Trang chủ Quan Điểm

Quan Điểm

Kể điều bạn biết, nói điều bạn nghĩ

Khi bệnh ung thư có tên “đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước quản lý”, phát tán và di căn

Nguyễn Hồng

10-5-2018

Người dân Thủ Thiêm trưng bản đồ ra chất vấn lãnh đạo TP. Ảnh: Internet

Chiều ngày 09/05/2018, Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh khóa XIV (tổ số 7) đã có buổi tiếp xúc cử tri Q.2, địa bàn đang nóng hừng hực liên quan đến Khu Đô Thị Thủ Thiêm.

Không khí của buổi tiếp xúc cử tri cực ‘nóng’ khi có sự tham dự của rất đông người dân liên quan đến việc bị thu hồi đất thuộc dự án Khu đô thị mới Thủ Thiêm (Q.2, Tp.HCM). Địa điểm dùng làm nơi tiếp xúc cử tri Quận 2, khán phòng Trường Bồi dưỡng Chính trị quận 2 chật ních người.

Có tới 300 tù nhân chính trị tại Việt Nam

Hiếu Bá Linh, biên dịch

10-12-2019

Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng. Photo Courtesy

Ngày 09/12/2019 báo EU Observer, một tờ báo chuyên về châu Âu, đã đăng tải một bài báo với tựa đề “Zahradil ‘xung đột lợi ích’ đối với Hiệp định Thương mại EU-Việt Nam“, tố cáo ông Jan Zahradil, một nghị sĩ của Nghị viện châu Âu, người dẫn đầu các cuộc đàm phán về hiệp định Thương mại tự do EU với Việt Nam (hiệp định EVFTA).

Đất đai: Vàng và máu!

Ban Biên Tập

BNS Tự do Ngôn luận số 291

16-05-2018

Không ai có nỗi ám ảnh về đất đai như người Cộng sản, vì họ luôn có nỗi ám ảnh về quyền lực. Và một trong những phương thế để giữ quyền lực là sở hữu đất đai, kho vàng bất tận, nguồn phát sinh mọi của cải khác. Mà sở hữu đất đai theo quan niệm của họ là phải đoạt lấy bằng vũ khí, đồng thời làm cho những ai bị tước đoạt không có khả năng đòi lại.

Đống rác và giòi bọ

Nguyên Đại

20-12-2019

Những ngày cuối cùng của năm 2019, ĐCSVN (đảng) cho trình diễn “phiên tòa” xử hai bộ trưởng Nguyễn Bắc Son và Trương Minh Tuấn, với cáo buộc: dùng 800 triệu đô la Mỹ (hơn 16 ngàn tỷ VNĐ) vốn nhà nước mua lại một công ty tư nhân (AVG) đáng giá không tới 100 triệu đô (2 ngàn tỷ VNĐ), sau đó được chủ tịch công ty này (Phạm Nhật Vũ) “lại quả” cho tất cả các quan chức chưa tới 10 triệu đô.

Nền Dân chủ Tự do đang thoái trào?

Project Syndicate

Tác giả: Steven Pinker & Robert Muggah

Dịch giả: Đỗ Kim Thêm dịch

30-3-2018

Ảnh: Spencer Platt/ Gett Images

Mặc dù tình hình ở một số nước và một số thành phố đang xấu đi so với các nơi khác, nói chung, thế giới đang trở nên an toàn và thịnh vượng hơn. Chuyện khó tin nhưng có thật, đặc biệt là nó đúng đối với các nước dân chủ, nơi mức tăng trưởng kinh tế và phúc lợi nổi bật cao hơn. Các nền dân chủ cũng có khuynh hướng ít chiến tranh và diệt chủng hơn, hầu như không có nạn đói, và dân chúng có một nền giáo dục tốt hơn, sống khoẻ mạnh và hạnh phúc hơn.

Sóng ngầm trong chính trường Việt Nam trước thềm 2020

BTV Tiếng Dân

30-12-2019

Tổng – Chủ nhìn lại một năm “đốt lò”

Sáng 30/12, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tham dự Hội nghị của Chính phủ với các địa phương và có bài phát biểu chỉ đạo dài gần 50 phút. Zing dẫn lời Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng: Lần đầu tiên xử được tội nhận hối lộ.

Đặt dân vô sự đã rồi

Trương Minh Ẩn

27-5-2018

Chuyện “thu giá” ầm ĩ mấy ngày qua, đến nay vẫn chưa có hồi kết. Rất nhiều bài báo, bài viết phân tích, cho thấy sự ngu xuẩn, tráo trở của những tay lãnh đạo đề xướng và thực hiện, cùng với sự hài hước, kiểu mua vui cũng được… nhiều hồi trống canh”! Đỉnh điểm của “màn hài kịch” này là sự xuất hiện của ông nghị “cu Tý”. Tức ông đại biểu Nguyễn Đức Kiên, phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội. Ông ta phát biều bên hành lang Quốc hội vào chiều 23/05:

Mối quan hệ giữa Hồ Chí Minh và OSS

Đỗ Kim Thêm

8-1-2020

Hồ Chí Minh (thứ 3 từ trái sang – hàng đứng) và Võ Nguyên Giáp (thứ 5 từ trái) chụp cùng với OSS Deer Team. Nguồn: Wikipedia

Lúc 2 giờ chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945, một chiếc phi cơ Mỹ lượn một vòng trên bầu trời Hà Nội, có mang theo các nhân viên thuộc Sở Tình báo Chiến lược (Office of Strategic Services, OSS), tiền thân của Cơ quan Trung ương Tình báo (Central Intelligence Agency, CIA). Họ liếc mắt nhìn xuống Quảng trường Ba Đình và chăm chú theo dõi ông Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo đảng Cộng sản, đang đứng trước khán đài với rừng cờ đỏ sao vàng và tiếng hoan hô cuồng nhiệt của hàng trăm ngàn người Việt Nam tụ họp.

