Những ngày tháng cũ (20/7/1954 – 20/7/2017)

Nhật Tiến

Đọc để nhớ lại những ngày đầu tiên mới vô Nam

20-7-2017

Nhà văn Nhật Tiến

Vậy là nhà giáo Trần Nhân Thế đã ăn cái tết thứ ba ở miền Nam kể từ sau ngày đất nước bị chia đôi, 20 tháng 7 năm 1954. Hai cái tết đầu tiên thì Thế còn ở ngay tại thủ đô Sài Gòn.

Nóng đến chẩy mỡ. Chẩy mỡ thứ thiệt chứ chả phải ví von gì. Thế còn nhớ căn buồng lụp sụp thuê ở gần chợ Bà Chiểu, cách Lăng Ông chỉ một thôi đường nếu ngồi trên xe thổ mộ. Buồng đã hẹp, lại mái lá lụp sụp tưởng như úp ngay trên đầu. Giơ cao tay lên là có thể sờ thấy những gióng tre, gióng nứa đan kết với nhau để đỡ lấy những mảng lá gồi. 

Hôm hăm tám tết, đến chơi nhà thằng bạn, nó cho hẳn nửa ký lạp sường. Thế đem về treo ngay ở góc buồng (đồ đạc chẳng có, lấy gì có chạn để đồ ăn). Thế là dưới cái nắng chói chang của những ngày giáp tết, mỡ trong lạp sường cứ nhỏ tong tỏng xuống nền đất nứt nẻ. Khi Thế phát hiện ra thì mấy cái lạp sường đã teo quắt lại, lớp bao bên ngoài thì nhăn nhúm, có chỗ vênh lên như đóng thành vẩy. Ui chao là tiếc xót!

Nhưng cũng chính anh bạn này, tên Khang, đã dẫn dắt Thế ra khỏi thời kỳ túng quẫn. Một hôm Thế tới chơi nhà Khang ở đường Galliéni, cái đại lộ rộng thênh thang nối Sài gòn với Chợ Lớn hồi đó vẫn còn cả đường xe điện chạy ở chính giữa, nhìn vẻ mặt vêu vao hốc hác của Thế, Khang nheo mắt hỏi:

– Vẫn chưa có việc hả?

Thế nhún vai thở dài:

– Chả quen ai, chả nhờ được ai. Cái thế giới Sài Gòn rộng rãi và xô bồ đến rùng rợn này, mình chỉ như con kiến bò xoay quanh.

Khang cười:

– Vậy cậu có chịu bò đi xa không? Trong này người ta gọi là xuống miệt vườn đó. Dám đi không?

Thế nhìn Khang hơi nghi ngờ, nhưng chỉ là thoáng qua vì quen thân với hắn từ những ngày mài đũng quần ở trường Chu văn An Hà Nội, Khang tuy hay cười cợt, khôi hài nhưng chỉ là những thứ tào lao thôi. Chứ cái chuyện cơm áo chết người này, Khang đủ tế nhị để không đùa giỡn, nhất là trong hoàn cảnh cùng kiệt của Thế như bây giờ. Thấy Thế còn tần ngần, Khang giảng giải:

– Tao có thằng cháu họ xa, cũng mới di cư vào, được gia đình cấp cho ít vốn làm ăn. Nó định xuống Lục tỉnh mở trường. Mày chịu đi theo để dạy cho nó mấy lớp không?

Mắt của Thế sáng lên:

– Ô! Dạy học thì “chúa” quá rồi! Mấy năm làm précepteur (trợ giáo) ở Hà Nội tao cũng khối kinh nghiệm.

Khang tiếp:

– Trường của nó định mở mãi tuốt dưới miệt vườn Bến Tre cơ đấy.

Thế không ngạc nhiên:

– Thì mới … ra lò, làm sao mà dám chen chân ở ngay Sài Gòn được!

Khang cười:

– Cậu nghĩ đúng. Trường nhỏ thôi, chỉ có mỗi hai phòng, mở được bốn lớp. Sáng mở Ðệ Ngũ, Ðệ Tứ, chiều mở Ðệ Thất, Ðệ Lục.

Thế chưa thể hình dung ra ngôi trường chỉ có hai phòng học nó sẽ ra hế nào, nhưng cũng nói buông xuôi:

– Tính thế là phải. Tuần tự nhi tiến mà…

Khang hỏi:

– Nếu mày chịu thì đi. Mà chịu dạy nổi đủ các môn không?

