40 năm nhìn lại Chiến Tranh Biên Giới tháng hai… Đâu là bài học? (Tiếp theo)

  •  
  •  
  •  
  •  

FB Trương Nhân Tuấn

20-2-2019

Tiếp theo Kỳ 1 và Kỳ 2  Kỳ 3

“Học giả” VN hôm nay vẫn cho rằng vấn đề “nạn kiều” là do phía TQ “xúi giục”.

Nhưng đâu phải chuyện gì được thực hiện bởi “lệnh miệng” thì việc đó không có bằng chứng, “học giả” muốn nói sao thì nói!.

Nếu là do TQ “xúi giục”, vậy ai giải thích được việc vì sao người Việt gốc Hoa phải “hồi tịch”? Rồi ai “xúi giục” khiến tư sản Việt gốc Hoa “bưng” tài sản “hiến” cho “cách mạng”? Không lẽ vì “xúi giục” mà hàng triệu “đỉ điếm, cặn bã xã hội” phải hiến nhà, hiến tài sản cho nhà nước, bỏ nước ra đi ?

4/ Cuộc chiến 1979: làm cho VN “chảy máu đến chết”.

Theo cái nhìn của cá nhân tôi, nguyên nhân chiến tranh, thuyết phục hơn hết là “nguyên nhân chiến lược”, dẫn từ tham luận “Security Issues in Southeast Asia: The Third Indochina War” của học giả Carlyle Thayer, đọc tại Hội Nghị “An Ninh và Kiểm Soát Vũ Khí tại Bắc Thái Bình Dương”, Đại học Quốc gia Úc (Canberra) tháng tám 1987.

Theo học giả Carlyle Thayer, TQ (và cả khối ASEAN) lo ngại sự thành hình của “liên minh chiến lược Đông dương” mà liên minh này thân Liên Xô. Quan niệm của VN “Đông dương là một đơn vị chiến lược duy nhứt, một chiến trường duy nhứt”. Quan niệm này đã thể hiện qua hai cuộc “chiến tranh Đông dương”, lần thứ nhứt giữa Bắc Việt với “thực dân Pháp” và lần hai giữa Bắc Việt với “đế quốc Mỹ”. Cuộc chiến 1979 được gọi là “cuộc chiến Đông dương lần thứ ba”.

Nếu khảo sát sơ lược các diễn tiến lịch sử đã qua, ta thấy lý thuyết của học giả Carlyle Thayer được chứng minh. Điều này cũng “ăn khớp” với quan điểm chiến lược của TQ.

Khúc quanh làm sụp đổ quan hệ giữa VN và TQ bắt đầu từ năm 1976, khi LX hứa hẹn viện trợ cho VN 3 tỉ đô la. Số tiền này bằng số tiền mà Mỹ hứa sẽ viện trợ, (nếu VN tôn trọng hiệp định Paris). VN trở thành “vệ tinh” của Liên Xô từ lúc này.

Từ năm 1965 đến 1975, LX đã trở thành nhà cung cấp các nhu cầu kinh tế và quốc phòng để VN tiếp tục chiến tranh với Mỹ. Mỹ và TQ đã có những thỏa thuận quan trọng từ năm 1972. Năm 1973 Mỹ rút quân khỏi VN. Tất cả những nổ lực của TQ giúp cho VN, trong 20 năm (từ 1950 đến 1970) là 20 tỉ đô la, nhằm mục đích phòng thủ về phía nam. Sau khi đạt thỏa thuận với Mỹ, nghĩ rằng phía Nam đã được “bình định”, TQ hạn chế mọi viện trợ kinh tế và quốc phòng cho VN.

Nhưng sau đó ảnh hưởng Liên Xô bao trùm lên VN, đồng thời với Afghanistan, Mông cổ và Bắc Hàn. Rốt cục TQ bị bao vây chặt chẽ từ bốn hướng bởi một kẻ thù chiến lược khác, nguy hiểm hơn cả Mỹ, vì LX có tham vọng về lãnh thổ còn Hoa Kỳ thì không.

Cùng năm 1976, những nhân vật thân TQ, như Hoàng Văn Hoan, bị loại khỏi Bộ Chính trị và mất hết các chức vụ trong đảng.

Dầu vậy tháng Tư 1977, Thủ Tướng Phạm Văn Đồng của CHXHCNVN đến thăm Bắc Kinh để yêu cầu viện trợ từ giới lãnh đạo Trung Quốc. Một phiên họp được tổ chức, có mặt Hoa Quốc Phong (Hua Guofeng, Trần sĩ Liên [?] (Chen Xilian), và Lý Tiên Niệm (Li Xiannian). Một văn thư ghi nhớ cuộc họp được thảo bởi Li Tiannian và gửi đến Phạm Văn Đồng hôm 10 tháng Sáu, 1977. Hai điều cần nhấn mạnh, thứ nhứt, Trung Quốc bực bội về sự sáp gần lại nhau giữa Việt Nam và Sô Viết mà việc này làm giảm bớt ảnh hưởng của TQ trong khu vực Đông Nam Á. Thứ hai, TQ tố cáo Việt Nam sử dụng các vấn đề lịch sử để khích động một chiến dịch chống Trung Quốc.

VN dẹp bỏ ý kiến của TQ ngoài tai. Tháng bảy năm 1977 VN ký kết “Hiệp Ước Hữu Nghị và Hợp Tác” với Lào có nội dung hỗ tương “tăng cường năng lực phòng thủ… chống lại mọi ý đồ và các hành vi phá hoại của đế quốc chủ nghĩa và các lược lượng phản động ngoại lai…”.