Khi nhân danh đại diện cho các phong trào tranh đấu giành độc lập dân tộc, ông Hồ tuyên bố là Việt Nam từ nay thoát khỏi chế độ thuộc địa của Pháp và chiếm đóng của Nhật. Dựa theo nội dung của bản Tuyên ngôn Độc lập của Thomas Jefferson, Tổng thống Hoa Kỳ, ông Hồ hô hào là tất cả mọi người được sinh ra bình đẳng, vì “Đấng Tạo hoá đã trao cho chúng ta quyền bất khả chuyển nhượng: quyền sống, quyền tự do và quyền được mưu cầu hạnh phúc“, và ông không đề cao việc xây dựng chủ nghĩa xã hội cho Việt Nam. Đây không phải là giây phút ngẩu hứng nhất thời, thực ra, ông đã dành nhiều thời gian và công sức để chuẩn bị cho diễn biến trọng đại này.

Ông Hồ tên thật là Nguyễn Sinh Cung, sinh quán tại làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, học đến hết lớp sáu tại Huế, từ bỏ gia đình và quê hương khá sớm và có lẽ là một trong những người Việt đầu tiên tham gia phong trào xuất khẩu lao động quốc tế. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, ông rời Sài Gòn trên chiếc tàu hàng Latouche-Tréville làm phụ bếp để mưu sinh. Khi đến Marseilles, ông viết thư cho chính phủ Pháp xin học trường Thuộc Địa, hy vọng đóng góp hữu ích cho thực dân Pháp và sử dụng kiều hối để giúp cho thân sinh là Nguyễn Sinh Sắc, đang lận đận công danh và khốn đốn trong đời sống lưu lạc tại miền Nam, nhưng Pháp không chấp thuận.

Đi qua nhiều thành phố cảng Bombay, New York, Boston và Luân Đôn, cuối cùng, trước khi Đệ Nhất Thế Chiến bùng nổ, ông quyết định dừng chân tại Paris để tìm một định hướng mới. Thành công vang dội của Cách mạng Tháng Mười Nga làm cho ông manh nha ý tưởng đấu tranh. Chuyển biến quan trọng cho cuộc đời của một người lao động tạp vụ như ông là khi làm quen được với vài người Pháp theo đảng Xã Hội. Cùng tham gia đấu tranh chính trị với họ trong một môi trường xa lạ là một trường hợp thành công đặc biệt, kể cả cho đến ngày nay, một người trí thức Việt thành danh tại Paris cũng không thể có cơ hội tương tự.

Bằng chứng đầu tiên lả khi ông Hồ xuất hiện trước Hội nghị Paris ngày 18 tháng 6 năm 1919 trong một thỉnh nguyện thư với tên Nguyễn Ái Quốc. Tuy không phải là tác giả, mà là một trong nhiều người cùng ký tên, ông kêu gọi công luận Pháp và Tổng Thống Woodrow Wilson, người đang tham dự Hoà đàm Versailles, với lời lẽ ôn hoà. Ông yêu cầu cho người Việt được bình đẳng trước pháp luật như người Pháp trong các quyền tự do lập hội và báo chí, đặc biệt nhất là đối với người Việt đi lính cho Pháp, nên được Pháp đối xử như người Maroc hay Ai Cập. Các vấn đề quyền dân tộc tự quyết hay độc lập cho Việt Nam không được nêu ra. Thỉnh nguyện thư này không gây được tiếng vang.

Nhưng tiếng vang đã đến. Khi tham dự Đại hội Đảng Xã hội Pháp tại Tours năm 1920, hình ảnh của ông, một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp, được phổ biến và ca tụng. Tuy vào Đảng, nơi duy nhất chống thực dân Pháp, nhưng ông chưa học tập lý thuyết Marx và phân biệt được các trào lưu của chủ thuyết Cộng sản, mà động cơ chính là để chống Pháp.

Không bao lâu sau, trong những bài báo Pháp ngữ dành cho tờ L’Humanité thuộc Đảng Cộng sản Pháp, với một bút danh tập thể là Nguyễn Ái Quốc, ông Hồ gay gắt lên án chủ nghĩa thực dân. Năm 1922, ông là một trong những sáng lập viên báo La Paria, một diễn đàn chung của các dân tộc bị trị. Tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” bằng tiếng Pháp xuất bản trong bối cảnh tranh đấu này.

Dù cảnh sát Paris không tin khả năng Pháp ngữ và uy tín của ông khi so với Phan Chu Trinh, Nguyễn thế Truyền hay Phan Văn Trường, những bậc thức giả khả kính đương thời, nhưng ông bị theo dõi chặt chẽ. Cuối cùng, ông bị họ buộc phải rời nước Pháp. Không còn cách nào khác, ông đành lang bạt nhiều nơi, nhưng chủ yếu là ở Liên Xô, Trung Hoa và Thái.

Năm 1922, ông đến Liên Xô để tham gia Đại hội Quốc tế Cộng sản và gặp Lenin. Từ nguồn khích lệ này, sang năm 1923, ông tiếp tục theo học chủ nghĩa Marx tại trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông. Đến năm 1924, nhờ thông thạo nhiều ngôn ngữ, (nhưng không thể đạt đến mức là 29 ngoại ngữ như hậu thế ca ngợi), ông được Mikhail Markovich Borodin tuyển dụng làm phiên dịch viên trong phái đoàn đàm phán của Nga ở Quảng Châu. Để đấu tranh thực tế, ông thâm nhập vào đất Thái năm 1928, chủ yếu là tuyên truyền, huấn luyện cho Việt kiều, xuất bản báo và gửi về trong nước. Cuối năm 1929, ông trở lại Trung Quốc.

Qua thời gian bôn ba nhiều nơi và hoạt động trong nhiều lĩnh vực chìm nổi khác nhau, ông trở thành nhà tranh đấu chuyên nghiệp. Khi họp bàn cùng với các nhà trí thức khác về tương lai đất nước, tất cả có ý tưởng chung là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929 làm cho nước Pháp suy yếu và Joseph Stalin thành công trong việc triển khai phương hướng xã hội chủ nghĩa cho kế hoạch phát triển của nước Nga. Nhưng theo họ, điểm quan trọng nhất trong lịch sử đấu tranh là dù Việt Nam đứng trước một hoàn cảnh đen tối, nhưng bài học khích lệ là không bị đồng hoá, mà bằng chứng là khi bị giặc Tàu đô hộ đến ngàn năm.

