lâm chiến hoặc là nạn nhân giữa hai lằn đạn) bị tướt đoạt hết mọi thứ, chỉ còn lại hai bàn tay trắng với vũ khí là sự cam chịu, trốn chạy, sức ì và cả phá hoại.

Kết quả trước mắt là đảng Cộng sản đã thắng – nhân dân Việt Nam đã thua, đất nước Việt Nam tiến dần đến vực thẳm.

Chu Sơn: Theo anh Tòng thì Hồ Chí Minh không có trách nhiệm gì trước tình hình đất nước như anh mô tả là đang tiến dần đến vực thẳm ấy sao?

Huỳnh Văn Tòng: Ông Chu Sơn áp bức tôi rồi. Tôi chưa nói đến trách nhiệm của Hồ Chí Minh, chứ tôi không nói ông (Hồ Chí Minh) chẳng có trách nhiệm gì.

Nếu bảo độc lập – thống nhất là giá trị, là sứ mệnh to lớn “không gì quý hơn” mà dân tộc nhất thiết phải đạt được bằng tất cả sức lực, của cải của mình thì Hồ Chí Minh là người có công đầu. Ông Chu Sơn chú ý: Tôi nói Hồ Chí Minh là người có công đầu, chứ tôi không nói Hồ Chí Minh là thánh thần, là lãnh tụ anh minh, là nguyên nhân của mọi thắng lợi.

Nhưng nếu bảo độc lập – thống nhất nhất thiết phải gắn liền với tự do, hạnh phúc cho nhân dân và sự phồn vinh cho đất nước thì ông (Hồ chí Minh) phải chia phần trách nhiệm trước những sai lầm, tội ác do ý thức hệ xã hội Chủ nghĩa mà ông đã rao truyền và do đảng Cộng sản mà ông đã thành lập. Tôi nói những sai lầm, tội ác do đảng Cộng sản, chứ tôi không nói tất cả sai lầm, tội ác mà nhân dân và đất nước Việt Nam phải gánh chịu.

Theo tôi, đứng về phía dân tộc mà nói: Lịch sử Việt Nam cận, hiện đại là lịch sử của những sai lầm và tội ác phát xuất từ hai nguồn cội khác nhau: Thực dân – đế quốc với ý thức hệ Ky tô giáo – Tư sản thuộc địa và các thế lực phụ thuộc, tay sai là nguyên nhân đệ nhất. Ý thức hệ xã hội chủ nghĩa – phe Cộng sản, đảng Cộng sản Việt Nam là nguyên nhân đệ nhị. Đệ nhất, đệ nhị tôi nói ở đây thuộc về phạm trù thời gian và nguyên lí nhân quả – tương tác của hai lực lượng đối kháng. Tôi không hề có ý so sánh tầm vóc và mức độ của các thứ tội ác và sai lầm.

Theo tôi, chủ nghĩa Xã hội là thuốc, đảng Cộng sản là thầy thuốc trước căn bệnh nan y của thế giới và của đất nước, dân tộc: Nô lệ, đói nghèo và ngu dốt phát xuất từ nguyên nhân đệ nhất.

Điều bất hạnh là thuốc “Xã hội chủ nghĩa” chỉ là cao đơn hoàn tán lành ít dữ nhiều chứ không phải là linh dược như nhiều người nhầm tưởng và đảng Cộng sản rêu rao. Và thầy thuốc – đảng Cộng sản – có vai trò nhất định trong thời đoạn đấu tranh vì mục tiêu độc lâp – thống nhât. Nhưng đến thời đoạn “tiến lên xây dựng Xã hôi chủ nghĩa”, đảng đã trở thành tên lang băm sống bất lương trên lưng con bệnh Việt Nam kéo dài trong vô vọng.

Dù bản tâm lương thiện, động cơ ban đầu trong sáng (tôi nghĩ thế – nhiều người không nghĩ thế), Hồ Chí Minh phải chịu trách nhiệm trước những sai trái, tội ác do đảng của ông tạo nên với hậu quả lâu dài của nó.