Thế trố mắt:

– Trường chỉ có… một thầy thôi à?

Khang vội vã cải chính:

– Không…không…Cũng có thầy dạy từng môn như các trường khác chứ! Nhưng điều thằng Phú nó cần là phải có người thường trực để dạy trám. Trường ở xa, thầy ở Sài Gòn xuống dạy theo giờ sẽ có lúc nghỉ bất tử, không lẽ cho học trò ngồi chơi xơi nước.

Thế hiểu ra liền đáp:

– Tao … trám môn gì cũng được, trừ Anh văn!

Khang cười:

– Không! Nó chỉ kỳ vọng mày “chơi” được Sử Ðịa, Vạn Vật hay Công Dân Giáo Dục lăng nhăng thôi… Anh văn thì có đứa lo rồi.

Thế cười bẽn lẽn:

– Tao cứ nhớ thầy Hoạch hồi dạy Anglais Vivant cuốn Sixième Bleu. I am the master….you are the pupil....lưỡi của tao cứng như gỗ, bây giờ vẫn còn ngán!!!

Thế là sau mùa hè năm ấy, Thế khăn gói quả mướp xuống Rạch Xoài, Bến Tre mở đầu cho sự nghiệp nhà giáo của mình.

Người cháu họ xa của Khang tên Phú. Người cao ráo, khỏe mạnh, khá đẹp trai tuy trán hơi thấp và giọng nói quá rành rọt khiến cho những nét tình cảm bị làm cho nhẹ đi. Ðiểm đáng chú ý nhất nơi Phú là cặp mắt sắc như dao nhìn ai cũng lộ vẻ thẳng thắn, trực diện và cái cầm hơi bạnh ra khiến Phú mang đầy vẻ vừa cương quyết vừa sẵn sàng sốc tới. Sau nhiều tháng lui tới giao dịch với chức sắc và các hào phú địa phương, Phú đã dựng xong cho mình được một cơ ngơi tạm gọi là được mắt. Ðấy là ngôi trường trung học tư thục đầu tiên thuộc xã Tân Thới, Quận Trúc Giang, tỉnh Bến Tre sau đổi là Kiến Hòa.

Ngôi trường này nguyên là một gian nhà lồng chợ bị bỏ hoang lâu ngày vì dân buôn bán đổ hết ra bến phà Rạch Xoài nơi có đông khách qua lại, lui tới. Phú cho sửa sang lại, ngăn vách thành 3 căn rộng rãi, 2 căn làm phòng học, 1 căn ở rìa thì phía ngoài làm văn phòng nhà trường, phía trong là căn buồng rộng kê đủ bốn năm cái ghế bố cho các thầy ở Sài Gòn ăn ngủ khi về dạy một hai hôm luân phiên cho tới hết tuần. Ngay đằng sau trường là một đường mương, nước lên xuống theo thủy triều, mọi thứ nước ăn uống, tắm giặt đều từ đường mương ấy múc lên, đổ vào một cái thống thật to đặt sau một cái nhà tắm được quây bằng 4 vách gỗ. Cầu tiêu công cộng thì ở mãi đằng xa, vắt vẻo trên một tấm sàn gỗ cao lênh khênh do một cái cầu khỉ cheo leo gập ghềnh đưa tới. Phía dưới cầu là một cái ao nuôi cá tra. Những con cá mập mạp cứ bu quanh mấy gian chuồng cầu, thỉnh thoảng lại quẫy nước và tung mình lên, phô lớp da ướt nhẫy, trắng xóa. Sống lâu ở đây, riết rồi Thế cũng thấy cá tra là món ăn bình dân, rẻ tiền và khoái khẩu!

Cầu cá

Tuy nhiên điều tuyệt vời nhất ở đây là cả một rừng dừa. Dừa hai bên lối đi, dừa bao quanh những mái nhà tranh nghèo nàn, lụp sụp, dừa lan tràn khắp những mảnh vườn có những lối đi quanh co, có những đường mương len lỏi chạy theo. Thì ra mương nước khắp nơi là để nuôi dừa. Hằng năm tới mùa nước lợ, do muối biển tan vào, nước múc ở mương lên dù đun sôi, pha trà cũng còn thấy vị ngang ngang, lợ lợ.