Theo các quan điểm này, tất cả bảy ủy viên Hồ Tập Chương, Hồ Tùng Mậu, Trịnh Đình Cửu, Lê Tản Anh, Trần Văn Cung, Lê Hồng Sơn và Nguyễn Ái Quốc đồng thuận thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương vào ngày 3 tháng 2 năm 1930 tại Hồng Kông. Qua thành phần nhân sự cốt cán này cho thấy, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Tập Chương không phải là một người, như về sau một số sử gia của Đảng suy luận.

Chuyện không may xảy đến là Nguyễn Ái Quốc bị nhà cầm quyền Hồng Kông bắt giam và định trao cho chính quyền Pháp. Việc trao trả bất thành vì nghi can đã chết do bệnh lao phổi trong nhà tù, như tờ L’Humanité trong số ra ngày 9 tháng 8 năm 1932 đưa tin. Về sau, một nguồn tin khác cho là tin ông chết được tung ra là để đánh lừa Pháp và công luận. Sự thật là nhờ luật sư Frank Loseby biện hộ, ông được thả ngày 28 tháng 12 năm 1932, sau đó trở lại Liên Xô để tiếp tục hoạt động và không còn xuất hiện trên chính trường.  Nguyễn Sinh Cung đã chết như đồng chí của ông là Hà Huy Tập xác nhận hay còn tiếp tục hoạt động trong bí mật cho Liên Xô như vợ của luật sư biện hộ cải chính, cả hai tin đều là một bí ẩn cho đến ngày nay.

Tình thế quốc tế trong năm 1940 đổi thay triệt để. Tác động thời sự mãnh liệt nhất cho cao trào của người Việt đấu tranh giành độc lập là chiến thắng của Hitler đối với Pháp. Từ tháng 9 năm 1940, Nhật là đồng minh của Đức, nhanh chóng thỏa thuận với chính quyền Vichy để Nhật toàn quyền cai trị Đông Dương. Qua mật ước với Pháp, Nhật đồng ý là chủ quyền của Pháp không thay đổi và tuyệt đối tự do trong khi Nhật chiếm đóng Việt Nam.

Sau khi tấn công Trân Châu Cảng vào tháng 12 năm 1941, Nhật chiếm nhiều lãnh thổ khác tại châu Á. Trong tình thế nhiễu nhương này, nếu so với việc cai trị của thực dân Pháp, Anh và Hà Lan, thì Nhật tàn bạo hơn. Thực ra, diễn biến thuận lợi của tình thế cho phép người Việt nhận ra một vận hội mới: Trước nguy cơ không thể vượt qua, nên ngày tàn của chế độ thực dân Pháp đến gần hơn bao giờ hết.

Sau một thời gian mất tích đầy bí ẩn, vào ngày 28 tháng 1 năm 1941, Hồ Chí Minh từ Trung Hoa về Việt Nam lãnh đạo Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, gọi tắt là Việt Minh, một tổ chức quy tụ được hầu hết các tầng lớp người Việt tranh đấu trong một khẩu hiệu chung là “phản Pháp – kháng Nhật – liên Hoa – độc lập“.

Nhưng Hồ Chí Minh là ai? Đó là một tên tuổi còn xa lạ ngay trong giới đấu tranh. Lý do để giải thích là năm 1945, Việt Nam có đến 95% dân còn mù chữ và không có phương tiện truyền thông, nên quần chúng không ai biết đến thân thế của ông Hồ, khuynh hướng Cộng sản của Việt Minh hay nội dung của chủ nghĩa Cộng sản. Ngay cả ông Hồ cũng không tin là người Việt đủ trưởng thành về mặt chính trị để có thể chấp nhận chủ nghĩa Cộng sản. Trong khí thế đấu tranh mới, không ai quan tâm đến các chi tiết, mà tâm trạng chung là muốn thay đổi, người Việt cai trị người Việt vẫn hơn người Pháp.

Gần đây, do Trung Quốc công khai xác nhận Hồ Chí Minh là Hồ Quang hoạt động trong Đệ Bát Lộ Quân, vấn đề tranh luận sôi nổi hơn: Ai đang nằm trong Lăng Ba Đình? Hiện thân của Nguyễn Sinh Cung, người làng Kim Liên hay Hồ Quang xuất thân từ Trung Quốc mạo danh? Vấn đề chưa được làm sáng tỏ trong khi nghi vấn ngày càng nhiều. Ngược lại, tại các tỉnh tiếp tục xây dựng tượng đài “tôn vinh bác” hàng nghìn tỷ, trong khi người dân còn chịu cảnh nghèo đói và thất học. Bí ẩn và nghịch lý còn kéo dài.

Về mặt địa hình, Việt Minh tập trung xây dựng căn cứ trong khu Việt Bắc, một vùng gần biên giới Hoa-Việt, nơi có đủ các loại hoạt động của các tổ chức tình báo Mỹ, Pháp, Tàu và kháng chiến Việt. Địa hình hiểm trở làm cho Việt Minh hoạt động trong an toàn. Với khả năng ngụy trang tinh vi và hỗ trợ hậu cần tận tình của dân địa phương, Pháp không thể thâm nhập mật khu bằng bộ binh, kể cả các cuộc không tập cũng không có kết quả, nhất là khi gặp thời tiết xấu. Bên cạnh việc hợp tác tình báo quốc tế, Việt Minh còn buôn bạch phiến của Tàu chở về Thái, mua vũ khí và vàng tại Thái và đảm nhiệm mọi nghiệp vụ sinh lợi khác để có điều kiện hoạt động.

