Phe “Bắc kỳ biết lý luận” độc tôn quyền lực

FB Trương Nhân Tuấn

10-10-2017

Với tư thế “người trên” của Nguyễn Phú Trọng trong vụ “đốt lò”, nguyên tắc “tứ trụ”, (quyền lực chia làm bốn cho tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch quốc hội) bị bãi bỏ. Ông Trọng “độc tôn” chiếm lĩnh quyền lực. Phe “bắc kỳ biết lý luận” lên ngôi, phụ trợ phía sau là phe “xứ Quảng”.

Phe thiệt thòi nhứt, như từ bao giờ, là phe “miền Nam”. Bà Kim Ngân, Chủ tịch quốc hội, dại diện cho cánh miền Nam chỉ là một bông hoa trang điểm cho chế độ. Quyền lực không thực. Danh dự cũng không. Vụ bà Châu Thị Thu Nga ra tòa xin khai mua chức đại biểu 1 triệu rưỡi đô la, mặc dầu bị Tòa “bịt miệng”, nhưng cũng tố cáo thực chất tồi tàn của “cơ quan quyền lực cao nhứt” của VN.

Như từ bao đời cộng sản, miền Nam chỉ có cái “tiếng” mà không có “miếng”. Miền Nam “đi trước” đứng đầu nhiều lãnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội văn minh… nhưng miền Nam luôn “về sau” về “chính trị”. Miền Nam là nạn nhân của các nhóm quyền lực khởi lên từ miền Bắc, ĐBSCL là “vùng trũng giáo dục”, là nơi mà đầu tư nhà nước quên tên.

Ông Trọng thành công việc độc tôn quyền lực. Chuyện kỳ thị vùng miền vì vậy sẽ càng thêm sâu sắc.

Lịch sử đảng CSVN, chưa bao giờ một người xuất thân nam kỳ lên nắm chức tổng bí thư. Yếu tố “bắc kỳ biết lý luận” khởi ra từ ông Trọng, hàm ý dân nam kỳ không biết “lý luận”.

Vấn đề là “lý luận về cái gì”? Nếu là lý luận về chủ nghĩa Mác Lê nin thì người Nam kỳ “xin được thua”. Bởi vì chủ nghĩa Mác-lê đã trở thành một phế phẩm của lịch sử. Những người Nam kỳ tuy “dốt”, cũng nhận ra rằng đó là thứ rác rưởi của lịch sử, học tập nó nữa làm chi?

Ông Trọng dân Bắc Kỳ tự hào là những người “thông minh”, biết lý luận. Mà chủ nghĩa cộng sản có còn điều gì hay ho để tiếp tục lý luận nữa, ngoài mục đích tồi tàn là giành quyền lãnh đạo đất nước?

“Lý luận” trở thành “ngụy biện”. Nói trắng ra đó là tâm lý “phe chiến thắng” áp đặt cho phe thua trận. Nhưng khi “đề cao” Bắc kỳ biết lý luận, là vượt trội, thì đó là sự thể hiện một đầu óc kỳ thị sâu sắc.

Hê quả của tâm lý kiêu ngạo, kẻ chiến thắng có quyền áp đặt, không mấy chốc, từ văn hóa cho tới trật tự xã hội miền nam được “mặc đồng phục”, y chang như miền bắc. Văn hóa VN vốn nghèo nàn, nay nhìn lại không còn gì nguyên vẹn, gọi là tốt đẹp.

Thử nói về ngôn ngữ. Chữ Việt hôm nay, gọi là chữ “quốc ngữ”, thực ra là một thứ chữ vay mượn, dùng để “ghi” lại cách phát âm của người Việt. Tự điển VN là tự điển “quốc âm tự vị”, tức ghi lại (thành chữ) cách phát âm. Vì vậy chữ Việt rất đa dạng và phong phú. Mỗi miền ngoài cách phát âm khác nhau, còn có những phương ngữ riêng, chỉ sử dụng ở miền đó.

Từ bao giờ cách phát âm của dân bắc kỳ là “tiêu chuẩn” cho cả nước? Thử nghe các cán bộ lãnh đạo, miền Trung hay miền Nam (như ông Nguyễn Thiện Nhân), mở miệng lên ta tưởng họ là dân “Bắc kỳ” chính cống.

Phải chăng đó là “tiêu chuẩn” để dân Nam kỳ (và Trung kỳ) thăng tiến trên quan lộ? Nếu đúng vậy thì thật là tội nghiệp cho đảng CSVN. Thực chất của các phong trào cộng sản là đả phá kỳ thị màu da, sắc tộc để dựng lên thế giới đại đồng.