Học trò ở đây đa số là gia đình nghèo. Nhiều nữ sinh còn đi chân đất, bận áo bà ba, quần thâm, tóc kẹp ngang gần sát gáy. Nam sinh thì lam lũ đủ kiểu, lắm khi vào lớp chân tay còn dính bùn đất vườn ruộng. Nhưng tâm tình của chúng nó thì khỏi chê. Chân chất, thật thà và quý trọng thầy giáo hết mực. Thỉnh thoảng Thế lại được học trò dúi cho nửa chục trứng gà, một chùm chôm chôm hay có khi cả một nải chuối vàng rụm. Hôm gần giáp tết, có đứa chặt nguyên một cây mai vàng chi chít nụ khệ nệ khiêng tới, miệng ngỏn ngoẻn:

– Biếu thầy trưng Tết!!!

Thế la lên;

– Ui giời ơi! Sao mà phí thế! Cả cây mai này để nguyên gốc thì bao nhiêu là tiền.

Nó đáp thản nhiên:

– Nhà em có cả một vườn, hôm nào chúng em dẫn thầy vô con đường đi Quới Sơn. Mai cấp nầy nở bạt ngàn.

Cành mai to tát ấy, Thế đem chưng ngay ở cửa vào “văn phòng” nhà trường. Nhưng chắc tết nhất ở đây sẽ buồn so vì học trò sẽ nghỉ hết, còn bọn bạn bè dạy chung với Thế cũng đều về ăn tết ở Sài Gòn. Chỉ có mỗi mình Thế, bản thân không có gia đình thân thuộc là ở lại “thủ trường” mà thôi.

Từ hôm hai mươi Tết, Phú đã ra nhiều lần thông cáo tới các lớp là học trò phải đóng tiền trường sớm hơn mọi khi để cho các thầy ăn tết. Nhưng mỗi buổi chiều khi học trò về hết, mở cuốn biên lai học phí ra, thấy chỉ lác đác có vài đứa đóng tiền, còn thì gần như đa số chưa thấy có gì nhúc nhích. Người lo nhất là ông Cư, người địa phương được thuê làm Thư ký văn phòng. Ông Cư người thấp bé, da ngăm ngăm, năm nay dễ ngoài năm mươi rồi. Vậy mà ông mới cưới vợ và đã có một thằng Cu. Trong lúc rảnh rỗi, ngồi trò chuyện với Thế, ông cứ mơ ước:

– Tết này lãnh lương xong tôi phải qua chợ Mỹ Tho mua một bộ đồ mới cho thằng cu con. Nó lên một. Tôi đã nhắm rồi, có một bộ bán ở đường Hùng Vương, nó mà bận vô, nom ngộ lắm!

Niềm mơ ước của ông Cư cứ theo năm cùng tháng tận và với cuốn sổ biên lai học phí còn dầy cộm chưa xé được nhiều mà tan dần. Trong tình trạng đó, Phú cũng cứ tất tả ngược xuôi trên những chuyến xe lô Minh Chánh đường Sài Gòn-Mỹ Tho để lo chạy tiền trả lương nhân viên và các thầy giáo. Nhưng mọi khả năng của Phú đã đổ dồn vào tiền thuê mướn trường cùng với những chi phí đóng bàn ghế học trò, sửa sang phòng ốc hết rồi. Cho nên đến hôm có buổi học cuối cùng trước khi học trò nghỉ tết, Phú gọi riêng Thế ra một góc thì thào:

– Chả có thêm đứa chó nào chịu nộp tiền trường hết. Chúng nó nghèo mình cũng đành chịu vậy thôi. Tớ còn có gần trăm bạc phải đưa hết cho ông Cư để ông ấy đong gạo cho gia đình. Riêng phần cậu, để về Sài Gòn nếu vay đâu được, tớ sẽ cầm xuống ngay cho cậu tiêu tết.

Thế cười buồn, giọng thông cảm:

– Thôi không sao đâu, trong sạp còn gạo với chai nước mắm. Ðủ sống sót rồi.

Chiều hôm ấy, giáo chức cả trường đều đã về Sài Gòn, học trò cũng đã tản đi hết, chỉ còn trơ ngôi trường vắng lặng dưới bóng dừa xanh mát cùng với Thế và ông thư ký Cư. Thấy ông cứ tần ngần chưa chịu xếp dọn đồ đạc về nghỉ, Thế nói:

– Ông về sớm lo chuyện tết cho gia đình đi. Mọi thứ trông nom ở đây có tôi đủ rồi.