Năm 1949, khi Cộng Sản Trung Hoa thu tóm Hoa lục, năng động đấu tranh cách mạng của ông Hồ và Việt Minh cũng chuyển biến triệt để. Ông Hồ quên đi ý nghĩa cao đẹp của Thomas Jefferson trong lời tuyên bố ngày 2 tháng 9  năm 1945, mà gắn bó với lý tưởng của Mao Trạch Đông, đó là một công cuộc huy động thành phần nông dân nổi dậy cho phù hợp với hoàn cảnh tại châu Á: từ rừng núi tiến về nông thôn rồi lấy nông thôn bao vây thành thị. Ngoài ra, ông Hồ còn biết kết hợp sách lược liên minh công nông của Lenin để chống lại chế độ thực dân.

Việt Nam, nếu so với lịch sử các nước khác trong châu Á, đã tiềm tàng tinh thần chống ngoại xâm. Khi đô hộ tàn bạo, Pháp giúp cho Việt Minh kết hợp các trào lưu chống thực dân nhanh hơn. Do sự thay đổi về ý thức hệ và gần gũi địa lý, việc viện trợ về lương thực và thực phẩm của Trung Quốc cho Việt Minh càng ồ ạt và dễ dàng hơn.

Về mặt chiến thuật, ông Hồ tỏ ra khéo léo đặc biệt trong bối cảnh hỗn độn này và kể cả lúc về sau khi đàm phán chính thức cho Việt Minh: biết dùng Mỹ để chống Pháp, dùng Pháp chống Tàu, dùng Tàu chống Mỹ, dùng Tàu chống Tàu và dùng tất cả để triệt hạ các phong trào của người Việt không Cộng sản, được gọi chung là Quốc gia, cùng mục tiêu đấu tranh. Ông quan tâm ưu tiên tới Mỹ và hy vọng Mỹ sẽ hỗ trợ cho Việt Minh, đó là một sự thật mà Đảng luôn phủ nhận trong các sử liệu về cuộc chiến chống Mỹ.

Ông tỏ ra là một một nhân vật đấu tranh có tầm vóc, không những thông thạo binh pháp mà còn lãnh đạo giáo dục. Bằng ngôn ngữ bình dị và cử chỉ thân thiện, ông Hồ gây thu hút dân chúng dễ dàng khi giải thích về khát vọng giành độc lập, dân chủ vả tự do cho dân tộc. Uy tín cá nhân thể hiện qua tài năng lãnh đạo, thu phục nhân tâm và huy động tài nguyên vật lực tạo cho ông Hồ là không đối thủ và gây tranh cãi. Thành công của ông gắn liền nhiều chương trình cải cách xã hội của Việt Minh như giải quyết nạn mù chữ, nạn đói, vận động quyên góp và đề cao nữ quyền tại nông thôn.

Về sau, khi soi sáng những hình ảnh cao đẹp của ông trong toàn cảnh, thì các học giả nhận ra rẳng đó không phải là đỉnh cao chói lọi trong sự nghiệp kháng chiến. Bia miệng thế gian còn truyền tụng về chuyện tình tay ba với Nguyễn Thị Minh Khai và Lê Hồng Phong, và chuyện tình bi thương lúc cuối đời với Nông Thị Xuân, là bằng chứng về vô đạo đức cá nhân. Các biện pháp trấn áp đẫm máu các đoàn thể quốc gia làm suy yếu tiềm lực đấu tranh chung, điển hình là Việt Nam Quốc dân Đảng của Vũ Hồng Khanh và Đại Việt của Nguyễn Tường Tam, là mặt trái trong nỗ lực thu phục nhân tâm. Nhưng trường hợp ông trá hình để chứng kiến tận mắt cảnh tố khổ bà Nguyễn Thị Năm, một ân nhân cho Việt Minh, là vết nhơ khó gội rửa về tính vô ân bạc nghĩa của ông Hồ.

Từ tháng 8 năm 1944, Đồng Minh giải phóng Paris. Khi phát hiện Pháp chuẩn bị chống Nhật trong lúc Đồng Minh đổ bộ vào Đông Dương, ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật lật đổ Pháp. Tại Sài Gòn, đại sứ Nhật Matsumoto trao cho Đô đốc Decoux tối hậu thư đòi Pháp phải trao quyền lãnh đạo cho Nhật. Sau 2 giờ, Đô đốc Decoux bác bỏ yêu cầu này. Trong vòng 48 giờ sau, Nhật tước quyền Đô đốc Decoux, bỏ tù hoặc tập trung các nhân viên Pháp khác. Tại Hà Nội, Nhật tập trung nhiều người Pháp và hành hạ cho đến chết. Do đó, một trang sử mới cho Việt Nam lật qua nhanh chóng là chế độ thực dân Pháp không còn và Nhật cai trị thay thế.

Hai hôm sau, ngày 11 tháng 3 năm 1945, Nhật Bản thành lập chính phủ Đế quốc Việt Nam do Hoàng đế Bảo Đại và Thủ tướng Trần Trọng Kim đứng đầu theo chính sách Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á. Vua Bảo Đại tuyên bố là chính phủ Việt Nam có chủ quyền ở ba kỳ, độc lập theo tuyên ngôn Đại đông Á của Nhật Bản, bãi bỏ các hiệp ước bảo hộ với Pháp và cùng hợp tác quốc tế. Ngày 7 tháng 4 năm 1945, Bảo Đại chuẩn y thành phần nội các Trần Trọng Kim. Ngày 17 tháng 4 năm 1945 Thủ tướng Trần Trọng Kim nhậm chức và ngày 12 tháng 5 Bảo Đại tuyên bố giải thể Viện Dân biểu Trung Kỳ.