Không biết từ khi nào đảng CSVN là đảng của những người Bắc kỳ như vậy?

Ngay cả việc sử dụng ngôn từ, thường ngày hay trong văn bản. Ta thấy ngôn ngữ “Bắc kỳ hóa” đã lan rộng đến mức độ báo động. Các nền văn hóa đặc trưng địa phương lần hồi bị cáo chung.

Vụ lùm xùm về chữ “vòng xuyến” thay cho chữ “bùng binh” gần đây là điển hình cho cách mặc đồng phục cho tiếng Việt. Từ “bùng binh”, gốc tiếng Nôm (tức tiếng Việt nguyên thủy “bung, bùng, bụng”), có nghĩa là nơi “phình ra”. Từ này được sử dụng ở miền nam từ lâu, chỉ những nơi ngả tư, ngả năm… đông đúc xe cộ lưu thông. Thời Pháp, gọi đó là “rond point”, dịch đúng là “điểm tròn”, dịch nghĩa là “vòng xoay”.

Từ “vòng xuyến” là một từ không có trong tự điển (để chỉ “rond point”). Đây là thứ trang sức để đeo tay. Không biết từ khi nào được sử dụng để chỉ cho “xòng xoay” ở ngoài Hà Nội. Vấn đề là ngoài bắc muốn xài từ (sai bét) này thì cứ việc xài, không ai (cần thấy) phải có ý kiến. Người ta phản đối là từ này áp đặt cho miền nam.

Thí dụ khác, tùy theo miền, cách phát âm các từ sau đây khác nhau: chính-chánh, nhứt-nhất, sơn-san, trường-tràng, thái-thới, tông-tôn, vũ-võ, huỳnh-hoàng… Cách viết nào đúng?

Trước 75 ở miền nam, cả hai cách viết điều đúng, vì có cùng một ý nghĩa. Bởi vì “chữ viết”, tức chữ quốc ngữ, chỉ là chữ “ghi âm” mà thôi. Dân mỗi miền có cách phát âm khác nhau. Nếu nhìn nhận nhau là “đồng bào” thì dân miền nào cũng có tư cách như nhau, đáng được tôn trọng như nhau.

Vậy tại sao lại sửa “Tân sơn nhứt” thành “Tân sơn nhất”? Cách viết “Tân sơn nhất” sai tới hai lần. “Tân sơn nhứt” là tên địa danh, tức danh từ riêng. Lý do gì anh đổi tên của người ta? Cái sai thứ hai là áp đặt cách phát âm bắc kỳ trong khi chưa có sự chuẩn thuận của toàn dân.

Về chính trị, nạn kỳ thị thể hiện rất sâu sắc nơi dân nam kỳ, nhứt là dân ở miệt đồng bằng sông Cửu Long. Dân ở đây hầu hết là “dốt”, bởi vì đầu tư vào giáo dục nơi các tỉnh này chí ít. Dân nơi đây chuyên làm ruộng. Chủ trương dân cộng sản bắc kỳ là hãy để cho chúng tiếp tục dốt để làm ruộng, không phải tốt hay sao?

Ngay cả hạ tầng cơ sở, vụ hạn hán năm ngoái mới thấy hệ thống nước uống ở đây vẫn là “lu nước sau hè”. Những cái giếng nước máy, xây từ thời ông Diệm, cái mất, cái còn.

Đường xá thì vẫn muôn thuở là con đường làng, những cây cầu khỉ. Nếu không có bọn “đỉ điếm cặn bã xã hội” về bỏ tiền xây cầu “từ thiện” thì không biết bao giờ “cầu khỉ” mới hết.

Sự kỳ thị thể hiện qua bất kỳ các chính sách nhà nước.

Chủ trương “bắc kỳ hóa” tất cả, từ chính trị, kinh tế cho tới văn hóa, giáo dục, phong tục tập quáng trong xã hội. Nhân danh tẩy xóa “văn hóa đồi trụy, tàn dư mỹ ngụy”, mặc đồng phục một thứ văn hóa cứt lợn, thực ra không phải Bắc Kỳ, mà là văn hóa ngoại lai mác xít lê nin nít.

Dân bắc kỳ nắm quyền hành từ khắp hang cùng ngõ hẻm. Chỗ nào cũng có dân bắc kỳ nắm quyền lãnh đạo.