Ông Cư rơm rớm nước mắt:

– Tôi tưởng sẽ có tiền thì qua bên Mỹ Tho mua cho thằng nhỏ bộ quần áo mới. Nhưng bây giờ thì… chẳng cần qua nữa rồi.

Nghĩ đến ước mơ của một con người lớn tuổi, nó chẳng lớn lao gì, chỉ là một bộ quần áo mới cho đứa con đầu lòng, vậy mà vẫn lo chẳng xong, Thế bỗng mủi lòng nhìn ông:

– Sao lại không cần nữa. Cả năm bây giờ mới có dịp sắm cho thằng cu chút đỉnh, ông bỏ qua sao được! Tôi biết là ông Phú kẹt tiền, chưa trả lương cho ông. Nhưng đây này. Ông đem cái đồng hồ của tôi đi cầm ở bển, loại Oméga cơ đấy, chắc cũng được trăm bạc dư mua được bộ đồ với cả dưa hấu lẫn bánh tét.

Ông Cư hốt hoảng la lên:

– Chết! Làm vậy đâu được, thầy! Tôi đời nào dám thế.

Thế gạt phăng đi:

– Ui, ông chỉ vẽ vời. Tôi ở đây có một mình, học trò lại nghỉ, có cần giờ giấc gì đâu. Mai mốt học trò trả tiền trường, mình lại đi chuộc về có sao đâu.

Phải thuyết phục mãi ông Cư mới nhận chiếc đồng hồ do Thế tháo ra từ cổ tay của mình. Lúc ông ấy lủi thủi đi dưới rặng dừa ra đường cái dẫn tới bến phà, lòng Thế bỗng dâng lên một niềm vui khó tả khi nghĩ tới đứa con đầu lòng của ông chúm chím cười trong bộ đồ mới và vợ chồng ông hẳn cũng chan hòa vui sướng để đón một mùa xuân mới đang rộn rã trở về.

Hai mươi chín Tết, chỉ còn có mỗi mình Thế trấn thủ trong ngôi trường rộng thênh thang như cái nhà lồng chợ này. Khi Phú mới tiếp thu để sửa nó lại thành trường học thì bốn bề chung quanh chỉ có những cột gạch chống đỡ cái trần khá cao với những rui kèo gỗ được lợp thêm những tấm tôn lượn sóng làm mái che. Vào những ngày mưa, nước mưa dội lên mái thành thứ âm thanh rộn rã lắm khi to đến độ át cả tiếng giảng bài. Ấy vậy mà nay ngôi trường cũng đã kha khang trang với cái biển gỗ treo ở phía mặt tiền nhìn ra sân cỏ trước cổng trường, cũng sừng sững những hàng chữ sơn đỏ kẻ trên nền trắng: “Trường Trung Học Cửu Long” nghe rất kêu và nom rất đồ sộ.

Do một sự tình cờ mà tổng số nhân viên thuộc ban giảng huấn lại cũng lên tới chín người, không kể ông Cư, viên thư ký già là người địa phương. Trong chín người đó đã có tới bẩy người là sinh viên đại học Sài Gòn. Có hai anh theo ngành Luật, một anh ngành Dược, một anh Toán Ðại Cương, ba anh còn lại là sinh viên Văn Khoa. Họ xuống trường dạy, có người chỉ một hôm, nhiều nhất là hai hôm là đã hết giờ và lại dông tuốt về Sài Gòn. Phú tuy không còn là sinh viên nhưng cũng chỉ lưu lại trường mỗi tuần có 5 buổi. Bao giờ cứ đến chiều thứ Sáu là anh ta cũng quay về Sài gòn với gia đình mãi đến sáng thứ Hai mới lại mò xuống.

Như thế, chỉ còn có mỗi mình Thế là gắn bó với ngôi trường hết ngày này qua tháng khác. Chàng chẳng có ai ở Sài Gòn để mà chờ mong, cũng chẳng ghi danh theo một phân khoa nào để có lớp phải tham dự. Sau hơn một năm lặn lội trên thành phố, Thế chẳng kiếm ra được việc gì. Chàng đã đủ xơ xác để phó mặc cho cuộc đời đưa đẩy mình như một thứ bèo giạt mây trôi.