Về mặt pháp lý, đây là một sự kiện quan trọng để công nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập có chủ quyền ra đời mà Hoàng Đế Bảo Đại và Thủ tướng Trần Trọng Kim lãnh đạo đầu tiên. Có những cáo buộc cho rằng Bảo Đại không có quyền tự trị tài chính và điều động nhân sự, vì mọi quyềt định đều do Nhật nắm giữ. Thực tế cho thấy là việc Bảo Đại có bù nhìn hay không, đó chỉ là một lối giải thích về bản lĩnh chính trị của lãnh đạo trong nhất thời, nó cũng giống như các chính phủ khác ở những vùng bị Nhật chiếm đóng. Về sau, các nước khác, dù trong cùng hoàn cảnh, cũng thoát khỏi sự lệ thuộc của Nhật. Khi Việt Nam đã thành hình, thì Hồ Chí Minh không có căn bản pháp lý để một lần nữa khai sinh cho đất nước và tuyên bố giành độc lập. Thực tế là Việt Minh cướp chính quyền trong tay của chính phủ Trần Trọng Kim, một diễn biến thuộc xáo trộn nội chính.

Theo đúng sự thật của lịch sử lập quốc, Việt Nam tuyên bố Độc Lập và chế độ thực dân Pháp cáo chung vào ngày 11 tháng 3 năm 1945, ngày này được xem là phải đến trước ngày 19 tháng 8 năm 1945 và 2 tháng 9 năm 1945. Bảo Đại đọc Tuyên ngôn Thoái vị vào ngày 25 tháng 8 năm 1945 cũng không phải là một căn bản pháp lý để cho ông Hồ có quyền khai sinh cho Việt Nam, mà là người kế vị.

Tháng Giêng năm 1950, Trung Quốc công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, sau đó hai tuần đến lượt Liên Xô cùng công nhận tương tự. Hoa Kỳ cũng công nhận Việt Nam vào tháng 2 năm 1950. Các công nhận của cộng đồng quốc tế không thể làm thay đổi trình tự diễn biến và hậu quả pháp lý này. Các diễn biến sau này được gọi chung là Cách mạng tháng Tám không thể xảy ra là giành độc lập.

Tình thế biến chuyển sôi động. Việt Minh nhanh chóng chiếm được sáu tỉnh phía Bắc. Thành công này không phải chỉ vì chiếm đóng của Nhật lỏng lẻo, mà còn nhiều lý do khác. Điển hình nhất là vì chính sách kinh tế Nhật phục vụ cho chiến tranh gây lạm pháp cao độ, chính sách nông nghiệp sai lầm lo, thu mua thóc để xuất cảng, gây nạn đói tràn ngập tại miền Bắc trong năm 1944 và 1945. Kết quả thảm hại là trên hai triệu người chết đói và hàng trăm ngàn người nghèo đi theo Việt Minh.

Từ tháng 3 năm 1945, khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Việt Minh là một Đồng Minh chính thức của OSS. Sự hợp tác không bắt đầu khởi động tại Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam, nơi OSS đặt bản doanh, vì ông Hồ không có tiếp xúc chính thức. Thực ra, ông gặp OSS trễ hơn.

Từ lâu, ông Hồ chú ý đến vai trò của Mỹ cho mục tiêu đấu tranh. Bằng chứng là ngay từ đầu năm 1944, ông đến Toà Lãnh sự tại Côn Minh xin chiếu khán đi Mỹ để vận động ngoại giao, nhưng không được. Sau đó, ông tìm cách liên lạc với Đồng Minh và hứa hẹn hợp tác. Để đạt mục tiêu, ông khoe thành tích là Việt Minh đã cứu một người Mỹ khi bị bắn hạ trong một cuộc giao tranh tại Sài Gòn. Để tỏ lòng biết ơn, các viên chức Mỹ tạo điều kiện cho ông tiếp kiến Tướng Claire Chennault, Tư lệnh Không quân Mỹ, người thành lập Lực lượng Flying Tigers. Nhân dịp hy hữu này, ông xin được chụp hình chung và chữ ký làm kỷ niệm. Bằng chứng quý giá này là dịp để ông khoe với người Việt và ngoại quốc là từ nay Mỹ đã chính thức hỗ trợ cho Việt Minh.

Sau khi Nhật đầu hàng, Jean Sainteny, đại diện cho Pháp, đến Hà Nội gặp ông. Tháp tùng có Thiếu tá Archimedes L. A. Patti, đại diện của OSS, phụ trách việc tìm kiếm tù binh cho Đồng Minh. Cơ hội đến cho ông quen được Patti, ông kể lại bao kỷ niệm lúc tuổi thanh xuân tại Mỹ và tham khảo ý kiến trong việc soạn thảo bản Tuyên ngôn theo nội dung của Thomas Jefferson. Tỏ ra lạnh nhạt với Sainteny và nhanh chóng kết thân với Patti khi ông yêu cầu hỗ trợ cho Việt Minh hoạt động. OSS chấp thuận. Tình báo Pháp biết được việc này, họ cảnh báo cho OSS biết về cá tính tráo trở của ông Hồ và nguy cơ hợp tác cho Đồng Minh, nhưng OSS kiên quyết tiếp tục.

Cụ thể, để tiện việc hợp tác, OSS đặt cho ông Hồ một bí danh là “Lucius“, lo cung cấp vũ khí và tiếp tế cho Việt Minh, để đổi lại, OSS nhận các tin tức về tình hình chuyển quân của Nhật. Khi các phi công Mỹ bị bắn hạ, Việt Minh cũng giúp cho OSS giải quyết. Ngoài ra, OSS cũng từ chối giúp cho Pháp thiết lập một cơ sở hành dinh tại Bắc Việt. Trước đó, theo lệnh của Roosevelt, OSS phải tìm cách không cho Pháp tái chiếm Đông Dương và cung cấp vũ khí hay tiếp tế cho Pháp, ngoại trừ trường hợp để thực hiện những mục tiêu chống Nhật đã được Đồng Minh tán thành.

Ngay sau khi Roosevelt chết, ông Hồ nhận ra tầm quan trọng của Mỹ trong đấu tranh ngoại vận là hơn Liên Xô và Trung Quốc. Bằng chứng là ông nhờ OSS chuyển thư cho chính phủ Mỹ, trong đó có cả thư tay cho Tổng thống Harry S. Truman, đề nghị đặt quan hệ ngoại giao, hy vọng được Mỹ ủng hộ trong cuộc thương thuyết giữa Trung Quốc và Pháp. Nỗ lực ngoại giao quan trọng nhất cho Việt Minh trong giai đoạn này là muốn Mỹ công nhận Chính phủ Lâm thời là đại diện duy nhất và hợp pháp của Việt Nam, Truman không đáp ứng.