“Đông dương là đơn vị chiến lược duy nhứt” theo quan điểm của VN đang được thành hình. Vấn đề là “đơn vị chiến lược” này thân LX.

Phản ứng của TQ qua Ngoại trưởng Hoàng Hoa là lên án “chủ nghĩa xét lại Xô Viết” đồng thời công khai cảnh cáo trước VN về hậu quả của một cuộc xâm lấn Campuchia.

Hội nghị đảng tháng hai năm 1978, Hà Nội quyết định phát động chiến dịch “đánh tư sản mại bản” cùng lúc với việc thanh lọc chủng tộc mà TQ gọi là “nạn kiều”. Hàng trăm ngàn người Việt gốc Hoa, phần lớn đã sinh ra và lớn lên ở VN, không biết tiếng Hoa, bị “trục xuất”. Việc này tạo thành một cuộc “vượt biên” vĩ đại, bán chính thức, vì do chính công an VN đứng ra tổ chức. Hàng triệu người VN nhân dịp này dùng vàng mua “vé” (trung bình 7 lượng vàng một đầu người) để lên những chiếc tàu đánh cá mong manh với hy vọng thoát thân. Trong khi hàng chục ngàn người Hoa sống ở miền Bắc thì theo đường bộ “vượt biên” trở về lục địa.

Dầu vậy “học giả” VN hôm nay vẫn cho rằng vấn đề “nạn kiều” là do phía TQ “xúi giục”.

Nhưng đâu phải chuyện gì được thực hiện bởi “lệnh miệng” thì việc đó không có bằng chứng, “học giả” muốn nói sao thì nói! Nếu là do TQ “xúi giục”, vậy ai giải thích được việc vì sao người Việt gốc Hoa phải “hồi tịch”? Không lẽ vì bị TQ “xúi giục” mà tư sản Việt gốc Hoa “bưng” tài sản “hiến” cho “cách mạng”? Không lẽ vì “xúi giục” mà hàng triệu “đỉ điếm, cặn bã xã hội” phải hiến nhà, hiến tài sản cho nhà nước, bỏ nước ra đi? Tiếp tục theo đuổi sách lược (bài Hoa thân LX) của mình, VN làm đơn xin gia nhập khối COMECON, là khối tương trợ về kinh tế do LX đứng đầu.

Đối với LX, từ năm 1978, khi Đặng Tiểu Bình trở lại chính trường, việc hòa hoãn có khuynh hướng tích cực. Dầu vậy LX do lo ngại trục Bắc Kinh – Tokyo – Washington.

Tháng sáu 1978, TQ cho đóng cửa hàng loạt tòa lãnh sự ở VN. Cùng lúc VN chính thức gia nhập khối COMECON. Tháng 11 hai bên VN và LX ký kết hiệp ước an ninh hỗ tương. Việc VN ký kết với LX hiệp ước hợp tác và hữu nghị đối với TQ có ý nghĩa chấp dứt mọi quan hệ gữa VN và TQ.

Để đối phó, TQ thiết lập những quan hệ chặt chẽ với Mỹ, Nhật cũng như các nước ASEAN. Hiệp ước “Hòa bình và hữu nghị” giữa TQ và Nhật cũng được ký kết (tháng tám 1978).

Hai bên Nhật và TQ (lục địa cộng sản) không hề tuyên bố chiến tranh trong Thế chiến Thứ II. Không có chiến tranh sao lại ký hiệp định “hòa bình”? Lợi ích chiến lược có đủ lý lẽ để giải thích.

TQ cũng thành công ký kết ngoại giao với các nước có truyền thống chống TQ tại Đông Nam Á như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương v.v…

Tháng 11 họ Đặng đi các nước Thái Lan, Mã Lai, Singapore… thông báo TQ sẽ dùng vũ lực nếu VN tấn công Campuchia. Những răn đe của TQ không làm lãnh đạo VN chùn chân. Ngày 25 tháng 12 năm 1978 quân VN tiến vào Campuchia, đến ngày 11 tháng 1 năm 1979 đánh quân Pol Pot ra khỏi Nam Vang và các tỉnh lớn, Heng Samring tuyên bố nền cộng hòa nhân dân Kampuchia được thiết lập.

Việc quân VN nhanh chóng quét sạch quân Pol Pot ra khỏi Nam Vang và các tỉnh lớn ở Campuchia đã làm cho phía TQ bị bất ngờ.

Việc này thúc đẩy quan hệ giữa Washington và Bắc Kinh. Tháng giêng 1979 họ Đặng thăm viếng HK, ký kết một số thỏa hiệp với HK về văn hóa, kinh tế và kỹ thuật đồng thời trình bày một kịch bản chung với HK để chống LX, nhưng thực chất bề trong là thông báo cho HK kế hoạch “dạy cho VN một bài học”.

Cuộc chiến đánh bọn đồ tể diệt chủng Pol Pot – Ieng Sary của VN (lý ra) là một cuộc chiến có chính nghĩa. Nhưng vì tham vọng quá lớn của lãnh đạo CSVN, muốn biến Campuchia thành một chư hầu, dự định đóng quân lâu dài, khiến thế giới lên án buộc VN phải rút quân về.

Nhưng đó cũng là kế hoạch của TQ, làm cho VN sa lầy tại Campuchia, làm VN chẩy máu đến chết.

Bình Luận từ Facebook

BÌNH LUẬN

Xin bình luận ở đây
Xin nhập tên của bạn ở đây