Có lần một anh trong đám giảng dạy tẩn mẩn phát hiện ra cả bọn bao gồm tới chín tên, bèn róng lên một câu thơ:

Cửu Long có chín con rồng

Con nào con ấy chẳng khùng thì điên.

Rồi hắn tiếp:

– Có khùng thì mới nghe lời thằng Phú chịu mò xuống cái chốn khỉ ho cò gáy nàỵ

Thế nhún vai:

– Các cậu chẳng khùng đâu. Vài năm nữa ra trường rồi thì sức mấy còn nhớ tới ngôi trường hẻo lánh này. Chỉ có tớ là chôn chân ở đây thôi.

Phú an ủi:

– Con gái Bến Tre tuyệt lắm đó. Lại làm rể một ông điền chủ nữa thì còn hơn là trúng số.

Thế mỉm cười, tuy lòng chẳng vui mà cũng chẳng buồn. Kể từ khi rời Hà Nội để di cư vào Nam, Thế coi như một cuộc đổi đời tức là đi vào một ngã rẽ mới. Như vậy thì dù là cư ngụ ở Sài Gòn hay Bến Tre, hay bất cứ một nơi nào khác, đối với chàng cũng đều là mới như nhau cả. Hơn thế nữa, nhớ đến cái nắng miền Nam chói chang trên những đường phố Sài Gòn, Thế lại thấy thích thú bầu không khí mát mẻ với chung quanh là cả một rừng dừa bát ngát như ở đây.

Cho nên, mỗi khi các bằng hữu rút cả về Sài Gòn thì Thế ở lại coi trường và bầu bạn với những cuốn sách. Thỉnh thoảng lại có vài đứa học trò ghé vào ngồi chơi, chúng nó truyền đạt cho Thế đủ thứ chuyện mới lạ mà chỉ khi vào Nam, Thế mới được biết. Ngộ nghĩnh nhất là chúng nó nhận mình là người Việt, còn Thế và các thầy xuống đây dạy học đều là người Bắc cả!

Chẳng hiểu do nguồn cơn nào mà dân cư ở đây và ngay cả nhiều người ở những nơi khác, lại có cái sự phân biệt rạch ròi đến thế. Cứ như miền Bắc là một quốc gia khác vậy. Có lẽ cũng vì lý do đó mà Thế giành lấy môn Sử, Ðịa để dạy ở tất cả các lớp. Thế chép miệng tự nhủ:

– Tuy không coi Bắc kỳ di cư là người Việt nhưng cả miền Nam vẫn cứ mở rộng vòng tay ra đón tiếp những kẻ ồ ạt bỏ xứ mà đi. Vậy mới thấy dân trong Nam rộng rãi, hào sảng đến thế nào.

Những ngày còn ở Sài Gòn, Thế lại gặp một số người Nam không coi Bắc kỳ là một xứ khác. Nhưng họ lại hậm hực:

– Cả nước đã độc lập rồi, sao không ở ngoải, vô đây làm chi?

Thế mỉm cười:

– Thì di cư chạy nạn Cộng Sản mà.

Kẻ đối đáp chỉ ném cho Thế một cái nhìn thờ ơ, chứng tỏ họ chẳng biết Cộng Sản là gì và cũng chẳng cần quan tâm đến chuyện ấy. Ðiều quan trọng đối với họ chỉ là: Cả nước đã độc lập rồi, sao không ở ngoải, vô đây làm chi! Như vậy thì có tranh luận đến cả ngày thì cũng chẳng ai chịu ai.

Nói cho ngay, năm nay Thế mới chỉ hai mươi hai tuổi. Và chính chàng tự nguyện vô Nam cũng đâu chỉ vì quá sợ hãi Cộng sản. Thế chưa từng có chút kinh nghiệm nào đối với chế độ độc tài đảng trị. Chuyện đấu tố ở miền Bắc năm 1953 thì chàng có nghe nói tới, nhưng chưa đủ thực tế để mình quyết tâm khăn gói ra đi.

Ở cái tuổi trên dưới hai mươi, hễ cứ được đi là thích rồi. Xa Hà Nội thì Thế nhớ lắm chứ, nhưng đi hai năm rồi sẽ quay trở lại mà. Hiệp định Genève chẳng đã quy định qua năm 1956 thì có tổng tuyển cử để thống nhất đất nước đó sao. Lề lối suy nghĩ này có lẽ áp dụng được cho hầu hết giới trẻ bỏ miền Bắc chạy vô Nam. Chỉ có những người đã có thân nhân hay người quen thuộc chết trong những cuộc đấu tố thì mới nhìn rõ chân tướng Cộng Sản trong thời kỳ đó mà thôi!