Sau đó, Mỹ nghi ngờ ông Hồ là người quốc tế cộng sản và bù nhìn của Moscow. Ông Hồ phản bác không phải là người của Đảng Cộng Sản Pháp, tham gia là do hoàn cảnh bằt buộc, nhưng Đảng cũng không thể tác động nhiều cho phong trào đấu tranh. Dù không thể phủ nhận đã ở Moscow nhiều năm, ông lập luận là hoạt động chẳng qua là vì độc lập dân tộc. Tuy nhiên, chính phủ Mỹ không tin các minh chứng này.

Không còn cách nào khác, ông Hồ gửi thư cho Stalin xin công nhận và viện trợ, nhưng không được hồi đáp. Lý do chính là Stalin lo khôi phục cho Liên Xô sau chiến tranh, quan tâm đến Đông Âu nhiều hơn và nhất là trong hoàn cảnh bấy giờ không muốn làm mất lòng Pháp. Tuy nhiên, các sử gia có những cách giải thích khác: Stalin chưa quen biết với ông Hồ nhiều, không tin tưởng về sự phát triển các phong trào Cộng sản tại châu Á và trong tinh thần phân công của quốc tế vô sản nên quyết định giao việc viện trợ Việt Nam cho Trung Hoa.

Cuối tháng 9 năm 1946, Mỹ rút OSS tại Việt Nam về nước, chấm dứt liên hệ với Việt Minh, đánh dấu giai đoạn khởi đầu của cuộc chiến Đông Dương. Tại sao Mỹ ra đi? Tổng kết giai đoạn hợp tác có nhiều cái nhìn dị biệt, vì những lý do tiềm ẩn sâu xa hơn là do hoàn cảnh đặc thù của Việt Minh hay quan điểm chính trị của ông Hồ.

Bang giao quốc tế trong toàn cảnh đang diễn biến với một khởi đầu mới. Các thách thức phức tạp là nan giải. Tây Âu trong bối cảnh hậu chiến đầy bất trắc và Pháp lại đang suy yếu mọi mặt. Trước khi chết, Roosevelt không muốn cho Mỹ can dự vào Đông Dương và để cho Pháp quyết định. Do đó, nỗ lực chính của Mỹ là giúp cho châu Âu tái thiết và củng cố vị thế cho Pháp. Khi Trung Quốc còn phân tranh Quốc-Cộng và chưa thực sự trỗi dậy, nhưng tình hình Nga chưa củng cố và phát triển đúng mức, nên sự đối kháng của hai khối Tư Bản và Cộng Sản chưa thực sự thành hình. Nhìn trong quan điểm chiến lược chung, Việt Nam không phải là mối bận tâm cho Mỹ như về sau trong khuôn khổ Chiến tranh Lạnh.

Về quan điểm chính thức trong giai đoạn này, Mỹ cho rằng ông Hồ là một cộng tác viên đắc lực giúp cho OSS hoàn thành nhiệm vụ. Khi hồi tưởng lại việc hợp tác, các viên chức OSS cho là có nhiều cảm tình tốt đẹp với ông Hồ và các dân quân kháng chiến. Còn việc ông Hồ nổi danh thành vị cha già dân tộc, đó là các chuyển biến về sau tác động.

Ngược lại, để nêu cao thành tích đấu tranh chống Mỹ tàn ác xâm lược, các sử gia của Đảng không muốn công khai thú nhận là ông Hồ quan tâm đến vai trò của OSS và tìm kiếm sự hợp tác với Mỹ. Họ cáo buộc Mỹ đã tước đoạt quyền cai trị Đông Dương trong tay của Pháp, thổi phòng tham vọng xâm chiếm lãnh thổ của Mỹ, mà không có căn cứ lịch sử.

Tóm lại, nhìn trở lại toàn cảnh hỗn loạn của đất nước trong buổi giao thời, các sử gia hiện đại có các kết luận chủ yếu là: Cách mạng tháng Tám không phải để giành độc lập dân tộc, mà cướp chính quyền tiền nhiệm bằng bạo lực cách mạng. Người Mỹ không thay thế người Pháp ở Đông Dương, vì họ đã có mặt tại chỗ ngay từ đầu qua sự hợp tác với OSS. Cho đến cả về sau, khi chiến tranh diễn ra khốc liệt, Mỹ không có tham vọng lãnh thổ như Pháp.

Nếu ông Hồ tạo được uy tín cá nhân, cũng như có khả năng thuyết phục Mỹ ý thức được tầm quan trọng của Đông Dương để tiếp tục hợp tác, lịch sử của Việt Nam có thể sẽ khác hơn.

Thành lập 3 đặc khu để bán nước nhanh hơn

Kông Kông

12-6-2018

Đối phó với dư luận về dự trù ra luật đặc khu để cho thuê đất 99 năm, Nguyễn Đức Kiên, Phó chủ nhiệm Ủy ban kinh tế Quốc Hội khoá 14 phát biểu: “Tại sao cứ sợ ảnh hưởng của Trung Quốc tại các đặc khu. Tại sao ở Úc, Pháp, Mỹ… đều có Chinatown. Ở California mình có Little Saigon. Ở đó toàn người Việt, nói bằng tiếng Việt, thì bang California có lo ngại vấn đề an ninh quốc phòng hay không?

Phiên xử thứ 9 vụ lãnh đạo Đà Nẵng bán rẻ nhà, đất công sản cho Vũ “nhôm”: Tuyên án

BTV Tiếng Dân

13-1-2020

Sau 2 ngày tạm nghỉ đề tòa nghị án, chiều 13/1/2019, phiên tòa xử vụ 2 cựu Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng là Trần Văn Minh và Văn Hữu Chiến, cùng 19 bị cáo đã hỗ trợ “thượng tá” tình báo công an Phan Văn Anh Vũ thu tóm 22 nhà công sản và 7 dự án bất động sản đã bước vào phiên xử thứ 9. HĐXX tuyên án các bị cáo trong vụ thâu tóm đất công tại Đà Nẵng: Phan Văn Anh Vũ lĩnh án 25 năm tù, báo Thanh Niên đưa tin. 