Vấn đề là họ đã thất bại thê thảm, từ mọi lãnh vực văn hóa, kinh tế, xã hội… Đất nước nghèo hèn, con người bần tiện. Lãnh đạo đi đâu cũng ngữa nón ăn xin thì dân chúng, trai làm nô, gái làm đĩ. Họ đào tạo “những hạt giống đỏ” để trở thành người lãnh đạo, nhưng rặt toàn những thứ vô liêm sỉ, ra nước ngoài thì ăn cắp vặt. Trong nước thì ăn của dân không từ một thứ gì.

Nếu so với miền nam tới năm 75, dân Nam kỳ tuy không biết lý luận nhưng họ biết làm. Họ đã xây dựng một đất nước huy hoàng không hề thua kém Nam Hàn, Thái Lan… Thậm chí Singapore thời đó Lý Quang Diệu còn ao ước sao cho bằng Sài gòn.

Không có chính sách nào hữu hiệu để chia rẽ dân tộc bằng cách xóa bỏ căn cước, chia rẽ vùng miền, thiên vị vùng miền, hay áp đặt văn hóa của miền này cho miền khác hết cả.

Nhưng khi ông Trọng thắng thế trong công cuộc “đốt lò”, phe cánh miền Nam trong đảng bị cô lập, hay bị tiêu diệt. Nạn kỳ thị sẽ bộc phát với hai phe: phe Bắc kỳ cai trị và dân Nam kỳ bị trị.

Điều này chỉ có lợi cho các phe phái, các thế lực ngoại bang (như TQ, Campuchia…) muốn VN sớm phân rã bởi các nhóm chủ trương “ly khai”. VN yếu thì lãnh thổ sẽ bị phân liệt.

Bình Luận từ Facebook

3 BÌNH LUẬN

  1. Ông Tuấn nói cứ như người trên trời rơi xuống: Võ Văn Kiệt, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng đều là người miền Nam hết, ông mù mắt hay sao?

    Nguyễn Tấn Dũng bán cả nước vào tay TQ bằng các hợp đồng kinh tế. Ông Tuấn nói thì phải nghĩ với chớ. Chỉ có dân miền Nam mới phá nhanh và phá mạnh, phá nát VN nhanh được như vậy, dân Bắc như ông Duẩn, ông Giáp, chống Tàu đến cùng.

    • Trong bài chủ này, tác giả Trương Nhân Tuấn nói tới chức vụ Tổng Bí Thư đcs VN, mà trước ĐH đảng 12, chính đương kim TBT Nguyễn Phú Trọng đã có câu: TBT phải là người miền Bắc có lý luận!

  2. “Mỗi vùng miền đất nước VN đều có cái ‘ngọng’ dễ thương khác nhau, do đó một thời ai đó có ý tưởng lấy giọng Hà Lội làm phát âm chuẩn cho cả nước hầu giữ gìn sự trong sáng cho tiếng việt. Và đây là một trong vô số đặc cách:

    Hai chú Bắc kỳ được chuyển công tác vào Nam. Một hôm gặp nhau trước chợ Bến Thành. Chú A tò mò hỏi chú B:

    – Đồng chí ôm bọc gì đấy?

    – Đố biết. Thử đoán xem.

    – Mấy thước nụa?

    – Không phải.

    – Mấy nít diệu.

    – Cũng không phải.

    – Mấy cái nọ thủy ting.

    – Sai.

    – Mấy nô thuốc ná Nạng sơn ở ngoài mìng vào chứ gì?

    – Vẫn sai.

    – Mấy cái lồi nẩu.

    – Cũng sai.

    – Nạ nùng, nạ nùng… Không phải nụa, không phải nít diệu, không phải nọ thủy ting, không phải thuốc ná Nạng sơn, cũng chẳng phải lồi nẩu… Khó quá, xin chịu thua nuôn.

    Chú B thấp giọng lên lớp:

    – Đồng chí phải cẩn thận, vào đây phải giữ gìn, phải cố gắng khắc phục khi phát biểu, đừng dùng sai vần “Lờ” và vần “Nờ”. Người ta cười cho bỏ xừ.

    – Xin ghi nhận. Nhưng đồng chí ôm bọc gì thế kia, cho tôi biết được không?

    – Lào có gì đâu. Toàn nà tư niệu học tập Nê-lin-lít về vai chò nãnh đạo chong công tác nao động cho lăm lăm tới.

    (Nguồn: Vũ Thế Phan)

BÌNH LUẬN

Xin bình luận ở đây
Xin nhập tên của bạn ở đây