***

Chiều Ba mươi Tết, đường trong thôn xóm đã vắng hoe bóng người. Lúc chập choạng tối, Thế lấy chiếc đèn măng-sông xuống để đốt. Ðây là thứ đèn ở miền Bắc chưa hề có. Nhưng chàng phát hiện dầu hôi bên trong đã hết, mà ngay đến cả cái ve đựng cồn 90 độ làm mồi châm cái tim đèn cũng đã cạn queo. Chàng bối rối chạy ra trước cổng trường, tính gọi cửa nhà thím Tư ở ngoài đầu đường cái, nhưng sau nghĩ lại, năm hết tết đến, chẳng nên vay mượn xin xỏ ở nhà người ta làm gì, nên chàng lại lầm lũi quay trở vào, mò mẫm trong mấy cái thùng gỗ dưới gậm ghế bố và moi ra được mấy mẩu nến cháy giở.

Thế là chàng cũng có đôi chút ánh sáng leo lét trong căn buồng chỉ trơ toàn vách gỗ, chẳng ban thờ tổ tiên, cha mẹ, chẳng hương hoa cúng bái, mà cái điệu này, với vài cây nến giở giang chẳng chắc gì đủ cháy cho đến lúc đón giao thừa. Cũng may mà Thế đã ăn đủ mấy bát cơm nguội từ hồi chiều. Giờ này, chắc chỉ vài cái quán bên bến phà còn mở cửa, nhưng Thế biết rõ tình trạng cái ví xẹp lép của mình. Hơn một tháng nay, Thế có nhận được đồng lương nào từ tay Phú trao cho đâu!

Chàng ngán ngẩm hết đi ra lại đi vào, mở cuốn sách ra tính đọc thì ánh lửa chập chờn leo lét khiến cho những hàng chữ cứ như nhẩy múa trên trang giấy, càng chăm chú đọc bao nhiêu càng thấy chóng mặt, nhức đầu bấy nhiêu. Cuối cùng, Thế leo leo ghế bố nằm duỗi dài, hai mắt nhắm nghiền để hình dung lại những ngày Tết rộn rã ở khung trời Hà Nội với những thiếu nữ mặc áo nhung đỏ, đeo kiềng vàng nở những nụ cười hồn nhiên trong khói pháo mờ mịt. Những thứ ấy bây giờ tưởng như đã xa lắc trong quá khứ.

Rồi bỗng Thế chợp đi từ lúc nào cho đến khi chàng chợt nghe thấy tiếng guốc gõ lóc cóc trên lớp sàn gạch bao quanh các lớp học, dưới mái hiên trường. Có tiếng của ai đó cao giọng gọi tên chàng làm mấy con chó ở khu xóm gần bên sủa lên ầm ĩ:

– Thầy Thế ơi! Thầy Thế ơi! Ui chu choa, sao đèn đóm gì mà tối thui như vầy nè.

Thế choàng dậy, chạy vội ra thì thấy một người đàn ông dáng dấp to béo bệ vệ, bận một bộ đồ pyjama bằng lụa trắng đang đứng ngay trước cửa văn phòng. Ông ta giới thiệu ngay:

– Tui là Ba Diêu ở xóm trỏng. Hồi chiều qua bắc, đi cùng với thầy Phú sang Mỹ Tho, nghe thầy Phú nói là học trò chậm đóng tiền trường nên các thầy hổng có lương lậu gì hết ráo. Ổng có nhờ tui nếu có tiền thì đem vô trường đưa thầy tiêu tết rồi qua Giêng ổng hoàn trả. Tui kẹt ở bển mãi giờ này mới về, vội mang chút đỉnh tới đưa thầy tiêu tết đây.

Vừa nói, ông ta vừa móc túi áo moi ra một sấp giấy bạc:

– Có hai trăm đây, thầy cầm giùm rồi khi gặp thầy Phú, nhớ nói là tui đã giữ lời hứa mang vô cho thầy rồi nha.