Trung Quốc và những cuộc đi

Trần Nhã Thụy

6-6-2018

Tôi có một người bạn. Cũng như chúng tôi, bạn phải đi làm vất vả nuôi con. Con bạn tầm tuổi với con chúng tôi. Hằng ngày bạn phải đưa đón con đến trường, chở con đi học thêm. Cũng như chúng tôi, bạn rất bức xúc về thực trạng giáo dục nước nhà.

Nhân vụ Đồng Tâm, nhớ lại kỷ niệm

BS Nguyễn Đan Quế

22-1-2020

Vụ đàn áp Đồng Tâm xảy ra 9-1-2020 làm xôn xao dự luận trong ngoài nước. Nhiều người thấy Đồng Tâm rất giống với nổi dậy ở Thái Bình 23 năm trước. Đều do CS ‘nòi’ chống đối.

Trời hỡi, Trời…

Trần Kim

10-6-2018

“Trời hỡi làm sao khi có chức
Đất đai có sẵn làm sao ăn,
Làm sao vơ vét… mau đầy túi
Để sống sang giàu… mặc kệ dân?” (*)

90 năm đảng búa liềm

Phạm Đình Trọng

2-2-2020

Đảng búa liềm Việt Nam chọn ngày 3.2.1930 là ngày khai sinh tổ chức của họ. Từ đó, sau khi cướp được chính quyền và cướp được một vùng lãnh thổ để vỗ ngực xưng hùng xưng bá và ngạo ngược cưỡi đầu cưỡi cổ dân, hàng năm, cứ đến ngày sinh của đảng búa liềm, cả hệ thống truyền thông dối trá, lừa bịp của nhà nước búa liềm lại chạy hết công suất kể công lao tưởng tượng của họ. Nhờ có đảng, đất nước mới có độc lập, người dân mới có được cuộc sống như ngày hôm nay.

Góp ý với Ngài Trần Đại Quang

Nguyễn Đình Cống

15-6-2018

Luật An ninh mạng đã được Quốc hội thông qua. Quả bóng đó đang nằm trong chân Ngài Chủ tịch nước. Ngài có thể ký để công bố hoặc không. Chắc rằng Ngài đã nhận được nhiều thông tin phản đối. Tôi rất thông cảm với nỗi khó khăn đến nghẹt thở này. Trước đây tôi đã có vài bài báo, viết là trao đổi hoặc góp ý với Ngài, bài nào tôi cũng thể hiện lòng chân thành, nhưng hơi nặng về phê bình. Viết bài này tôi tiếp nối lòng chân thành đó, không phê bình, chỉ góp ý.

Lịch Sử Việt Nam Thời Tự Chủ (Phần 19)

Hồ Bạch Thảo

10-2-2020

Tiếp theo phần 1phần 2phần 3phần 4phần 5phần 6 —  phần 7 —  phần 8 —  phần 9 —  phần 10 —  phần 11phần 12 — phần 13phần 14phần 15 —  phần 16phần 17phần 18

Phần 19. Lý Nhân Tông [1072-1127]: Từ ngoại giao hòa bình đến chuẩn bị chiến tranh

Câu chuyện nhà báo trẻ và nhà văn có tuổi

LTS: Nhà văn Văn Biển vừa cho ra đời cuốn sách “Que Diêm Thứ Tám”, do Nhà Xuất bản Người Việt phát hành. Que Diêm Thứ Tám cũng là tên một kịch bản sân khấu, sau được chuyển thể thành phim truyền hình nhiều tập, của tác giả Văn Biển.

Văn Biển có tên khai sinh là Phạm Văn Biển, sinh năm 1930 ở Mộ Đức, Quảng Ngãi, hiện đang sống tại Nha Trang. Ông là nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch. Ông là cháu ruột của cố Thủ tướng Phạm Văn Ðồng, gọi ông Đồng bằng chú Tám.

Tin sao được số người bị nhiễm COVID-19 do Trung Quốc công bố

Bá Tân

19-2-2020

Số người bị lây nhiễm và bị chết do đại dịch Covid-19 được cập nhật từng ngày, tại hàng chục quốc gia, trong đó Trung Quốc luôn chiếm phần áp đảo.

Lịch sử đích thực phải được trân trọng

KTS Trần Thanh Vân

25-6-2018

Kính viếng hương hồn GS Phan Huy Lê

Nhân dịp cả nước xôn xao chuyện Dự án sông Sào Khê huyện Hoa Lư Ninh Bình từ 72 tỷ đồng “phát sinh” thành 2595 tỷ đồng, khiến nhiều ĐBQH đặt câu hỏi nghi vấn, muốn đề nghị thanh tra làm rõ lối làm ăn mập mờ nay, chúng tôi cũng quyết định đi Hoa Lư để “thanh tra thực địa” một chuyện buồn tồn tại nhiều năm nay tại Hoa Lư.

Một xã hội bị tàu nạn hóa (Phần 2)

GS Lê Hữu Khóa

30-6-2018

Tiếp theo phần 1

Tàu họa: quá trình áp chế bằng bạo quyền ngầm

Hệ chế (khống chế, kiềm chế, ức chế), song hành với hệ xâm (xâm lấn, xâm lược, xâm lăng) luôn dựa lên hệ bạo (bạo quyền, bạo lực, bạo động), cả ba thường được thể hiện qua cách “chơi ngang”, “chơi gác”, “chơi đểu” của kẻ khống chế đè lên đầu nạn nhân của nó. Kẻ xâm lược dùng áp chế qua bạo quyền ngầm luôn có ít nhất ba chiến lược: áp đặt quyền thống chế trên chính trị, quân sự, ngoại giao, mà cả lên kinh tế, tài chính, vật chất, chưa hết, nó áp đặt để áp chế cả về văn hóa, giáo dục, nghệ thuật của nó qua truyền thông, qua thương mại, qua xuất nhập khẩu.