Chu Sơn: Những hiểu biết về Hồ Chí Minh về đảng Cộng sản như anh Tòng vừa nói so với hồi trước 1975 có khác nhau không?

Huỳnh Văn Tòng: Xin lỗi ông Chu Sơn, ông đã tỏ ra ngớ ngẩn khi đặt câu hỏi như thế.

Nếu hồi 1973, lúc mới gặp ông, tôi chỉ biết về Hồ Chí Minh, về đảng Cộng sản chỉ bằng một nửa như thế này, chắc chắn tôi đã không làm gì với ông hết. Và như thế đã không có chuyện ngày 30 tháng 4 tôi có mặt tại dinh Độc Lập, tại đài phát thanh tiếp tay cho đảng Cộng sản để họ phản bội dân tộc, phá hoại đất nước như thế này.

Giả định rằng nhân dân Việt Nam biết trước mình sẽ bị phản bội thì Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản lấy gì để tiến hành hai cuộc kháng chiến?

Giả định rằng Hồ Chí Minh biết trước những gì từ 1975 đảng Cộng sản sẽ làm cho đất nước, cho nhân dân Việt Nam thì ông đã không sáng lập ra nó.

Không thiếu những ông cha, bà mẹ đã hối hận và thống khổ vì đã sinh đẻ nuôi nấng những đứa con hư đốn, ác độc, hèn hạ.

Theo tôi, chúng ta, nhân dân miền Nam, nhân dân Việt Nam trong đó có Hồ Chí Minh, đều là nạn nhân của một tấn tuồng bi thảm gọi là lịch sử cận hiện đại mà đảng Cộng sản là nhân vật phản diện làm chủ sân khấu màn cuối, tưởng chừng kéo dài đến vô tận.

(Còn tiếp)

Bình Luận từ Facebook

1 BÌNH LUẬN

  1. Lỗi này do CỐ nhà báo TS Huỳnh Văn Tòng nhập vào THÀNH PHẦN thứ 3 thực chất là vịt cộng nằm vùng tại Khoa Báo chí Học đại VẠN HẠNH trước 1975 tại Sài Gòn … bác TS Huỳnh Văn Tòng cứ học xong ở lại PHÁP thì chắc không có bao tang thương dâu bể

    CHUYỆN ngắn TRUYỆN dài ở PARIS Cuối Tháng TƯ Đen 2025
    Dược sĩ Marie Christiane HỒ

    (cháu b..oác HỒ ở Paris by Night !!! BẰNG GIẢ như CH..ÍCH CHÂN QUÀN..G (sư hổ mang này là CHÁU RUỘT gọi HỒ chủ tịT là BO..ÁC RUỘT !!!)
    Dược sĩ này đã lừa đảo hàng trăm người ở PARIS vì lợi ích của riêng mình

    https://www.youtube.com/watch?v=aFhGYa8wTyc

    Cette pharmacienne a arnaqué des centaines de personnes à son profit
    Dược sĩ này đã lừa đảo hàng trăm người vì lợi ích của riêng mình

    119.352 lượt xem 22 tháng 4 năm 2025

    Cô ấy có thể lừa được tất cả mọi người!

    Marie Christiane HỒ (cháu b..oác HỒ ở Paris by Night !!!)
    , một dược sĩ sống tại quận 11 của Paris, rất được lòng người dân địa phương, bị cáo buộc đã biển thủ hơn một triệu euro tiền an sinh xã hội… và thực chất bà ta chưa bao giờ là một dược sĩ.

    119 352 vues 22 avr. 2025

    Elle aurait trompé tout le monde ! Marie Christiane Ho, pharmacienne installée dans le 11eme arrondissement de Paris très appréciée dans son quartier aurait détourné plus d’un million d’euros à la sécurité sociale… et n’a en fait jamais été pharmacienne.

    https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2018/02/NPN-1.jpg
    TỶ LƯƠNG DÂN + HÀNG CHỤC TRIỆU LƯƠNG DÂN VIỆT

BÌNH LUẬN

Xin bình luận ở đây
Xin nhập tên của bạn ở đây