Thế giơ tay nhận tiền mà lòng chưa hết những xúc cảm bùi ngùi. Hai trăm bạc ở thời buổi này là khá to. Ông Ba Diêu lại chưa gặp Thế bao giờ. Vậy mà cứ nghe nói tới hai tiếng “thầy giáo” là ông ta tin cậy ngay, sốt sắng đem tiền tới, mặc dù chỉ căn cứ trên một lời nhắn vớt của Phú lúc đứng trên phà qua sông. Người miềm Nam, miệt vườn chân chất và hào sảng thế đấy!

Chàng cảm động, tần ngần nói:

– Xin cám ơn ông Ba Diêu nhiều lắm. Nhưng thế này thì chúng tôi làm phiền ông quá.

Ông Ba cười để lộ ra cả mấy chiếc răng vàng:

– Chi mà phiền. Chỉ có điều là quán hàng đóng cửa gần hết, chắc phải vài ba ngày nữa thì thầy mới có dịp xài tới. Thôi chúc thầy ăn tết vui vẻ, tui còn phải về kẻo má sấp nhỏ mong.

Nói rồi ông ta vội vã quay ra, biến nhanh vào bóng tối cũng lẹ làng như khi xuất hiện. Thế vội vã chạy theo tiễn chân ra tận cổng trường, mặc dù ông ta chẳng có dịp quay đầu ngó lại. Thuận chân, Thế bước ra ngoài đường cái và lần theo con đường khấp khểnh ấy để đi ra ngoài bến phà.

Vào giờ này, hầu hết các quán hàng đã đóng cửa để ăn tết. Bến phà vắng tanh, hai cái phà lớn đang im lìm trong bóng tối như nằm nghỉ ngơi nghe tiếng sóng vỗ róc rách ở hai bên mạn sườn. Chỉ có vài chiếc đò máy là thấy còn ánh đèn leo lét chờ khách về muộn qua sông. Thế len lỏi đi qua những dẫy sạp gỗ của khu chợ mới và nhìn thấy một tiệm tạp hóa còn đang mở hé cửa. Chàng vội vã tiến tới và len vào. Chị Tư chủ tiệm nhận ra thầy giáo Thế liền đon đả:

– Ui, sao trễ rồi mà thầy chưa về Xì Gòn ăn tết vậy cà?

Thế mỉm cười:

– Tôi đón tết ở đây, tiện thể coi trường luôn.

– Vậy chỉ có mỗi mình thầy, buồn chết!

– Chả sao đâu. Cũng quen rồi. Tiệm của chị còn gì bán không?

Chị Tư ngước lên nhìn các thứ lủng củng đủ thứ đủ loại, như túi đựng vàng hương, túi đựng hoa nylon giả, lon nhựa, gáo múc nước, rổ rá rế… treo lủng lẳng trên những cái xà bắc ngang, chiếm gần hết khoảng trống trên cao của cái tiệm. Chị nói với Thế:

– Mấy thứ bánh tét, dưa hấu, mứt kẹo thì thầy phải vô chợ mới có. Mà cấp này thì họ về hết cả rồi.

Thế tần ngần:

– Nhưng hột vịt muối thì chắc ở đây có chớ?

Mắt chị Tư sáng lên:

– Ui, hột vịt muối thì đây thiếu gì…mà điều tết nhất …ai ăn hột vịt muối?

Thế mỉm cười:

– Cho tôi nửa chục đi. Qua mồng bốn Tết ra chợ kiếm các thứ khác ăn bù.

Chị Tư thích thú cái cách nói chuyện của ông thầy giáo, mắt chị hơi sáng lên và miệng thì mỉm cười. Trong lúc chị lui cui gói trứng, Thế lại hỏi:

– Ở đây có giấy hồng điều với mực lỏng viết chữ nho không nhỉ?

Chị Tư gật đầu:

– Mấy thứ ấy bán chậm, chỉ mấy ông đồ nho còn ưa xài. Nhưng tui cũng có đủ.

– Vậy chị lấy cho tôi 10 tờ giấy đỏ với ve mực tầu, luôn cả vài cây bút nho.

Rồi như chợt nhớ ra, Thế lại nói tiếp:

– Suýt nữa thì tôi quên. Cái đèn măng-sông của tôi cạn ráo cả dầu hôi lẫn cồn đốt. Chị cho thêm 1 lít dầu với một ve cồn đốt.