Nhân vụ ba đặc khu: Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu bị lệ thuộc vào Cộng Sản Trung Quốc từ bao giờ và tại sao?

Phạm Cao Dương (*)

3-7-2018

ĐỌC LẠI NHỮNG BÀI VIẾT CỦA CÁC CỐ VẤN TẦU Ở VIỆT NAM TRONG CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT (1946 – 1954)

Đây là những bài viết được ghi là của “một số lão đồng chí đã từng cộng tác trong Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam đầu những năm 50 của thế kỷ 20” theo lời của Nhóm biên tập của tập tài liệu có nhan đề Ghi Chép Thực Về Việc Đoàn Cố Vấn Quân Sự Trung Quốc Viện Trợ Việt Nam Chống Pháp (Hồi ký của những người trong cuộc) do Nhà Xuất Bản Lịch Sử Đảng Cộng Sản Trung Quốc ấn hành ở Bắc Kinh năm 2002, bản dịch tiếng Việt của Trần Hữu Nghĩa và Dương Danh Dy với Dương Danh Dy cũng là người hiệu đính.

“Tiền phạt” hay chuyện vui về “bệnh nghề nghiệp”

Văn Biển

7-7-2018

Lâu lắm chúng tôi mới gặp lại. Tôi rủ anh bạn ra quán làm chầu bia. Hàn huyên một lúc, anh bạn rỉ tai:

– Món đó ở đây có dễ kiếm không? Từ dạo ly dị tới giờ mình sống như thầy tu khổ hạnh.

Lửa rơm Trương Minh Tuấn

Bá Tân

14-7-2018

Ông Trương Minh Tuấn, Bộ trưởng Bộ TT&TT. Ảnh: báo TP

Theo cách nói dân gian, những kẻ bốc đồng, những việc trồi lên chớp nhoáng rồi lụi tàn tức khắc, được ví như là lửa rơm. Lửa thì có lửa nhưng cháy nhanh và mau tàn lụi, kể cả tro cũng lạnh tanh trong chốc lát.

Bàn về cái thiêng liêng

Lê Phú Khải

20-7-2018

Ngày nhỏ đi học lớp 1, lớp 2,…cứ mỗi lần được thầy giáo kêu lên bục xóa bảng, hoặc sai đi giặt khăn lau bảng là tôi sung sướng cả ngày hôm đó. Thầy giáo nhớ tên mình, gọi tên mình… chao ôi là vinh hạnh, không sướng sao được.

Về hai lời tuyên bố của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

LTS: Chúng tôi có nhận được một bài viết tay của ông Bùi Tín nhờ phổ biến giúp. Người chuyển thư cho biết, ông Bùi Tín đang bị bệnh nặng, hiện đang nằm trong bệnh viện Sevran 93, nhưng ông vẫn quan tâm tới hiện tình đất nước, ông vẫn viết bài bằng giấy viết tay để chuyển ra ngoài.

Tướng tá quân đội, công an đang đe dọa quốc phòng và an ninh quốc gia

Trung Nguyễn

3-8-2018

Bắt tay với Mỹ, Nhật thì nước Việt còn

Theo tin từ đài VOA tiếng Việt, sắp tới Việt Nam sẽ mua vũ khí của Mỹ với trị giá là 94,7 triệu đô-la. Cùng lúc đó, Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam tuyên bố sẽ cùng khai thác khí đốt với hai công ty Nhật Bản tại vùng lãnh hải gần khu vực mà Trung Cộng tuyên bố chủ quyền.

Công an hư, chế độ hỏng

Bá Tân

10-8-2018

Từ trái sang: Thượng tướng Phương Minh Hòa, Trung tướng Bùi Văn Thành và Thượng tướng Trần Việt Tân, đã bị kỷ luật. Ảnh: Internet

Ra khỏi ngõ, gặp công an. Nhìn đâu cũng thấy công an. Mọi sự kiện, hiếu cũng như hỷ, tràn ngập công an. Tổng biên chế lực lượng công an, nếu có thua chỉ đứng sau quân đội.

Sập bẫy Trung Quốc trong đàm phán khung COC

Philstar

Tác giả: Renato Cruz De Castro 

Biên dịch: Nhật Minh

17-8-2018

Trung Quốc sử dụng cả hai cách tiếp cận trực tiếp và gián tiếp để theo đuổi mục tiêu chiến lược bành trướng Biển Đông.

Cách tiếp cận trực tiếp liên quan đến việc xây dựng một “hải quân biển xanh”, tạo ra các hòn đảo nhân tạo và quân sự hóa các đảo này bằng cách triển khai các máy bay ném bom và hệ thống tên lửa.

Hiền tài đang ở đâu?

Trương Minh Ẩn    

28-8-2018

Tại cuộc gặp mặt với hơn 100 chuyên gia, nhà khoa học trẻ người Việt tiêu biểu ở nước ngoài về nước tham dự chương trình Kết nối mạng lưới đổi mới sáng tạo VN, ngày 19/8 vừa qua, thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng: Đất nước không có người hiền tài thì không thể hưng thịnh.

Khi con bò cũng thành tiến sỹ

Nguyễn Huy Vũ

3-9-2018

Ngày còn học ở giảng đường Việt Nam trước khi ra nước ngoài du học, ông thầy, vốn cũng là một tiến sỹ được đào tạo ở Liên Xô, kể với tụi sinh viên chúng tôi đại khái rằng gửi một con bò sang Liên Xô, thì rồi con bò đó cuối cùng cũng trở thành tiến sỹ.

Sự bệ rạc của nền giáo dục Liên Xô, cộng với tinh thần “phát bằng hữu nghị” vô trách nhiệm cho sinh viên các nước xã hội chủ nghĩa anh em khiến cho các du học sinh Việt Nam sang Liên Xô chẳng cần phải học gì nghiêm túc để rồi cuối cùng cũng được cấp bằng.