Chỉ một thoáng sau Thế đã khệ nệ bưng ra một túi đầy ắp những thứ cần mua. Trên con đường tối tăm khấp khểnh trở về, chàng bắt đầu nghe thấy có vài tiếng pháo đì đẹt của lũ trẻ trong xóm đang lúi húi đốt chơi với nhau ở dưới những rặng dừa, phía đằng sau là những căn nhà le lói ánh đèn và đâu đó đã có thoang thoảng mùi nhang khói bay lên.

Về tới trường, việc trước tiên là Thế châm dầu để đốt sáng cái đèn măng sông. Ðèn này mang nhãn hiệu Solar, có một bình dầu mang một cái bơm giống như cái ống thụt. Ở chính giữa, sau cái thông phong bằng thủy tinh khá dầy dặn hình ống là một cái bấc nom khum khum như hình cái túi to độ chừng vài đốt ngón tay. Thoạt tiên Thế phải nhúng vào cồn 90 độ một cái que có bịt vải ở đầu làm mồi lửa, rồi vừa lùa cái mồi lửa vào bên cạnh bấc đèn vừa bơm liên tục ống thụt như ta bơm xe đạp cho hơi dầu bốc lên. Chẳng mấy chốc cái bấc phựt lên, chiếu sáng cả một căn buồng rộng thênh thang, tỏa cả ra phía bên ngoài lan tới tận bờ mương. Vào thời kỳ ấy, ở đây chưa có điện nên các tiệm ăn, tiệm buôn bán đều xài thứ đèn này nhưng thuộc loại lớn hơn, mang nhãn hiệu Aida, khiến cho cả bến phà sáng rực rỡ như đã có điện.

Có được ánh sáng chan hòa rồi, Thế đặt nồi lên bếp cồn để nấu cháo. Chạn đồ ăn còn dư một tô đầy cơm nguội, Thế dùng cơm thay cho gạo nấu thành cháo. Thứ cháo này trong Nam gọi là cháo trắng, ăn với hột vịt muối hay thịt giò có xịt nước tương Tầu Vị Yểu thì hết chỗ chê. Từ khi xuống đây, Thế hay ra bến phà ăn cháo thay cho cơm chiều. Cháo ngoài bến phà thì thật tuyệt. Nó không loãng như cháo hoa ngoài Bắc mà trái lại, ăn rất sánh, vừa sánh vừa nhuyễn nhừ. Hôm nào rủng rẻng thì Thế gọi thêm đĩa thịt giò, nếu không thì một tô cháo, một quả trứng vịt muối cũng đã thấy tuyệt rồi.

Ðến gần nửa khuya, vào cái lúc những tràng pháo bắt đầu đì đẹt nổ ở nhiều nơi thì Thế biết là đã qua giao thừa. Chàng trải rộng tấm giấy hồng điều xuống sàn, đổ lon mực tầu pha lỏng sẵn ra một cái đĩa nhỏ, rồi ngồi suy nghĩ để khởi sự khai bút đầu Xuân.

Biết viết cái gì đây nhỉ? Thôi thì ngoạch đại vài câu thơ gọi là khai bút lấy hên, mặc dù thường ngày, Thế không phải là người sính thơ văn gì. Ngẫm nghĩ một chút, Thế chấm bút vào đĩa mực rồi phóng những chữ thật to xuống tấm giấy dưới sàn, nét chữ khá gọi là bay bướm:

Ðón Xuân có giấy hồng điều

Có dòng mực thắm, có nhiều ý thơ

Xa xa tiếng pháo Giao Thừa

Rộn ràng báo hiệu Xuân vừa mới sang.

Phóng tay Khai Bút vài hàng

Cầu cho ai cũng….huy hoàng hơn xưa!

 Ở dưới ký tên:

Giáo làng: Trần Nhân Thế

 Vậy là xong “thủ tục”, Thế nghĩ vậy rồi trong lúc chờ cho mực thật khô để treo lên vách gỗ, chàng mở vung nồi cháo múc ra một tô thật đầy và bóc trứng vịt muối ra ăn cùng với cháo.

Bây giờ thì Thế tiếc là mình quên mua một xị rượu đế. Tuy không phải là bợm nhậu, nhưng vào cái giây phút này mà nhấm nháp một chén để gây cảm giác ngà ngà thì cũng hay ho và nhất là dễ ngủ.

Nhật Tiến

(Trích bản thảo BÈO GIẠT MÂY TRÔI, chưa xuất bản)

Mời đọc tiếp Phần 2

Bình Luận từ Facebook